Nền kinh tế nước ta đang "lạnh" đi nhanh chóng sau hai năm "sốt nóng" lạm phát cao. Dưới tác động ngày càng mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những thách thức của năm 2009 sẽ gay gắt gấp bội. Một số lớn doanh nghiệp và người lao động đang đối mặt tình trạng phá sản, thất nghiệp.
Tình thế gay gắt và cấp bách. Thời gian dành cho sự suy xét và lựa chọn giải pháp không nhiều. Nhưng mặt khác, tình trạng đang suy yếu của nền kinh tế cũng như những khó khăn to lớn mà các doanh nghiệp đang đương đầu lại không cho phép đưa ra những quyết định vội vã, ít cân nhắc, dễ gây ra hậu quả nghiêm trọng lâu dài.
Bước đầu, xin nêu vài bài học được coi là khái quát và gắn nhiều đến "vận mạng" năm 2009.
Bài học thứ nhất
- Biết ứng biến linh hoạt, kịp thời chuyển hướng mục tiêu ưu tiên khi thời thế và điều kiện phát triển thay đổi.
Như mọi người đều biết, mãi đến giữa năm 2008, khi lạm phát và bất ổn vĩ mô đã trở nên căng thẳng, nền kinh tế chạm đến ngưỡng mà nhiều người đánh giá là khủng hoảng, lần đầu tiên sau hàng chục năm, Chính phủ thay đổi mục tiêu ưu tiên: thay cho mục tiêu tốc độ GDP cao, kiềm chế lạm phát được đóng vai trò nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Kèm theo đó là việc tập trung các nỗ lực, không phải để dốc sức tăng trưởng như trước đây, mà là kiềm chế lạm phát. Kết quả là tốc độ tăng lạm phát giảm xuống, lòng tin dần được khôi phục, nền kinh tế có cơ thoát hiểm.
Nhưng bài học không dừng ở đó. Quyết định của Chính phủ được đưa ra dưới áp lực tình thế, mang tính cấp thời. Kết quả kiềm chế lạm phát đạt được, dù có giá trị "sinh tử", cũng chỉ đóng vai trò cấp cứu chứ không chữa trị tận gốc căn bệnh nặng. Căn nguyên lạm phát, bất ổn vĩ mô hầu như chưa đụng đến. Do vậy, nguy cơ tái diễn bất ổn và khủng hoảng vẫn rất tiềm tàng. Có lẽ đằng sau nguy cơ đó mới là bài học lớn, có giá trị cơ chế, gắn với đổi mới tư duy phát triển căn bản: xem xét lại một cách căn bản mối quan hệ chức năng Chính phủ - doanh nghiệp trong nỗ lực đạt tới mục tiêu chung của nền kinh tế: tăng trưởng và phát triển bền vững. Đây là điều rất cần được suy xét, thoát ra khỏi tầm vóc của một quyết định tình thế ngắn hạn và nỗi ám ảnh "chủ nghĩa thành tích" đã tồn tích quá lâu.
Bài học thứ hai
- Bài bản, bình tĩnh chọn giải pháp hành động trong tình thế nguy nan. Tại kỳ họp Quốc hội tháng 5/2008, Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm hoạt động điều hành vĩ mô trong thế lưỡng nan giữa một bên là thách thức lạm phát cao va một bên la mục tiêu ưu tiên tốc đô tăng trưởng GDP cao. Sư lúng túng, thiếu bài bản, xu hướng thiên về sử dụng các biện pháp hành chính, việc trình diễn một cách thiếu cân nhắc mọi "chiêu thức" chống lạm phát có thê nhằm nhanh chóng ổn định tình hình... đã không đạt mục tiêu mong muốn. Ngược lại, cách làm đo đa góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm tình trạng bất ổn và căng thẳng kinh tế: lạm phát tăng nhanh nhưng thanh khoản khan hiếm, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản suy sụp sau cơn say thắng lợi,...
Tuy nhiên, việc Chính phủ chuyển hướng chính sách kịp thời và cơ bản ngay sau kỳ họp Quốc hội - chuyển mục tiêu ưu tiên, chọn lựa các giải pháp chống lạm phát tập trung hơn (số lượng ít nhưng "bài bản" hơn), do đó, phù hợp với năng lực điều hành đã nhanh chóng đem lại một số kết quả mong đợi chủ yếu (tốc độ gia tăng lạm phát và nhập siêu giảm nhanh, lòng tin được khôi phục dần).
