"Hoạt động Kinh tế siêu vĩ mô" nghiên cứu về hoạt động kinh tế siêu vĩ mô là Sản xuất tiền ảo, và biến tiền ảo thành tư bản, Sản xuất và vận hành các thiết chế của kinh tế siêu vĩ mô như thị trường và các chủ thể của kinh tế siêu vĩ mô và sản xuất tư bản hậu công nghiệp đẳng cấp cao. Từ đó vạch ra được hình thái của Học thuyết mới về phát triển.
Sản xuất tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản
a. Sản xuất tiền ảo
Chúng ta hãy xem xét một số hành vi tài chính, tiền tệ trong thế giới phức tạp hiện nay để thấy được người ta đã làm những gì với tài chính, tiền tệ, từ đó thấy được phần nào phần chìm của tảng băng sản xuất ra tiền ảo, sản xuất ra tư bản của các trùm tư bản.
Trong Ramses 2001 có những đoạn mà cần trích dẫn dài để thấy được một vài điều cần thiết.
"Ngân hàng hawala: được lập dựa trên sự phối hợp giữa một số nhóm dân tộc. Một người sử dụng một khoản tiền có nguồn gốc không rõ ràng do người khác trao cho để đầu tư. Người gửi tiền bảo đảm là có được một khoản tiền tương đương trong tài khoản một ngân hàng nước ngoài. Tiền thù lao sẽ trả dần thông qua các giao dịch thông thường". (Thierry de Montbrial, Pierre Jacquet (chủ biên). Thế giới toàn cảnh Ramses 2001. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2001, trang 205).
Thế là đã rõ, nếu một cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức nào đó chịu sự chi phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô tuyên bố rằng mình có một khoản tiền nào đó gửi ở chi nhánh nước ngoài của một ngân hàng nào đó mà được những cá nhân, doanh nghiệp hay các tổ chức chịu sự chi phối của chủ thể đều chấp nhận, thì khoản tiền đó, dù là không có, là ảo, cũng trở thành tiền thật. Tiền thu về được hợp pháp hoá hoàn toàn, có giá trị như các đồng tiền thật.
"Cho vay bảo đảm: là phương thức mà người ta đi vay một khoản tiền tại ngân hàng trong nước. Khoản vay này được bảo đảm bằng một khoản tiền tương ứng đặt trong tài khoản tại chi nhánh của ngân hàng đó ở nước ngoài. Nếu bị kiểm tra, có thể lập luận rằng khoản tiền đó có nguồn gốc rõ ràng vì là khoản ngân hàng cho vay. Còn khoản tiền bảo đảm, nếu không ai nói tới, thì khó có thể tìm thấy được". (Thierry de Montbrial, Pierre Jacquet (chủ biên). Thế giới toàn cảnh Ramses 2001. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2001, trang 205).
Thật là rõ ràng, khoản tiền bảo đảm này hoàn toàn có thể là khoản tiền ảo. Và một khi tổ chức của các trùm tư bản đứng ra bảo đảm thì "không ai nói tới", chẳng chính phủ nào nói tới các khoản đó nếu các khoản đó nằm ở những ngân hàng trong nước mà ở vị thế kín đáo hay tốt nhất là nằm ở các trung tâm tài chính hải ngoại. Trong cuốn sách này, các tác giả nói khá nhiều về các hoạt động tội phạm, đặc biệt về rửa tiền.
"Rửa tiền đã trở thành một nghề thực thụ. Do tính chất đa dạng và phức tạp của các cơ chế rửa tiền, chúng ta chưa thể phân tích một cách toàn bộ, nhưng có thể thấy rằng việc rửa tiền luôn luôn lợi dụng những lỗ hổng của luật pháp. Để tránh bị kiểm soát, chúng sử dụng những trung tâm tài chính hải ngoại, hoặc trong nước nhằm tìm ra một nơi kín đáo lý tưởng nhất.
Những trung tâm này có ba đặc trưng: bí mật ngân hàng, khi được bảo đảm, hoàn toàn không cho phép cơ quan luật pháp biết tên của chủ tài khoản; ưu đãi thuế, cho phép giảm thiểu các khoản chiết khấu trong vốn và lãi; và tư vấn pháp lý, đi kèm với một hệ thống luật thương mại và ngân hàng thuận lợi, giúp dựng lên hình thức nguỵ trang không cho phép phát hiện ra người thụ hưởng lợi ích kinh tế thực thụ". (Thierry de Montbrial, Pierre Jacquet (chủ biên). Thế giới toàn cảnh Ramses 2001. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2001, trang 206).
Như vậy là trong thế giới hiện nay, có những nơi mà việc sản xuất tiền ảo được pháp luật cho phép, và tiến trình biến tiền ảo thành tiền thật quả là phức tạp. "Diễn đàn ổn định tài chính do các nước công nghiệp yêu cầu đã đưa ra một danh sách tổng cộng là 42 trung tâm tài chính, với tài sản lên tới 5000 tỷ USD, bằng 3% GDP thế giới.
