Cạnh tranh - một trong những đặc trưng của kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường vận hành trên cơ sở nguyên tắc tự cân đối giữa nhu cầu về một mặt hàng/sản phẩm cụ thể và khả năng cung ứng mặt hàng/sản phẩm đó đến tay người có nhu cầu vào một thời điểm nhất định, ở một địa điểm nhất định. Nhu cầu có thể nảy sinh từ những áp lực tâm sinh lý không rõ rệt bên trong mỗi cá nhân và xuất hiện "bất thần" ở một (số) thời điểm, địa điểm nhất định thành những mong muốn về một thứ sản phẩm vật chất hay dịch vụ nào đó. Ngược lại, năng lực cung ứng lại được xây dựng từ những yếu tố rất cụ thể có thể xác định, tính toán trước được và đòi hỏi những khoản đầu tư lớn về vốn, chất xám và thời gian. Mong muốn bán được hàng để thu hồi số tiền đã bỏ ra, tăng giá trị tài sản, trả lương, thưởng, bù đắp thời gian sức lực đã bỏ ra - gọi chung là vốn đầu tư - là nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp, cả những người cạnh tranh đúng đắn lẫn những người có hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Mong muốn này là hợp pháp, và hợp lý; tuy nhiên, biện pháp tiến hành có thể lại không hợp pháp.
Cạnh tranh là để hướng tới khách hàng, nhằm làm tăng thêm giá trị cho khách hàng và cho doanh nghiệp. Do có nhiều doanh nghiệp đồng thời cùng hướng tới một đối tượng, sự "thi đua", "cọ xát", "ganh đua", thậm chí "tranh giành" khách hàng là điều dễ xảy ra. Tính chất tích cực của cạnh tranh giảm dần từ "thi đua" đến tranh giành", trong đó "cọ xát" là khái niệm "trung tính" nhất. Cạnh tranh là thi đua, sự "cọ xát" giữa các doanh nghiệp là cơ hội để thể hiện tính ưu việt của sản phẩm/dịch vụ trong việc đáp ứng yêu cầu của người mua. Như vậy, người mua luôn có cơ hội gia tăng lợi ích (vì thế họ sẵn sàng chấp nhận, trả nhiều tiền hơn, gắn bó hơn với thương hiệu doanh nghiệp và nhãn hiệu sản phẩm), các doanh nghiệp có cơ hội so sánh, đối chứng để không ngừng cải tiến phương pháp sản xuất, sáng tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ hoàn hảo hơn, thông qua việc áp dụng kỹ thuật chuẩn đối sánh (bench-marking).Cạnh tranh, nếu được hiểu theo nghĩa tiêu cực là cách thức để giành lấy khách hàng bằng cách gây tổn hại cho đối thủ của mình, doanh nghiệp đã tự mình "đi lệch mục tiêu ban đầu”. Không doanh nghiệp nào được thành lập để nhằm tiêu diệt, loại trừ, hay gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác. Bởi bằng cách đó, người bị thiệt hại đầu tiên là doanh nghiệp, sau đó đến khách hàng và tiếp đến là đối thủ.
Trong mối quan hệ kinh doanh, doanh nghiệp không cố "tìm cách phá hỏng mối quan hệ với các đối tượng hữu quan", mà ngược lại phải cố "tìm cách củng cố và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với xã hội". Đối với doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, "xã hội" là một danh từ chung bao gồm sáu đối tượng hữu quan: doanh nghiệp (người lao động) - Nhà đầu tư – Khách hàng - Đối tác/đối thủ - Cộng động/xã hội - Cơ quan quản lý nhà nước. Đó là "6 vị khách ngồi cùng bàn tiệc xã hội của doanh nghiệp". Rõ ràng, sự tồn tại và giá trị của doanh nghiệp được quyết định bởi "6 vị khách" này. Áp lực cạnh tranh là từ các đối thủ thể hiện họ đang muốn "thế chỗ" của doanh nghiệp trong "bàn tiệc xã hội" này.
Trong mọi trường hợp, ý nghĩa tích cực của cạnh tranh thể hiện ở sự "thi đua" (competition cũng có nghĩa là thi đua) và sự "đối sánh" (bench-marking) để tìm ra những biện pháp hợp lý hơn, hiệu quả hơn. Khuyến khích cạnh tranh sẽ thúc đẩy cải tiến/đổi mới liên tục và để loại bỏ tình trạng "độc quyền", nhằm mang lại lợi ích cho nhiều người, cho cả hệ thống, cho "người sử dụng", và làm gia tăng phúc lợi xã hội. Do vậy, hành vi cạnh tranh phải được phán xét dựa trên những lợi ích/thiệt hại có thể gây ra cho các đối tượng hữu quan, cũng như trên cơ sở sự phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức phổ biến trong xã hội.
Tính đúng đắn và tính “hợp pháp” của hành vi cạnh tranh
Một hành vi cạnh tranh sẽ cần được đánh giá dựa trên những tiêu chí về ý nghĩa theo tác động/giá trị của chúng đối với các đối tượng hữu quan và về hình thức/hành vi theo chuẩn mực hành vi xã hội phổ biến.
