Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tài chính - Ngân hàng  Chứng khoán  Đầu tư  Bảo hiểm  Bất động sản  Lao động  Hàng hóa, Dịch vụ  Pháp luật

Suy ngẫm từ lời khuyên của ông Alan Greenspan

GS. TSKH Nguyễn Mại

Vietnam Investment Review
Gửi email  Bản in 
04:39' PM - Thứ ba, 29/07/2008

Ông Alan Greenspan nhận định rằng, hệ thống các giải pháp mà Chính phủ Việt Nam đang thực hiện là đúng đắn và “Chính phủ nên tiếp tục áp dụng những giải pháp đang làm”.

Những tín hiệu tích cực của tháng 6 từ việc giảm nhập siêu, điều hành chính sách tiền tệ, như tăng lãi suất tiền gửi và tiền vay, nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái; tốc độ tăng giá mặc dù còn khá cao, nhưng đã giảm nhiều so với những tháng trước đã minh chứng kết quả của các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ.

Ông Alan Greenspan đã đưa ra lời khuyên rất đáng được lưu ý: “Với các tập đoàn lớn, cần có những biện pháp hạn chế họ. Họ mở rộng đầu tư ồ ạt gây ảnh hưởng tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế sức sáng tạo, tính năng động của những doanh nghiệp này và của cả nền kinh tế”.

Lời khuyên này như là sự khẳng định một trong 8 giải pháp mà Chính phủ đang thực hiện - cắt giảm đầu tư công, giới hạn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước - là đúng đắn, nhưng cần được coi là một giải pháp hết sức quan trọng không những để phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát, mà còn có tính chiến lược để không làm “hạn chế sức sáng tạo, tính năng động của doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như của cả nền kinh tế”.

Quan trọng nhất là hiệu quả

Từ khi Thủ tướng Chính phủ quy định về việc các doanh nghiệp nhà nước không được đầu tư ra ngoài ngành quá 30% thì một số lãnh đạo tập đoàn và quan chức Chính phủ đã đưa ra các số liệu để chứng minh rằng, số vốn đầu tư của các tập đoàn ngoài ngành là rất ít, như Vinashin chỉ có 4,7%.

Việc quy định tỷ lệ vốn đầu tư ngoài ngành là cần thiết trong tình trạng các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam mặc dù được kỳ vọng đóng vai trò chủ đạo trong từng ngành, lĩnh vực kinh tế, như đã được khẳng định tại nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước, nhưng vốn kinh doanh của từng tập đoàn chưa dồi dào, trình độ công nghệ còn hạn chế, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, trong khi đó đã diễn ra xu hướng khá phổ biến là đầu tư ồ ạt vào bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm…; do vậy vừa bị phân tán nguồn lực vốn còn khá hạn chế cho ngành và lĩnh vực chính, vừa làm nảy sinh nhiều vấn đề tiềm ẩn những nguy cơ lớn hơn của nền kinh tế, nhất là mối liên kết nội bộ của các chủ thể trong từng tập đoàn vừa kinh doanh công nghiêp, vừa kinh doanh tiền tệ; mà kinh nghiệm của nhiều nước đã cho thấy hậu quả khó lường trước của tình trạng đó.

Tuy vậy, vấn đề quan trọng hơn mà lãnh đạo các tập đoàn kinh tế nhà nước cần quan tâm là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Năm 2007, tổng vốn đầu tư xã hội của nước ta gần 43% GDP, nhưng hệ số ICOR khá cao, gần 4,6 (của Trung Quốc chỉ 3,7). Điều đó giải thích vì sao trong khi tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của nước ta tương đương Trung Quốc, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta thấp hơn Trung Quốc khoảng 2%.

Đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 53-54% tổng đầu tư xã hội. Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của hai khu vực này cũng cần được nghiên cứu dưới giác độ hiệu quả kinh tế - xã hội của nền kinh tế quốc dân; tuy vậy đối với từng dự án, do gắn trực tiếp với lợi ích của nhà đầu tư, nên Nhà nước không phải quan tâm.