Những trung tâm này che giấu con đường trung chuyển của những đồng tiền này, trong đó có nguồn gốc khoản tiền, một điều kiện mà luật pháp của tất cả các nước trên thế giới đều đòi hỏi khi kết tội rửa tiền. Một công tố viên có thể đặt dấu hỏi về một tài sản được gây dựng quá nhanh và nghi ngờ chủ nhân của nó. Nhưng muốn truy tố hay kết án đối tượng đó, cần phải chứng minh được đồng tiền đó có nguồn gốc phạm pháp. Nếu không làm được điều này, việc truy tố sẽ thất bại. Ngoài trở ngại là bí mật ngân hàng, phải nói tới các biện pháp nguỵ trang pháp lý không kém phần hiệu quả. Có hàng loạt các "công ty bình phong", công ty nọ lồng ghép vào công ty kia như những "con búp bê gỗ của Nga". Mỗi công ty hoạt động như một chiếc cầu chì, sẵn sàng cháy để bảo vệ công ty cao hơn, chính vì thế mức độ bảo vệ tốt không kém gì bí mật ngân hàng, khi hai phương thức này không thể kết hợp với nhau. Một bản nghiên cứu kỹ lưỡng các hành động tội phạm quốc tế chỉ rõ phương pháp này được áp dụng một cách có hệ thống. Chỉ có cách này mới lý giải được tại sao một quốc gia chỉ có 35000 dân như đảo Cayman lại có 30000 công ty đăng ký". (Thierry de Montbrial, Pierre Jacquet (chủ biên). Thế giới toàn cảnh Ramses 2001. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2001, trang 206, 207).
Không có chuyện truy tố những doanh nghiệp hay cá nhân nào chịu ảnh hưởng của tổ chức của các trùm tư bản hết, vì bộ máy nhà nước nằm trong tầm kiểm soát của họ, và nếu chính phủ nào "khó bảo", gây khó dễ, thì một cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính sẽ nổ ra, chính phủ đó bị đổ ngay. Còn ở các trung tâm tài chính hải ngoại thì chính phủ ở đấy tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng các hoạt động tài chính tiền tệ. Trong vòng ba năm qua, tại đảo Mauritius trên Ấn Độ Dương, số ngân hàng đã tăng từ 10 lên 2.500. Hiện nay ở đảo Cayman đã nói ở trên có số dân 36.000 người nhưng đã có hơn 2.200 quỹ đầu tư, 500 công ty bảo hiểm, 60.000 doanh nghiệp và hơn 600 ngân hàng và công ty đầu tư. Số lượng các doanh nghiệp gần gấp đôi số dân. Số lượng các doanh nghiệp này còn tăng hơn nữa trong tương lai. Chỉ cần 1000 USD là một kẻ dốt nát mù chữ có thể mua lại được một công ty ở các trung tâm tài chính hải ngoại ở vùng biển Caribe, mà các công ty này có khi chỉ có vốn pháp định 200 USD, nhưng khi cần thiết chúng có thể chi trả những khoản tiền lên đến hàng chục triệu USD.
"Thật đáng tức cười nếu tin rằng chủ nghĩa tư bản mạnh hơn lại không đi cướp lại tất cả những gì mà chủ nghĩa tư bản yếu hơn đã chiếm đoạt được" (V. I. Lê-nin. Toàn tập, Tập 42, nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1979, trang 73). Thật là tức cười nếu có cách làm ra tiền mới mà các trùm tư bản lại bỏ qua, không chiếm lấy làm của mình các thành quả đó. Tiền ảo là tiền không có thật mà lại biến được thành tư bản thì không có lý gì mà các trùm tư bản lại không làm bằng được việc đó.
Ngân hàng thuộc sự chi phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của một nước ở các trung tâm tài chính hải ngoại xử lý các đồng nội tệ và ngoại tệ như thế nào? Một ngân hàng cấp cho một doanh nghiệp một lượng ngoại tệ ảo, chẳng hạn đô la Mỹ, để đầu tư vào một nước đang phát triển, lượng đô la ảo này sẽ được cung cấp để mua bán các sản phẩm phục vụ cho đầu tư của các doanh nghiệp thuộc sự chi phối của chủ thể và chuyển sang dự án đầu tư đó, khi dự án hoạt động xuất hàng sang Mỹ, hay thị trường nào đó mà thu về đô la thật, thì đồng đô la thật đó được trả về cho ngân hàng cho vay, cả vốn lẫn lãi. Như vậy qua chu trình đầu tư, một lượng tiền ảo, thậm chí là tiền của nước ngoài, đã trở thành tiền thật.
Nhà nước bội chi ngân sách là điều khó khăn vì quốc hội và các định chế tài chính tiền tệ quốc tế kiểm soát việc bội chi ngân sách. Các khoản chi của nhà nước đều có địa chỉ mà không được gây ra những bất bình đẳng lớn trong xã hội, không được gây ra những phản ứng lớn trong xã hội. Hơn nữa, việc bội chi ngân sách dễ dẫn đến giá cả gia tăng, lạm phát, tạo ra tâm lý không tốt cho người dân, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư. Vì thế, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của nước đó tiến hành việc làm gia tăng lượng tiền mới của xã hội. Việc gia tăng lượng tiền làm tăng khả năng sử dụng hết công suất máy móc, trang thiết bị vật chất và các nguồn lực nội tại của xã hội, khuyến khích việc đầu tư nước ngoài thâm nhập vào thị trường đang mở rộng và cung ứng những sản phẩm mới cho thị trường.
