Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tài chính - Ngân hàng  Chứng khoán  Đầu tư  Bảo hiểm  Bất động sản  Lao động  Hàng hóa, Dịch vụ  Pháp luật

Hậu khủng hoảng: Mô hình tăng trưởng nào cho Việt Nam?

PGS.TS Trần Thọ ĐạtPhó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Tuần Việt Nam
Gửi email  Bản in 
01:29' PM - Thứ sáu, 19/06/2009

"Việc xem xét và mô hình hoá tác động của các nhân tố phi kinh tế nói chung, và yếu tố thể chế nói riêng, sẽ trở thành một hướng đi mới, một bước tiến mới trong con đường tìm tòi và khám phá “các nguồn tăng trưởng kinh tế” trong tương lai phù hợp với Việt Nam"

Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của PGS.TS Trần Thọ Đạt, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

1. Hiểu biết về nguồn tăng trưởng kinh tế đã được phát triển như thế nào?

Tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, quyết định phúc lợi kinh tế của mỗi quốc gia và việc tìm hiểu yếu tố nào tạo nên tăng trưởng từ lâu đã trở thành một trong những câu hỏi trung tâm của kinh tế học. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế truyền thống (Smith, Ricardo,…) đã đề cao vai trò của vốn, coi đó là yếu tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng.

Tuy nhiên, phải đến mô hình Harrod-Domar của trường phái Keynes thì mối quan hệ tiết kiệm, tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế mới được lượng hoá và mặc dù mô hình này còn quá đơn giản, nhưng nó đã trở thành cơ sở của chiến lược tích lũy vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước sau chiến tranh thế giới thứ thứ hai.

Thất bại của chiến lược tăng trưởng chỉ dựa vào huy động tiết kiệm cao theo khuyến nghị của chính phủ đã phủ một bóng mây nghi ngờ lên quan điểm truyền thống cho rằng tích luỹ vốn là chìa khoá của tăng trưởng kinh tế. Đến đây, lý thuyết tăng trưởng đã phát triển lên một bước mới, với việc phân tách tăng trưởng về mặt sản lượng thành: tăng trưởng thông qua tăng các đầu vào (lao động, vốn) và tăng trưởng thông qua tăng năng suất (chẳng hạn, công nghệ mới).

Trong dài hạn, một nền kinh tế cần tiến bộ công nghệ để có thể nâng cao mức sống người dân, bởi nền kinh tế đó không thể tăng mãi đầu vào lao động, đồng thời cũng gặp phải lợi tức cận biên giảm dần nếu tiếp tục tăng thêm vốn vào quá trình sản xuất.

Mô hình tăng trưởng tân cổ điển (thường gọi là mô hình tăng trưởng Solow) được coi là mô hình chuẩn đầu tiên, hội tụ được khá nhiều các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn.

Thế nhưng, mô hình tăng trưởng tân cổ điển vừa là một thành công lớn, lại vừa là một thất bại lớn. Một hạn chế lớn nhất của mô hình tăng trưởng tân cổ điển là trong dài hạn, nguồn tác động đến tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người duy nhất trong mô hình này là tốc độ tăng hiệu quả lao động lại được xác định một cách ngoại sinh.

Những hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã thúc đẩy nhiều hướng nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với thực tế của các nước đang phát triển và đã đưa đến sự ra đời của các mô hình tăng trưởng nội sinh.

Gọi là mô hình tăng trưởng nội sinh là bởi các mô hình tăng trưởng mới này cố gắng nội hoá sự tăng trưởng, nghĩa là giải thích tăng trưởng bên trong một mô hình của nền kinh tế.

Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, tăng năng suất có được từ tích luỹ vốn con người hay các hoạt động phát minh sáng chế là yếu tố tạo nên tăng trưởng dài hạn của thu nhập bình quân đầu người. Do đó, tăng năng suất - “làm việc thông minh hơn” chứ không phải là “làm việc chăm chỉ hơn” - là yếu tố thiết yếu của tăng trưởng kinh tế nói chung.

2. Nguồn tăng trưởng kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển

Những nghiên cứu thực nghệm về nguồn tăng trưởng kinh tế từ đầu thế kỷ XIX ở các nền kinh tế phương Tây và Nhật Bản cho thấy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn đầu của Cách mạng Công nghiệp chủ yếu dựa trên tích luỹ vốn hơn là tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên sau đó cả Mỹ và Nhật Bản đều đã dịch chuyển được từ tăng trưởng dựa trên tích luỹ vốn sang tăng trưởng dựa trên tăng năng suất.