Bài học này là quan trọng theo nghĩa nó hàm ý sự đòi hỏi một cách tiếp cận chính sách mới đến tăng trưởng và phát triển trong môi trường toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh: để ứng biến tốt với các sự bất thường của tình thế phát triển thường xuyên thay đổi, đối với một quốc gia đi sau kém phát triển, việc quản lý phát triển phải biết dựa trên nền tảng vững chắc là tri thức hệ thống và bài bản chứ không thể chỉ theo cách "tùy biến" (thực chất là "gặp chăng hay chớ", "đánh cờ nước một") hay "nước đến chân mới nhảy".
Bài học thứ ba
- Phối hợp mục tiêu và công cụ chính sách giữa các bộ máy chức năng trong điều hành và quản lý vĩ mô. Cho đến nay, phối hợp chính sách vẫn là một điểm yếu hầu như mang tính cố hữu và nghiêm trọng nhất của hoạt động quản trị phát triển vĩ mô ở nước ta. Điểm yếu này cũng được thể hiện rõ trong nỗ lực kiềm chế lạm phát năm 2008, nhưng theo cả hai chiều. Ở chiều thứ nhất, có thể nêu một ví dụ thành công trong việc khắc phục điểm yếu này. Đó là cách Ngân hàng Nhà nước phối hợp hai công cụ chính sách tiền tệ - lãi suất tín dụng và lãi suất tiền gửi bắt buộc - để một mặt, bảo đảm hiệu quả nỗ lực kiềm chế lạm phát; mặt khác, góp phần giảm dần gánh nặng lãi suất cho doanh nghiệp. Diễn biến phối hợp hai công cụ này (xin lưu ý: chỉ hai công cụ nếu nhiều công cụ quá, chắc sẽ khó phối hợp tốt) trong điều hành của Chính phủ vào giữa năm 2008 và kết quả kiềm chế lạm phát đạt được (giảm tốc nhanh mà không gây sốc) gợi ra cách làm và chứng tỏ khả năng phối hợp hành động của bộ máy điều hành vĩ mô.
Ở chiều thứ hai, có thể nêu ví dụ về việc phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong nỗ lực khóa bớt "van" của hai máy bơm tiền cho nền kinh tế để giảm nhanh lạm phát - "máy bơm" ngân sách và "máy bơm" ngân hàng. Thực tế cho thấy trong năm 2008, gánh nặng chống lạm phát đặt chủ yếu "lên vai" chính sách tiền tệ, với công cụ chủ yếu là lãi suất tín dụng cao và các công cụ hỗ trợ chính là lãi suất dự trữ bắt buộc và tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Đã có những động thái phối hợp từ phía chính sách bài khóa, với nội dung chính là cắt giảm đầu tư công. Tuy nhiên, tính tích cực thực tế của việc khóa "vòi bơm tiền" này không thể hiện rõ (bằng chứng là chi tiêu ngân sách vẫn bội chi gần 5% GDP như những năm khác, việc cắt giảm vốn đầu tư các dự án do các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm chủ yếu chỉ là cắt các dự án chưa hề triển khai), cộng vào độ trễ phát huy tác dụng của các nỗ lực này. Chính vì vậy, như nhiều ý kiến đầy tâm huyết đã nêu trong năm cho thấy, trên thực tế, gánh nặng chống lạm phát chủ yếu là khu vực doanh nghiệp "gánh", trong đó, phần nặng nhất thuộc về khu vực tư nhân với 98% là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự san sẻ gánh nặng lạm phát từ phía nhà nước, xét về mặt tiền bạc, là chưa rõ. Mức độ phối hợp hành động giữa các bộ máy nhà nước chức năng vĩ mô không cao, sự "đơn độc" của chính sách tiền tệ trong cuộc chiến chống lạm phát là một trong những lý do chủ yếu giải thích tại sao tuy tốc độ lạm phát được kìm lại, song khó khăn của khu vực doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kéo theo đó là của đông đảo người lao động, vẫn nghiêm trọng kéo dài.
Đây là bài học gắn chặt với tầm nhìn, tính bài bản trong tư duy phát triển. Nó còn gắn với năng lực quản trị phát triển thực tiễn của bộ máy nhà nước, xét như một tổng thể lẫn với tư cách là các cơ quan chức năng cấu thành bộ máy đó. Bài học đó có liên quan trực tiếp đến số phận của các doanh nghiệp - lực lượng chủ công của phát triển, đến những chi phí mà nền kinh tế phải trả cho công cuộc chống lạm phát và ổn định vĩ mô. Vì thế, nó là bài học cần được mổ xẻ kỹ lưỡng hơn. Chắc chắn, có rất nhiều việc phải làm để vượt qua thách thức của năm 2009.
Nguồn:
Nhà quản lý Số lượt đọc:
203
-
Cập nhật lần cuối:
16/01/2009 02:49:28 PM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|