Tài sản quốc gia và tài sản công ty khác nhau. Mối quan hệ tài sản trở nên nhằng nhịt không thể phân tách được. Sự giàu có của các tập đoàn đa quốc gia là ở chỗ chúng là các công cụ để sản xuất ra các tạo phẩm siêu vĩ mô. Tài sản quốc gia là cái gì đó rất động, có thể biến đổi, và các nước tư bản biết cách bơm phồng tài sản quốc gia của mình lên. Nhưng để việc làm phồng lên đó có hiệu lực thực sự thì phải có các thủ đoạn đặc thù và phải là công trình chung của xã hội. Khi người ta có thể tạo ra được tiền ảo với số lượng không hạn chế thì người ta không cần phải tiết kiệm và cứ tiêu dùng thoải mái. Không lấy gì làm lạ là người dân Mỹ hiện nay có mức tỷ lệ tiết kiệm/thu nhập rất thấp là 1,2%, vào loại nhất trong thế giới tư bản. Tình trạng nợ nần của nước Mỹ hiện nay có lý do khác với những gì người ta vẫn nêu ra. Đó là cái bình phong để che đậy việc làm ra tiền ảo của tư bản Mỹ vì theo suy nghĩ thông thường, nếu đã làm ra được tiền ảo thì việc gì phải mắc nợ, nên khi là một con nợ thì những đồng tiền mà tư bản Mỹ tạo ra đem lại cho người ta cảm giác rằng đó là những đồng tiền chân chính, không phải là các đồng tiền ảo. Tư bản Mỹ bao giờ cũng thừa tiền, nhưng luôn phải che giấu điều đó, vì thế nhà nước Mỹ nhiều khi bị thâm thủng ngân sách. Vị thế của nước Mỹ khiến cho tư bản Mỹ làm được những điều mà nước khác không làm được. Dòng FDI từ nước ngoài vào Mỹ mở đường cho đô la Mỹ thâm nhập sâu hơn vào các nước khác, và sức mạnh của Mỹ sẽ biến các nước khác phụ thuộc vào Mỹ, mở đường để nước Mỹ điều khiển kinh tế vĩ mô nước đó, nước khác làm ăn thành công ở Mỹ thì trở nên phụ thuộc vào Mỹ. Trong khi đó với các nước khác thì ngược lại, khi họ làm ăn thành công với nước nào thì nước đó phụ thuộc vào họ.
Khi những nhà đầu tư trên khắp thế giới đều nói rằng họ không kiếm được nhiều tiền ở Trung Quốc như mọi người nghĩ, trong khi các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đổ về Trung Quốc hơn hẳn các khu vực khác mang lại lợi nhuận cao hơn ở Trung Quốc thì có nghĩa là có điều gì đó bí mật, không phải là lợi nhuận, khiến cho các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào Trung Quốc. Người Nhật Bản, hay người Mỹ không lo ngại về sự lớn mạnh của nền kinh tế Trung Quốc. Sở dĩ có chuyện sự nhập siêu của họ với Trung Quốc là vì rất nhiều nhà máy của họ đặt ở Trung Quốc.
Với sự giúp đỡ của các trung tâm tài chính hải ngoại, các chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô tạo ra được tiền của nước khác, qua đó bơm phồng tài sản của các nước khác. Việc bơm phồng này nhiều khi đẩy nước khác vào khủng hoảng tài chính tiền tệ. Các chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô của các nước khác nhau có sự cạnh tranh và hợp tác với nhau. Các nước phát triển có biện pháp phòng chống các loại rửa tiền, tức cũng có nghĩa là phòng chống việc tạo thành tiền của các chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô của các nước khác, như luật Mỹ không cho bất cứ các ngân hàng nào của họ giao dịch với các ngân hàng ở trung tâm tài chính hải ngoại bị tình nghi.
Thế giới rất nhiều tiền nhưng người ta chỉ cung đủ lượng tiền mà thế giới có thể tiêu hoá được. Các đồng tiền ảo được dùng để làm công cụ thâm nhập vào các nền kinh tế, tài trợ cho buôn lậu, cho tham nhũng, cho các hoạt động bán phá giá dưới những hình thức tinh vi. Tiền ảo là công cụ mạnh mẽ cho việc xâm lăng kinh tế trong thời đại hiện nay. Tiền ảo làm gia tăng nguồn lực một cách nhanh chóng, và tạo điều kiện để các dạng phi vật thể xã hội mới vận hành thường trú trong xã hội. Tiền ảo là một công cụ phòng chống rủi ro hữu hiệu để người ta thâm nhập được vào các thị trường mới. Cùng với sản xuất tiền ảo, các thế lực tư bản có những thành quả rất lớn trong việc phát triển kinh tế thị trường hiện đại, trong việc đạt được trình độ khoa học công nghệ đỉnh cao, mà những tri thức đó là những thứ mà các nước đang phát triển còn thiếu rất nhiều.