Về ý nghĩa, một hành vi cạnh tranh sẽ được coi là đúng đắn và được mong muốn nếu đóng góp cho việc gia tăng lợi ích của các đối tượng hữu quan. Thông thường trong một hành vi cạnh tranh không trong thực luôn có ít nhất 3 đối tượng hữu quan: doanh nghiệp cạnh tranh không trung thực (doanh nghiệp chủ động) - doanh nghiệp bị cạnh tranh không trung thực (doanh nghiệp bị động) - người tiêu dùng. Đây là ba đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hành vi cạnh tranh. Một hành vi cạnh tranh không trung thực có thể mang lại lợi ích cho doanh nghiệp chủ động và có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp bị động. Người tiêu dùng có thể thu được lợi ích từ đó nhưng cũng có thể bị thiệt hại (trường hợp hàng giả, hàng nhái kém chất lượng). Điều ít được tính đến là hình ảnh/thương hiệu của các doanh nghiệp (chủ động, thụ động) và toàn ngành chắc chắn sẽ bị xấu đi. Nếu bị người tiêu dùng từ chối, việc cạnh tranh sẽ trở nên vô nghĩa. Xét rộng hơn nữa, hành vi cạnh tranh không trung thực còn gây ra nhiều vấn đề cho các đối tượng hữu quan khác: sự không chắc chắn cho đối tác, giá trị cổ phiếu giảm và khả năng khó thu hồi vốn cho chủ đầu tư, xã hội giảm niềm tin, những rắc rối hành chính và pháp lý phải xử lý cho Chính phủ.
Tính "hợp pháp" của một hành vi không phải đơn giản chỉ thể hiện qua việc "không làm điều gì đã được pháp luật quy định là không được phép". Xét về bản chất, đó là những hành vi được xã hội cho rằng "có thể chấp nhận được theo cách nhận thức phổ biến, chính thức của họ về hành vi trong các trường hợp tương tự". Một hành vi kinh doanh có thể được coi là không hợp pháp, nếu nó không đáp ứng những chuẩn mực chung, phổ biến, chính thức cho hành vi tương tự, trong các hoàn cảnh tương tự, theo cách hiểu của một đối tượng hữu quan. Như vậy, việc doanh nghiệp đảm bảo không vi phạm pháp luật mới chỉ là "yêu cầu tối thiểu để được chấp nhận về mặt xã hội”; để có được một vị trí chắc chắn trong mối quan hệ với các đối tượng trong xã hội doanh nghiệp còn phải làm nhiều hơn để xây dựng và định vị hình ảnh/vị thế của mình. Do mỗi đối tượng hữu quan có mối quan tâm khác nhau, có cách nhận thức khác nhau về lợi ích và hành vi, có mục đích khác nhau khi tham gia "bàn tiệc xã hội", tự nguyện hay cưỡng bức. Hành vi của doanh nghiệp sẽ được phán xét theo nhiều "bộ tiêu chí" (code of conduct) khác nhau. Sự hài lòng của các đối tượng là điều kiện đảm bảo sự tồn tại bền vững của doanh nghiệp trong hệ thống kinh tế - xã hội; ngược lại, sự không thỏa mãn ở một hay một vài đối tượng hữu quan sẽ dẫn đến rủi ro của việc bị thay thế hay làm tan vỡ mối quan hệ trong "bàn tiệc xã hội" của doanh nghiệp.
Từ những điểm phân tích trên, có thể rút ra kết luậnvề những yêu cầu cơ bản đối với bộ luật (chống) cạnh tranh (không lành mạnh) để có hiệu lực. Đó là: (l) đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các đối tượng hữu quan, (2) đảm bảo sự công bằng và bình đẳng, (3) có tác dụng ngăn ngừa và tác dụng điều chỉnh hành vi không đúng đắn, (4) góp phần tích cực cho việc phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội, mối quan hệ lành mạnh, văn minh.
Tại sao Luật cạnh tranh lại kém hiệu lực?
Luật cạnh tranh, số 27/2004/QHll, được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua vào tháng 12/2004 bao gồm 6 chương, 123 điều. Điều 4 Giải thích từ ngữ, Chương 1 về Những quy định chung, Mục 3 về Hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu rõ về quyền hợp pháp của doanh nghiệp trong việc cạnh tranh và hành vi cạnh tranh được coi là hợp pháp khi "không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng." Cũng ở mục này, điểm 3 trong Điều 3 cũng quy định "hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng."
Xét về mục đích, tất cả các bộ luật tương tự đều hướng tới việc bảo vệ lợi ích và quyền hợp pháp của những người hữu quan. Trong Luật cạnh tranh của nước ta, yêu cầu trên đây đều được nêu rõ và nhấn mạnh ngay từ những điều khoản đầu tiên của bộ luật. Nhưng dường như nội dung chưa làm rõ hoặc chưa đề cập một cách đầy đủ các đối tượng hữu quan, quyền hợp pháp và lợi ích cần được pháp luật bảo vệ của họ.