Cần lưu ý là sự thay đổi mô hình tăng trưởng này không xảy ra ở tất cả các nền kinh tế. Thực tế tăng trưởng của Liên Xô (cũ) là sự tương phản hoàn toàn với Mỹ và Nhật. Có thể coi kế hoạch hoá kinh tế của Liên bang Xô viết là trường hợp điển hình của việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tối đa hoá tích luỹ vốn theo định hướng của chính phủ.

Tốc độ tăng tỷ lệ vốn-lao động ở Liên Xô cao hơn nhiều so với các nền kinh tế thị trường, tốc độ tăng năng suất lao động nhỏ hơn nhiều so với tốc độ tăng tỷ lệ vốn-lao động, đồng nghĩa với sự gia tăng rất lớn của tỷ lệ vốn-sản lượng.

Mô hình tăng trưởng kinh tế của Liên Xô cho đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX vẫn chỉ tương đương với mô hình tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Nhật trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá.

Rõ ràng là nền kinh tế này đã không thể dịch chuyển từ tăng trưởng dựa trên tích luỹ vốn sang tiến bộ công nghệ, và dường như đã bị “mắc kẹt” bởi quy luật sản phẩm cận biên của vốn giảm dần.

3. Liệu có sự thần kì trong tăng trưởng của các nước Đông Á?

Chỉ trong giai đoạn 1980-95, thu nhập bình quân đầu người của Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan đã tăng hơn gấp đôi, so với sự gia tăng 20% ở Mỹ. Ở cả bốn nước này, dường như đầu tư vào vốn vật chất đóng một vai trò quan trọng. Tuy nhiên, câu hỏi liệu đầu tư vào vốn vật chất có giải thích được tốc độ tăng trưởng cao ở Đông Á hay không vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.

Trong một nghiên cứu nổi tiếng vào năm 1995, dựa trên phương pháp luận hạch toán tăng trưởng, Young đã lập luận rằng tốc độ tăng trưởng cao của Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan có được là nhờ gia tăng đầu tư, tăng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và tăng chất lượng lao động (được phản ánh ở sự gia tăng tỷ lệ lao động có trình độ), chứ không nhờ tiến bộ công nghệ. Vì vậy, theo quan điểm của Young, không có gì thần kỳ trong sự tăng trưởng ở Đông Á.

Tuy nhiên, phân tích của Sarel tập trung vào năm nước Đông Á: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (trong tương quan so sánh với Mỹ) trong thời kỳ 1978-1996, không dựa trên tỷ phần thu nhập (của Young), mà theo một phương pháp nhằm lượng hoá được chênh lệch về cấu trúc sản xuất và trình độ phát triển giữa các nước lại cho thấy tăng trưởng các nhân tố không phải là vốn và lao động lại giải thích phần lớn tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người trong cả giai đoạn.

Do vậy, kết luận của các nghiên cứu tính toán tăng trưởng này cho thấy: không có sự đồng thuận về tầm quan trọng tương đối của tăng trưởng năng suất với tăng trưởng các đầu vào nhân tố ở Đông Á từ đầu thập kỷ 60 đến giữa những năm 1990.

4. Cơ hội nhìn lại các nguồn tăng trưởng của kinh tế Việt Nam

Kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể về tăng trưởng GDP và nâng cao mức sống bình quân. Tuy nhiên, gần đây đã xuất hiện một số hiện tượng đáng lo ngại, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế bền vững của nước ta, như chỉ số ICOR cao, chỉ số cạnh tranh giảm sút, chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp…

Khủng hoảng kinh tế có tác dụng hai mặt: một mặt làm lộ rõ tất cả những yếu kém, khuyết tật và bất hợp lí của cơ cấu kinh tế hiện tại, nhưng mặt khác lại tạo cơ hội để tái cấu trúc lại nền kinh tế phù hợp hơn.

Vì vậy, hơn bao giờ hết, việc xác định các nguồn tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là hết sức cần thiết, nhằm tìm hiểu động lực dẫn đến tăng trưởng ở Việt Nam trong thời gian qua và tìm ra chiến lược tăng trưởng kinh tế trong những năm sắp tới.

Các số liệu phân tích về nguồn tăng trưởng (theo phương pháp hạch toán tăng trưởng) cho thấy từ năm 1996 đến nay, vốn có đóng góp ngày càng lớn vào quá trình tăng trưởng kinh tế nước ta, trong khi đóng góp cho tăng trưởng của yếu tố “tổng năng suất” có xu hướng giảm sút.