Do khả năng tạo nên các điểm chờ của sự phát triển đột biến nên việc sản xuất ra tiền ảo có cơ sở thực tế. Bằng việc sản xuất ra tiền ảo, các nước phát triển cướp bóc tài nguyên, sức lao động, tư bản của các nước đang phát triển với quy mô khủng khiếp chưa từng có. Khi người ta tìm được phương cách mới để chiếm đoạt tài nguyên, hàng hoá, sức lao động và tư bản của các nước khác bằng phương tiện hoà bình thì người ta không cần những biện pháp như chiến tranh. Thậm chí người ta bỏ tiền ra để tiến hành chiến tranh, xoá bỏ chế độ chính trị ở một nước, lập nên chế độ chính trị mới mà mở đường cho việc thâm nhập bằng phương tiện hoà bình của tư bản hiện đại vào nước đó.
Việc sản xuất ra tiền ảo làm bộc lộ bản chất mới của tiền tệ: bản chất thống trị của quốc gia này với quốc gia khác về mặt tiền tệ. Người ta cho rằng hiện nay hệ thống tiền tệ thế giới đang vô trật tự một cách nghiêm trọng, đã đến lúc phải có một hiệp ước về tiền tệ trên toàn cầu. Thực ra sự hỗn loạn này là tình trạng một đồng tiền đang có tham vọng thống trị toàn bộ nền kinh tế thế giới, và tình trạng hỗn loạn sẽ được giải quyết khi đồng tiền đó thực hiện được tham vọng của mình.
Có nhiều tổ chức muốn tạo ra tiền ảo, vấn đề là những tổ chức nào có thể làm được điều đó, và mức độ liên kết của nó đến đâu, và tổ chức nào chiếm địa vị chủ yếu. Từ đó, xuất hiện tình trạng sản xuất ra tiền ảo phổ biến, mạnh ai nấy làm.
Tư bản siêu vĩ mô mở rộng việc sản xuất tiền ảo đến mức mà xã hội chấp nhận được, đến mức mà các nước khác còn chấp nhận được. Việc đổi tiền ảo thành tiền thật diễn ra phổ biến, nhất là việc người ta sẵn sàng chịu lỗ để làm được điều đó. Luật chống phá giá là để chống lại việc đổi tiền ảo thành tiền thật. Người ta sẵn sàng dùng 10 đồng nội tệ ảo để đổi lấy một đồng tiền thật của nước ngoài mặc dù tỷ giá hối đoái chính thức là 3 đồng nội tệ ăn một đồng tiền thật của nước ngoài đó.
Tiền ảo không phải là thứ cho không mà là thứ phải biến thành tư bản. Vấn đề biến tiền ảo thành tư bản sẽ có những bước đi khác với biến tiền ảo thành tiền thật. Việc dùng tiền ảo do chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất ra để cải thiện đời sống nhân dân phải phát triển qua tư bản chứ không thể tiến hành trực tiếp được, vì như thế trái với nguyên tắc bí mật của tiến trình tạo ra tiền ảo, phá vỡ tiến trình sản xuất ra tiền ảo. Tiền ảo không trực tiếp cải thiện được đời sống nhân dân mà chỉ có thể cải thiện được một bộ phận nào đó trong nhân dân vì nhân dân tiêu tiền mặt, mà lượng tiền mặt này liên quan tới sự phát hành tiền mặt của nhà nước, mà lượng phát hành này bị khống chế để phòng chống lạm phát.
Theo quan niệm thông thường, khi chi tiêu thì sẽ mất đi, nhưng tiến trình tạo ra tiền ảo làm cho người ta thấy rằng có những thứ mà có thể làm được nhiều hơn là chuyện cổ tích, hết thì lại có cách làm đầy.
Thời của Lênin, khi tiền tệ là công cụ để tạo nên các kết hợp vĩ mô ngày càng được nhận thức rõ hơn, nên những quan niệm của Lênin về kinh tế đã luôn thay đổi. Điều đó gợi ra những lý do sâu xa của thị trường hiện đại là môi trường để thiết tạo các tạo phẩm vi mô, vĩ mô và siêu vĩ mô, và mỗi bước tiến mới đòi hỏi phải có loại thị trường tương ứng.
Tiền ảo đóng vai trò nào trong việc tạo nên các tạo phẩm phi vật thể siêu vĩ mô? Vì một chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có thể sản xuất ra được tiền ảo của nhiều nước khác nhau, nên tiền ảo có vai trò trọng yếu trong việc tạo nên các tạo phẩm phi vật thể siêu vĩ mô, nhanh chóng và rộng khắp. Nhìn bề ngoài, cả nước Mỹ rộng lớn là một phòng thí nghiệm tạo nên những thí nghiệm xã hội của việc tạo nên những nhu cầu mới, kết hợp hàng triệu, hàng chục triệu người với nhau và nước Mỹ hình thành phòng thí nghiệm về các giải pháp công nghệ mới và phòng thí nghiệm về cách thức thu lợi nhuận lớn nhất của thế giới.