Xét về đối tượng hữu quan, mặc dù dược đề cập là những đối tượng chính cần được bảo vệ, thực tế các điều khoản trong bộ luật chủ yếu chỉ tập trung vào 2 đối tượng chủ yếu: tổ chức/cá nhân có hành vi cạnh tranh không lành mạnh - doanh nghiệp chủ động - và cơ quan quản lý nhà nước. Các đối tượng hữu quan khác như doanh nghiệp bị cạnh tranh không trung thực – doanh nghiệp bị động và nhất là người tiêu dùng, đã không được quan tâm thích đáng và không có những điều khoản cụ thể để bảo vệ họ. Đây không chỉ là một hạn chế dẫn đến việc khó đánh giá mức độ ảnh hưởng của hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của doanh nghiệp chủ động mà còn phản ánh tình trạng thiếu công bằng và được đối xử bình đẳng của bộ luật. Sự thờ ơ của những người hữu quan bị "bỏ rơi" - người tiêu dùng, doanh nghiệp bị động - là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng bộ luật không đi vào cuộc sống.
Xét về quyền hợp pháp và lợi ích của các đối tượng hữu quan, tại Điều 1 về phạm vi điều chỉnh có nêu: "Luật này quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, quy định, thủ tục giải quyết việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm luật cạnh tranh." Lấy ví dụ từ tình huống IBM kiện TELEX. TELEX bị "kiện" vì đã tìm cách thu thập thông tin bí mật của IBM theo con đường không chính thống, không được sự đồng ý của IBM, mặc dù không tham gia cạnh tranh với IBM, nhưng TELEX "đã thu hoạch những thứ không phải do mình bỏ công gieo trồng hoặc đã bỏ công không tương xứng để thu hoạch những thứ do người khác gieo trồng nhưng không/chưa dùng đến mà không được sự đồng ý của họ". Những "sản phẩm" thông tin thu hoạch được có nguy cơ trở thành "bí mật thương mại" nếu lại được TELEX hay đối tác của TELEX sử dụng để cạnh tranh trực tiếp với IBM. Số tiền 21,9 triệu đô la được tòa án (Mỹ) phán quyết là khoản tiền bồi thường mà TELEX (DN chủ động) phải trả cho IBM (DN bị động), được xác định trên cơ sở giá trị mà TELEX lẽ ra phải bỏ ra để “mua" thông tin bí mật của IBM theo con đường chính thống. Điều tương tự cũng đã xảy ra với Coca Cola và Pepsi Cola, khi Pepsi bị kiện khi tham gia vào thị trường nước giải khát có ga và cạnh tranh trực tiếp với Coca. Mặc dù có đủ bằng chứng để chứng minh trước tòa rằng, Pepsi đã tự tìm ra công thức cho thứ nước giải khát có vị gần giống nước giải khát Coca của mình, do đó không vi phạm điều luật về "bí mật thương mại", nhưng Pepsi vẫn bị phán quyết phải thu hồi sản phẩm của mình và tạm ngừng kinh doanh trong một số năm với lý do "không ai có quyền gieo trồng và gặt hái trên mảnh đất do người khác đã bỏ công khai phá, chừng nào họ chưa thu hồi được thành quả đủ để bù đắp công sức đã bỏ ra", đồng thời phải hoàn trả cho Coca một khoản tiền được xác định trên cơ sở mức thu hồi trung bình của thị trường sản phẩm của Pepsi. Thể hiện rõ quan điểm này, các điều khoản trong bộ luật chủ yếu tập trung vào khía cạnh hành vi vi phạm và việc xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng, nhưng không đề cập đến ý nghĩa/tác động của hành vi vi phạm. Do không có những điều khoản quy định trách nhiệm đền bù thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp bị động, người tiêu dùng và các đối tượng hữu quan khác, trách nhiệm của doanh nghiệp có hành vi vi phạm chỉ là "nộp phạt" và sung công quỹ. Doanh nghiệp thụ động, người tiêu dùng phải tìm cách tự bảo vệ mình. Luật cạnh tranh không phải là "tấm lá chắn" có thể bảo vệ họ trước sự tấn công của các doanh nghiệp chủ động. Vì thế, Luật cạnh tranh không được coi là "thân thiện" với họ. Mặt khác, bộ luật cũng không đưa ra những quy định (hay ít nhất những tài liệu về các vấn đề này đã không được phổ cập tương xứng với bộ luật) về cách thức đền bù thiệt hại, đối tượng được hưởng đền bù và phương pháp xác định mức đền bù, việc xác định "mức phạt" có thể không xác đáng, dễ tùy tiện, người bị thiệt hại không có khả năng "lấy lại những gì đã mất" vì vậy càng không sẵn sàng chi thêm thời gian và tiền bạc theo kiện để "chẳng để làm gì".
Vì những lý do trên, Luật cạnh tranh khó phát huy hiệu lực. Trong khi, bộ luật cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện, các doanh nghiệp cần chủ động tiến hành các biện pháp chống cạnh tranh không trung thực.
Nguồn:
Tạp chí Nhà quản lý Số lượt đọc:
472
-
Cập nhật lần cuối:
04/12/2009 05:03:13 PM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|