Một câu hỏi lớn là liệu nền kinh tế Việt Nam có thể tiến ngay vào quá trình tăng trưởng kinh tế không chủ yếu phụ thuộc vào tích luỹ vốn hay không? Hoặc liệu chúng ta có thể kết hợp được phát triển dưới dạng “lai” các mô hình dựa vào vốn và tăng năng suất để sớm thoát ra khỏi “bẫy” tăng trưởng dựa vào vốn hay không?

Dù mô hình dựa trên các nguồn tăng trưởng của chúng ta được xác định cụ thể như thế nào, cũng cần thấy rõ một kết luận rất cơ bản của các nhà kinh tế là sự đóng góp của tổng năng suất nhân tố đối với tăng trưởng thu nhập thực tế quan trọng hơn nhiều so với đóng góp của các yếu tố đầu vào.

Nếu như lực lượng chính của tăng trưởng kinh tế không phải là sự tích luỹ vốn hữu hình (như quan điểm truyền thống) mà là tiến bộ công nghệ (được hiểu theo nghĩa rộng là tổng năng suất), thì cho dù các nước nghèo có khả năng tiết kiệm thấp vẫn có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nếu có thể nhập khẩu công nghệ từ các nền kinh tế tiên tiến.

Khi đó, việc đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển (hỗ trợ hoạt động cải tiến ở các doanh nghiệp tư nhân, bao gồm cả nhập khẩu công nghệ nước ngoài) sẽ mang lại hiệu quả tăng trưởng kinh tế cao hơn là việc chỉ cố gắng gia tăng lượng vốn hữu hình.

Các mô hình tăng trưởng nội sinh, đặc biệt là các mô hình xét đến vốn con người đã góp phần giải thích đáng kể sự chênh lệch về thu nhập giữa các quốc gia.

Các mô hình này cho thấy không có xu hướng các nước nghèo (ít vốn) có thể đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập bình quân, cho dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm.

Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ ở lượng vốn vật chất (có thể bù đắp nhờ đầu tư và viện trợ nước ngoài) mà quan trọng hơn là ở vốn con người.

Bởi thế, ý nghĩa to lớn của các mô hình tăng trưởng nội sinh là: tốc độ tăng trưởng dài hạn có thể phụ thuộc vào hành động chính sách của chính phủ (đánh thuế, cung ứng cơ sở hạ tầng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, cung cấp các dịch vụ công liên quan đến giáo dục, y tế…), vì các chính sách này có thể tác động tới các hoạt động sáng chế, phát minh và tích lũy vốn con người.

Câu hỏi cuối cùng là phải chăng các mô hình tăng trưởng nội sinh là những mô hình tốt nhất cho nền kinh tế của ta? Câu trả lời là không, bởi vì các mô hình này vẫn phụ thuộc vào một số giả định truyền thống mà dường như không phù hợp với các nền kinh tế đang phát triển.

Chẳng hạn, các mô hình tăng trưởng nội sinh còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu kém về cấu trúc hạ tầng, cấu trúc thể chế ở các nước đang phát triển, mà đây cũng là những yếu tố kìm hãm tăng trưởng, giống như mức tiết kiệm và tích luỹ vốn con người thấp.

Từ lâu người ta đã nhận ra rằng các nhân tố phi kinh tế có mối tương tác với quá trình tăng trưởng. Tuy nhiên, trong các mô hình tân cổ điển và tăng trưởng nội sinh, lịch sử và thể chế không có vai trò gì.

Các kỹ thuật tính toán tăng trưởng đo tầm quan trọng tương đối của mức vốn, lao động và công nghệ trong quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ thực hiện trong khuôn khổ một hàm sản xuất kinh tế vĩ mô.

Thế nhưng các nhà kinh tế thể chế hiện đại lập luận rằng thể chế là cấu trúc mang tính thúc đẩy của một xã hội, do đó các luật lệ, quy tắc…tạo nên nền tảng thể chế của một xã hội sẽ chi phối sự phân bổ các nguồn lực của xã hội và nền kinh tế, và do vậy có ảnh hưởng lớn đến năng suất.

Dường như, việc xem xét và mô hình hoá tác động của các nhân tố phi kinh tế nói chung, và yếu tố thể chế nói riêng, sẽ trở thành một hướng đi mới, một bước tiến mới trong con đường tìm tòi và khám phá “các nguồn tăng trưởng kinh tế” trong tương lai phù hợp với Việt Nam.

Số lượt đọc:  615  -  Cập nhật lần cuối:  19/06/2009 01:29:58 PM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