43-44% tổng đầu tư xã hội là thuộc đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và ngân sách nhà nước. Đây chính là khu vực mà Nhà nước cần quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, vì từ lý thuyết đến thực tế đều chỉ ra rằng, nếu không có cơ chế đấu thầu, thẩm định, giám sát quá trình thực hiện một cách công khai, minh bạch, thì khó tránh khỏi tình trạng thất thoát vốn đầu tư do lãng phí, tham nhũng.

Đáng tiếc là cho đến nay, ngoài những cuộc điều tra hàng năm của Tổng cục Thống kê về thực trạng các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong một số ngành và lĩnh vực kinh tế, mà phần lớn đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh không có nhiều màu sáng; chưa thấy các tập đoàn kinh tế nhà nước công bố Báo cáo hàng năm của doanh nghiệp, trong đó trình bày tốc độ tăng trưởng, chi phí, lợi nhuận trước và sau thuế… đã được một công ty kiểm toán độc lập đánh giá.

Gần đây, Tổng kiểm toán nhà nước đã công bố kế hoạch kiểm toán Tập đoàn Điện lực Việt Nam với số cán bộ được huy động khoảng 100 người. Đây là một tín hiệu đáng mừng vì người dân Việt Nam sẽ được thụ hưởng quyền được thông tin về tình hình hoạt động của một doanh nghiệp nhà nước rất thiết thân với cuộc sống hàng ngày của họ.

Tuy vậy, chúng tôi cho rằng, khi nước ta đã hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, thì cần làm theo thông lệ quốc tế; hàng năm các doanh nghiệp phải được kiểm toán độc lập để đánh giá chính xác Bản quyết toán tình hình kinh doanh, thu chi và lợi nhuận, sau đó công bố công khai với cổ đông và khách hàng.

Trong hoạt động kinh tế, quy mô vốn đầu tư là một chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng và sức mạnh của từng doanh nghiệp, nhưng quan trọng hơn là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư; chỉ tiêu này được hình thành từ so sánh kết quả và chi phí phụ thuộc vào việc lựa chọn dự án, công nghệ và cơ cấu sản phẩm, địa điểm xây dựng, thị trường đầu vào và đầu ra của sản phẩm, các giai đoạn đầu tư và dòng chu chuyển vốn của cả đời dự án. Trong điều kiện bình thường, lãi suất tiền vay ở mức không có lạm phát, thì tỷ suất lợi nhuận sau thuế phải đạt ít nhất 14 - 15% mới có hiệu quả.

Trong khi trả lời các cuộc phỏng vấn báo chí, hầu như các nhà quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước chỉ đưa ra các con số về quy mô vốn đầu tư, tầm quan trọng của dự án, mà không thấy nói đến chỉ tiêu quan trọng nhất là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, liên quan với nó là việc thu xếp vốn, nhất là vốn đi vay và lãi suất tiền vay, điểm hòa vốn và tỷ suất lợi nhuận của dự án.

Vài câu chuyện thực tế

Độc quyền ngành điện

Thế nhưng, những quy hoạch như vậy có được thực hiện nghiêm túc không và ai chịu trách nhiệm trước người tiêu dùng do thiếu điện thì hầu như chưa được kiểm điểm và xử lý. Tình trạng độc quyền của ngành điện còn tiếp tục kéo dài thì chắc chắn việc thiếu điện sẽ chưa được giải quyết, bởi vì họ có thể nêu lên hàng chục nguyên nhân, như thiếu vốn, giá điện không hợp lý, ngân hàng không cho vay, chưa giải phóng được mặt bằng…