Nhưng thực chất tất cả những cái đó là công cụ để việc biến tiền ảo thành tư bản được diễn ra thuận lợi. Trình độ sản xuất tiền ảo của các trùm tư bản ở các nước phát triển đã ở trình độ rất cao nên các nước đó mới có các bộ luật tích cực phòng chống rửa tiền. Luật pháp chống rửa tiền của Mỹ chặt chẽ là do các trùm tư bản Mỹ muốn độc quyền sản xuất ra tiền ảo trên toàn cầu, tư bản Mỹ đủ sức làm được điều đó, và huy động được nhà nước Mỹ thực hiện nhiệm vụ đó. Việc sản xuất ra tiền ảo của Mỹ đạt được trình độ rất cao, bộ máy sản xuất tiền ảo đã hoạt động hoàn hảo, sử dụng những công cụ đặc biệt và sử dụng thành công nhà nước Mỹ trong việc bảo vệ tiến trình sản xuất tiền ảo.
b. Biến tiền ảo thành tư bản
Tạo ra được tiền là một chuyện, nhưng tiêu được tiền đó hay không lại là chuyện khác, bơm được tiền ảo vào nền kinh tế và biến tiền đó thành tư bản thì lại là chuyện khác nữa. Đó là điều không dễ dàng mà đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và tổ chức rộng lớn, ở đấy có nhiều bí quyết mà phải trải qua nhiều thử nghiệm, thậm chí đau đớn mới rút ra được. Muốn tiêu được tiền ảo, muốn biến tiền ảo thành tư bản đòi hỏi cần phải thực hiện nhiều khâu, nhiều tiến trình phức tạp, và điều quan trọng là phải có thực lực về kinh tế, khoa học, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm và có tổ chức xã hội thích hợp.
Tiền không phải là tư bản, tiền chỉ chuyển hoá thành tư bản trong những điều kiện nhất định. Tư bản chỉ biến thành tiền trong những hoàn cảnh nhất định. Tư bản sử dụng tiền chỉ trong một giai đoạn nào đó, sử dụng tiền là một công cụ của nó. Tư bản là một tạo phẩm phi vật thể xã hội mà có quá trình tích luỹ riêng biệt của nó theo thời gian. Khi tạo phẩm phi vật thể đó chuyển hoá thành tiền thì những lượng to lớn của chúng làm người ta ngạc nhiên. Mối quan hệ của tư bản hậu công nghiệp và tiền tệ hoá là như thế nào? Sở dĩ tiền ảo có thể biến thành tư bản được vì tư bản hậu công nghiệp làm được việc biến các sức mạnh xã hội môi trường thành một cái gì đó của riêng nó, làm gia tăng chính bản thân nó và nó coi những sức mạnh xã hội của môi trường thành một giá trị của nó, thành một thứ gia tăng các giá trị của nó. Người ta cố tình hạn chế việc tiền tệ hoá tư bản, đặc biệt là những lĩnh vực công nghệ cao, để còn nô dịch các nước kém phát triển hơn, để những nước đó chấp nhận dễ dàng sự nô dịch.
Điểm khác biệt giữa việc tạo ra tiền của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô và sự tạo ra tiền của giới tội phạm là ở chỗ chủ thể có sự phối hợp với sự điều hành kinh tế vĩ mô của nước đó. Khi họ gửi một lượng tiền thật ra trung tâm tài chính hải ngoại để đầu tư vào các công ty ảo hoạt động ở đấy và nhận được "lãi" trở lại thì đồng tiền lãi đó là tiền thật. Còn các công ty ở các trung tâm tài chính hải ngoại hoạt động thế nào thì chỉ có chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản sinh ra nó mới được biết. Về thực chất, với những nước có hoạt động kinh tế siêu vĩ mô, ngay trong tiền ngân sách hàng năm cũng có lượng tiền nào đó có nguồn gốc tiền ảo.
Các trung tâm tài chính hải ngoại có vai trò trọng yếu trong việc tạo ra tiền, tạo ra tư bản của các trùm tư bản hiện đại. Rửa tiền là sản phẩm phụ, hay là thứ ký sinh vào hoạt động tài chính-tiền tệ siêu vĩ mô của chủ thể, cũng như số đề ký sinh vào hoạt động xổ số của nhà nước. Hoạt động đầu tư nước ngoài, trực tiếp hay gián tiếp, là bình phong để che đậy thực chất tạo ra tiền mới, tạo ra tư bản mới của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Trong đời sống xã hội hàng ngày vẫn diễn ra điều cấp trên thì yêu cầu cấp dưới phải minh bạch, trung thành trong khi mình thì thực hiện những chuyện phù thuỷ. Tổ chức siêu bí mật muốn mọi tổ chức khác phải minh bạch, còn nó thì thực hiện những mưu đồ ma quỷ.
Điểm hơn hẳn tuyệt đối của các thế lực tư bản đầu sỏ đã khiến cho các thế lực tội phạm chỉ hoạt động trong một khuôn khổ có giới hạn. Thế lực tội phạm không tìm cách chiếm quyền của nhà nước vì quyền của nhà nước nằm trong tay một tổ chức bí mật hùng mạnh hơn là chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của nước đó mà chủ thể đó có cách quét sạch các thế lực tội phạm, làm mất cơ sở xã hội của chúng. Nhưng vì giới trùm tư bản cần sản xuất ra tiền ảo, cần sản xuất ra tư bản mới để biến tiền ảo thành tiền thật, nên cần phải có những thiết chế để làm những việc đó, và đó là môi trường để giới tội phạm có thể lợi dụng để làm ăn, để rửa tiền. Tất cả đều cần phải có "lý do chính đáng", và do đó, sự hình thành các trung tâm tài chính hải ngoại là cần thiết. Khi nắm nhà nước nào đó trong tay, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có thể làm được nhiều điều tác động đến nền kinh tế, cả tiêu cực lẫn tích cực khó mà hình dung hết được.