Không nên và không thể coi điện lực như một mặt hàng bình thường, mà cần coi là cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho nền kinh tế, do vậy phải đối xử với mặt hàng này đúng với tầm quan trọng của nó. Chúng ta đã có được kinh nghiệm trong việc mở cửa thị trường đối với ngành viễn thông, mà chỉ mới cách đây mấy năm thôi, do tình trạng độc quyền của Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông nên người dân và doanh nghiệp hoạt động ở nước ta phải chịu giá cước cao nhất thế giới (!). Khi tình trạng cạnh tranh được xác lập thì giá cước dịch vụ viễn thông liên tục giảm, hiện đã đạt mức của khu vực trong khi chất lượng phục vụ và tính đa dạng của dịch vụ đã tạo cho người tiêu dùng quyền được lựa chọn tốt hơn. Tại sao chưa áp dụng điều này đối với ngành điện lực (?).

Kỳ vọng về tăng trưởng nguồn điện hàng năm 15%-20%-25% như ghi tại Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khó mà được thực hiện, nếu không phá bỏ ngay tình trạng độc quyền của EVN; mở cửa thị trường ngành điện để huy động vốn của các nhà đầu tư, nhất là từ nước ngoài trong khi thị trường đầy tiềm năng về trung hạn và dài hạn của nước ta khá hấp dẫn đối với việc xây dựng nhà máy điện, cung ứng điện cho doanh nghiệp và gia đình. EVN phải trở lại chính mình, là một doanh nghiệp kinh doanh điện bình đẳng với các doanh nghiệp khác.

EVN đòi hỏi tăng giá điện để có vốn đầu tư (!). Nếu lập luận này được áp dụng vào tất cả các ngành kinh tế thì không biết chỉ số giá cả nước ta còn cao lên bao nhiêu % nữa (!). Nước ta đang dựa vào 3 nguồn điện chính: thủy điện, nhiệt điện chạy than và khí-dầu hỗn hợp. Rất đáng tiếc chúng tôi không tìm được con số về giá thành hiện nay của từng loại và của cả 3 loại nguồn điện, do vậy chỉ có thể ngoại suy từ tình trạng các nhà máy điện.

Nhiều nhà máy thủy điện lớn cả ở miền Bắc và miền Nam đã được đưa vào vận hành từ 10 đến 20 năm, do vậy chi phí khấu hao cơ bản hầu như đã được thu hồi, chỉ còn chi phí sửa chữa lớn và sửa chữa thường xuyên, nên giá thành thủy điện vốn đã rất thấp, lại không phải gánh chi phí khấu hao cơ bản, nên còn thấp hơn mức bình thường; một số nhà máy nhiệt điện chạy than đã được vận hành khá lâu cũng trong trạng thái tương tự, như vậy ít nhất có khoảng 30% sản lượng điện có giá thành khá thấp; nếu cộng với giá thành điện năng của các nhà máy nhiệt điện chạy than và khí-dầu thì giá điện bình quân của nước ta có thể không cao và với giá bán hiện hành thì EVN vẫn có tỷ suất lợi nhuận khá.

Do vậy, Chính phủ cần dựa trên giá thành và tỷ suất lợi nhuận, cũng như tiềm năng giảm chi phí của EVN để quyết định có nên tăng giá điện hay không, bởi vì việc đó có tác động tiêu cực cả với sản xuất và tiêu dùng.
Báo chí đã nói đến một nghịch lý là, trong khi EVN coi việc cắt điện như một giải pháp không thể tránh được, thì trung tuần tháng 5 vừa qua, Nhà máy Điện Cà Mau 1, thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chỉ chạy được 70% công suất (720 MW/h), bởi vì EVN cho rằng, giá bán điện của nhà máy này quá cao, mua nhiều thì lỗ nhiều, nên chỉ mua có giới hạn. Thử hình dung, nếu có thêm vài nhà phân phối điện năng thì chắc tình trạng đó sẽ không xảy ra.

Hy vọng cuộc kiểm toán của Tổng kiểm toán nhà nước với EVN sẽ công khai hóa chi phi và giá thành điện, để người dân biết được thực trạng tình hình kinh doanh của tập đoàn kinh tế này.

Buồn vui chuyện đóng tàu

Chúng tôi cũng như nhiều người dân Việt Nam chia sẻ niềm vui với Vinashin về việc doanh nghiệp này đã đóng được những con tàu viễn dương có trọng tải hàng vạn tấn, những dự án sản xuất động cơ, nghi khí tàu biển để tạo ra giá trị gia tăng ngày càng nhiều hơn cho mỗi con tàu. Vinashin đã quyết định dừng và giãn tiến độ 49 dự án với tổng vốn đầu tư 6.500 tỷ đồng, không tham gia liên doanh với Posco (Hàn Quốc) dự án thép tại Văn Phong, Khánh Hòa. Đó là những hoạt động rất đúng hướng của một tập đoàn kinh tế nhà nước.

Chúng tôi cũng rất ngạc nhiên khi Vinashin dự định đầu tư mua sắm một đội tàu vận tải hành khách và hàng hóa Bắc - Nam với số vốn rất lớn, trong khi tập đoàn này đang theo đuổi mục tiêu vươn lên vị trí thứ tư trên làng đóng tàu thế giới.

Những năm gần đây, Vinashin đã được Chính phủ dành nhiều ưu ái, như được hưởng một khoản trái phiếu quốc tế dài hạn, được bổ sung vốn kinh doanh và các ưu đãi khác. Cũng đã có cảnh báo của chuyên gia Việt kiều về việc sử dụng trái phiếu quốc tế với lãi suất lũy kế khá lớn, nếu không được doanh nghiệp này sử dụng có hiệu quả thì khả năng hoàn vốn, để trả nợ là khó khăn.

Cũng có chuyên gia kinh tế nước ngoài cảnh báo về một dự án đầu tư của Vinashin có quy mô và công nghệ tương tự như dự án đã được thực hiện ở Ấn Độ, nhưng vốn đầu tư bằng 1,5 lần. Những cảnh báo như vậy rất đáng được các vị lãnh đạo tập đoàn tìm hiểu và nghiên cứu nghiêm túc, để bảo đảm các mục tiêu to lớn của Vinashin trở thành một thế lực lớn trong ngành đóng tàu thế giới được thực hiện không phải bằng bất cứ giá nào, mà với hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

Vì sao trong vài năm gần đây Vinashin nhận được nhiều đơn đặt hàng lớn nhiều tỷ USD. Tập đoàn này thu được lợi nhuận có tương xứng với tiền vốn, sức sáng tạo của hàng vạn kỷ sư và công nhân Việt Nam không (?). Theo những thông tin mà chúng tôi có được, thì mỗi con tàu giao cho chủ nước ngoài có giá trị gia tăng dưới 20% (con số trên website của Vinashin là 30%), tỷ suất lãi trên vốn khá thấp.

Tất nhiên, cần phải có thời gian để tập đoàn này tự khẳng định vị thế của mình, nhưng dù sao thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư luôn luôn là vấn đề cốt lõi của mọi doanh nghiệp; nếu không từ quan điểm hiệu quả để quyết định hướng đi lên của Tập đoàn bằng một chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở các dự báo thị trường thế giới và trong nước, phân tích các đối tác và đối thủ, thực hiện theo một lộ trình hợp lý, tạo ra các đột phá trong từng giai đoạn, mà chỉ dựa trên ý đồ nảy sinh nhất thời, thì như V.I.Lênin đã giáo huấn là trên mỗi chặng đường sẽ gặp nhiều khó khăn vì không có được lộ trình thích hợp.

Còn nhiều điều để viết về các tập đoàn, như câu chuyện về khai thác than và buôn lậu hàng triệu tấn than tại Quảng Ninh có liên quan đến Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản; việc không ít giám đốc doanh nghiệp nhà nước bị khởi tố vì lạm quyền, tham nhũng, lập công ty gia đình để hưởng lợi từ vị thế và quyền lực của họ.

Số lượt đọc:  127  -  Cập nhật lần cuối:  31/12/2008 03:13:13 PM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