Khi người ta làm ra tiền ảo và quy mô tiền ảo to lớn và lại để tiêu ở nước ngoài thì đó là công việc phải đòi hỏi độ bí mật cao độ, và có nhiều thủ thuật, biện pháp che đậy. Người ta mua bán tiền ảo, tiêu dùng tiền ảo để biến thành tư bản. Khi người ta cho rằng các doanh nghiệp thực hiện FDI sẵn sàng chịu lỗ kéo dài để bảo đảm nguồn cung ổn định cho các thị trường trọng điểm là điều đúng đắn thì đồng thời người ta đã mở đường cho việc tiêu thụ tiền ảo. Nhưng khi chuyển các đồng tiền của các nước do các doanh nghiệp thu được ra nước ngoài thì tổ chức điều hành kinh tế siêu vĩ mô có thêm loại tiền mới để điều hành kinh tế vĩ mô của các nước đó.
Vòng xoáy tự tạo ra tiền mới là những bí quyết riêng của mỗi xã hội. Các đồng tiền ảo từ các trung tâm tài chính hải ngoại sử dụng các tài nguyên thật của các nước khác. Nhưng muốn hoạt động ra nước ngoài, tạo ra được tiền của các nước khác thì không thể qua nhà nước được mà cần phải có những biện pháp khác bằng cách phát triển các trung tâm tài chính hải ngoại và hoạt động đầu tư nước ngoài. Tư bản không thụ động trông chờ vào nhà nước, tư bản tự cứu lấy mình. Các thế lực tư bản không những tạo ra được tiền mới của nước mình mà còn tạo ra được tiền mới của các nước khác nữa. Chỉ có bước đầu tiên là khó khăn, và một khi đã có tiền lệ rồi thì con đường trở nên hanh thông rộng mở. Những xã hội thành công trong việc khép kín chu trình này sẽ có lợi thế hơn hẳn những xã hội khác trong việc phát triển tư bản mới, và do đó đem lại sự thống trị của tư bản mới, và có sức mạnh mới thâm nhập được vào các nước khác, giành được địa vị hơn hẳn so với các nước khác.
Trong hoạt động thực tiễn, Lênin đã nhiều lần nhắc đến câu ngạn ngữ: "Đi với chó sói phải rú lên như chó sói", hoạt động kinh tế thị trường phải khám phá ra những biện pháp, thủ đoạn mà các thế lực tư bản sử dụng để làm gia tăng tư bản và vận dụng những biện pháp đó để đem lại lợi ích cho đất nước, cho dân tộc. Vì thế cần phải thâm nhập được vào hoạt động ở các trung tâm tài chính hải ngoại, có cách thức vận hành được kinh tế siêu vĩ mô.
Có những luật chơi được quy định sẵn trong thế giới tư bản hiện đại là ở mức sản xuất các sản phẩm vật thể và phi vật thể thì cần có sự cạnh tranh kịch liệt vì đó là tiền đề để phát triển lên những loại tư bản đẳng cấp cao hơn. Nhưng ở mức sản xuất ra các tiền ảo, và biến các loại tiền đó thành tư bản "thật" thì phải có sự hợp tác chặt chẽ, phải có sự phối hợp hành động. Khi tiền tệ hoá tối đa các loại tư bản mà trong nước hiện có thì người ta không còn khoảng lùi nữa. Vì thế những biến động về tiền tệ gây ra những biến động về tư bản dẫn tới những khó khăn của tư bản trong điều kiện có biến động tỷ giá hối đoái. Khi biến động tỷ giá gây ra bất lợi thì những tư bản chưa tiền tệ hoá, mà thường là tư bản có khả năng vươn tới đẳng cấp cao hơn, đã tạo ra được khoảng lùi, che chắn được khủng hoảng.
Vấn đề biến ảo thành thật đòi hỏi phải tổ chức khéo léo mang tính chuyên môn nghiệp vụ cao. Hoạt động tạo ra tiền đó lại được che đậy khôn khéo bằng cách gán cho những hành vi tội phạm mà cộng đồng quốc tế cần phải nỗ lực bài trừ. Nhưng đồng thời cũng bộc lộ ra bản chất vụ lợi tư bản của các thế lực khác nhau trong các quốc gia khiến cho công việc này không thể nào giải quyết được. Như vậy cần phải biết chung sống với thực tế đó. Hành động tạo ra tiền mới, tạo ra tư bản mới của các trùm tư bản được che đậy một cách hoàn hảo.
Người ta làm cho dân chúng thấy rằng những công việc này là những công việc của giới tội phạm mà không thấy rằng đó là một công cụ mà các thế lực đại tư bản sử dụng một cách phổ biến. Nhờ hệ thống các trung tâm tài chính hải ngoại, tư bản trở nên tàng hình được. Vì đã tàng hình được, nên tư bản sẵn sàng để cho những thành viên trong xã hội sở hữu tư bản thực. Còn các loại tiền ảo, và quy trình biến tiền ảo thành tư bản thật nằm trong tay các "ảo thuật gia" trùm tư bản. Khi cần thiết các trùm tư bản phát động các cuộc khủng hoảng, phát động các cuộc ăn cướp đại quy mô khi làm cho các loại cổ phiếu nào đó sụt giá không thương tiếc, để những người sở hữu cổ phiếu nhỏ bán đổ bán tháo cổ phiếu mình đang nắm giữ với giá bèo bọt. Khi tư bản có khả năng tàng hình thì nó lập ra các luật chơi mới cho xã hội, thực hiện được những chuyện ném đá giấu tay trong các hoạt động gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, tháo chạy đầu tư với các nước khác.
Khi tổ chức của các trùm tư bản đã xác lập được địa vị thống trị độc tôn của mình, thì nó chi phối các đảng phái, đánh người vào trong các đảng phái, và tạo dựng nên kiểu dân chủ mà có nhiều đảng phái, nhưng nền dân chủ này không đụng chạm được tới những gì đang thực sự diễn ra trong thế giới tư bản hiện đại. Nhưng khi đem tiêu chuẩn dân chủ là có nhiều đảng phái tuyên truyền đối với các nước kém phát triển hơn, khi mà các nhà tư bản nước đó chưa đủ mạnh để kết hợp lại được với nhau trở thành chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của nước đó, thì làm cho các nước này không thấy được thực sự điều gì đang diễn ra với tư bản, làm chậm đi sự phát triển của các nước đó, các nước đó không thể làm cho các thứ ảo biến thành các giá trị thật, do đó các nước này bị phụ thuộc vào tư bản nước ngoài. Một khi đại tư bản đã thiết lập được vị thế điều hành kinh tế siêu vĩ mô của một nước, và do đó đã có cách tạo ra được tiền mới, tạo ra được tư bản mới, thì nó có những biện pháp để cho tự do dân chủ sinh sôi nảy nở, vì các thứ tự do dân chủ đó không đụng chạm được đến thực chất của điều gì đang diễn ra với đại tư bản, hơn thế nữa, sự tự do dân chủ này đánh loãng đi thực chất tư bản đã đạt được trình độ siêu vĩ mô, vì thứ dân chủ dường như vô hạn đó khiến cho người ta không tin rằng có cái gì đó qua mặt được mình, khiến cho không thể đưa ra được tiêu chuẩn để thể hiện đại tư bản điều hành siêu vĩ mô là có thật.
Người ta không dễ muốn nói gì thì nói, không dễ muốn làm gì thì làm vì nói không đúng, không có bằng chứng xác đáng thì sẽ bị kiện. Khi điều thực chất được che đậy, bằng cách nêu ra những tiêu chuẩn của khoa học là phải có những bằng chứng xác thực, trong khi mọi chuyện được che đậy siêu bí mật, thì người ta tự kiểm duyệt mình, không thể phát ngôn suy đoán khi không biết điều gì thực sự xảy ra. Vì thế chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô không ngại tự do, dân chủ, nhân quyền kiểu Phương Tây có thể làm được điều gì đụng chạm được đến thực chất đang diễn ra với đại tư bản.
Bằng việc phát triển các trung tâm tài chính hải ngoại, tư bản đã làm được việc phi thường là biến tiền từ không thành có, biến tư bản từ không thành có, mà khi cần thiết có thể tạo ra lượng tiền mới, tạo ra tư bản mới để cứu tư bản cũ, để gia tăng tư bản. Các trung tâm tài chính hải ngoại là công cụ để thực hiện điều hành kinh tế siêu vĩ mô, và cùng với nó là đầu tư trực tiếp nước ngoài để hút ra các đồng tiền của các nước ra khỏi nước đó một cách hợp pháp, có lý và từ đó có cơ hội tiến hành các hoạt động tạo ra tiền tệ và tư bản mới.
Một khi đã sản xuất ra được tiền mới, sản xuất ra được tư bản mới thì các trùm tư bản đứng trước những vấn đề hoàn toàn mới. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh để kiếm tiền không còn là mối quan tâm hàng đầu nữa, mà vấn đề nổi lên là làm thế nào để không làm mất giá đồng tiền mà mình tạo ra, làm thế nào để các đồng tiền ảo đó là các đồng tiền thật, là tư bản và chuyển ý thức trách nhiệm về tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh sang các nước kém phát triển hơn. Người ta tiêu dùng các đồng tiền ảo đó ở nước khác, ở những nước kém phát triển hơn, và thu về của cải thật, thu về tài sản thật. Nhưng như thế chưa đủ, người ta còn biến quyền lực của người mua thành một thứ áp đặt các tiêu chuẩn mà buộc người bán phải tuân thủ, như các yêu cầu về lao động, về vệ sinh an toàn, về trách nhiệm xã hội,... và các tiêu chuẩn này ngày càng nâng cao.
Những hoạt động tạo ra tiền, rửa tiền, hay những dịch vụ nào đó đã che giấu một hành động làm ra lượng tiền mới đối với xã hội. Vấn đề giới hạn ở chỗ lượng tiền và tư bản được tạo ra như thế nào để không gây hậu quả xấu đối với xã hội. Các kênh thu hút tiền ra hải ngoại ở các thiên đường thuế khoá và ngược lại, chuyển từ hải ngoại về nước đã tạo ra cách điều hành kinh tế siêu vĩ mô, luôn luôn tạo ra tiền mới và tư bản mới. Không có các trung tâm tài chính hải ngoại thì không thể quay vòng đồng vốn ngân sách nhiều vòng trong một năm. Không có các trung tâm tài chính hải ngoại thì các trùm tư bản không thể sản xuất ra tiền mới, không thể sản xuất được những tư bản mới, không thể sản xuất được những thứ ảo nhưng mà có giá trị thật. Nhu cầu về các trung tâm tài chính hải ngoại của các tổ chức trùm tư bản ở nhiều nước làm cho nhiều quốc gia, lãnh thổ bé nhỏ nhanh chóng trở nên phồn vinh khi biến mình trở thành trung tâm tài chính hải ngoại.
Để tiến trình tạo nên tiền ảo mà có khả năng trở thành tiền thật thì việc tổ chức hệ thống các công ty, ngân hàng, tổ chức tài chính, hoạt động trên các trung tâm tài chính hải ngoại, đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp, và hoạt động tại chính quốc phải có những mối liên hệ chặt chẽ để phối hợp hành động, mà khi cần thiết có thể nhanh chóng thể hiện bằng số lượng tài sản thật hữu hình khổng lồ. Các đại công ty là những nhân vật quan trọng tham gia vào tiến trình biến tiền ảo thành tư bản trên quy mô quốc tế. Số lượng công ty, ngân hàng phải đủ lớn, quy mô hoạt động của chúng phải lan toả toàn xã hội, và hoạt động trong nhiều nước, nhiều vùng lãnh thổ thì mới có thể hoạt động siêu vĩ mô có hiệu quả, không bị những hậu quả nổ vỡ bong bóng ảo. Trong dây chuyền tạo nên tiền mới, tư bản mới, các tổ chức, các doanh nghiệp và những cá nhân liên quan tới số tiền được tạo ra sẽ được nhận phần nào đó trong số tiền mà họ đã cùng sản xuất ra. Tiến trình này được tái tạo, được kích hoạt liên tục vì cần hết sức tránh những giá trị ảo mà trở thành giá trị thật do ngộ nhận nhất thời của công chúng. Những giá trị ảo này phải trở thành "thật" do sự tự giác của công chúng. Khi người ta có nhiều tiền, người ta quan tâm tới cách sử dụng tiền. Khi người ta có ít tiền, người ta quan tâm tới vận động của tiền với tư cách là những khối lượng tiền và những gì nó có thể làm được.
Một xã hội khuyến khích mọi người làm giầu, tạo cơ hội để làm giầu và luôn nêu gương những người thành công biết làm giầu từ tay trắng ở mọi công việc, mọi lĩnh vực thì mới làm cho người dân tin rằng xã hội đó có thể tiêu hoá được lượng tiền rất lớn. Khi việc làm giầu của cá nhân được coi là việc của cá nhân thì cá nhân đó không thể có được lượng tài sản khổng lồ. Việc làm giầu của cá nhân phải được coi là việc của xã hội vì không một cá nhân nào có đủ những phẩm chất để thuyết phục người khác, quy tụ được người khác chung lưng đấu cật để làm giầu cho cá nhân ở quy mô lớn. Cá nhân làm giầu phải là người đại diện ở một phạm vi cục bộ cho thế lực kinh tế nào đó. Chính chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đã đem lại phẩm chất đặc biệt cho các cá nhân trong việc thuyết phục người khác, và công việc này phải là công việc của xã hội, phát triển những gì đó để người nào đó muốn làm giầu cho mình thì đồng thời phải làm giầu cho nhiều người khác, làm giầu cho cộng đồng. Vì vậy chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô ở các nước phát triển nhất luôn luôn tạo ra những tấm gương làm giầu nhanh chóng trong hoàn cảnh hiện đại để dễ bề biến tiền ảo thành tư bản thật.
Việc chuyển hoá ảo thành thật không phải là một quá trình không đau đớn, mà ngược lại, nhiều khi nó đòi hỏi xã hội phải trả giá bằng các cuộc khủng hoảng. Các cuộc khủng hoảng kinh tế phải được nhìn nhận theo cách mới: đó là sự phá huỷ mang tính sáng tạo, là sự tập hợp lực lượng của tư bản mới khuất phục tư bản cũ, là sự mở đường thâm nhập của tư bản mới vào xã hội.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô chỉ đạo, hỗ trợ cho các hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, vì đó là hoạt động mang tính sống còn của chủ thể, vì hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của chủ thể là mắt khâu trọng yếu trong việc biến các đồng ngoại tệ ảo do chủ thể tạo ra thành các đồng ngoại tệ thật. Do tạo ra được tiền ảo và dùng tiền đó đầu tư trong nước và ngoài nước, nên ở những nước có sự hoạt động của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, tốc độ phát triển thực tế vượt xa những con số được công bố công khai. Có thế thì mới giải thích được tại sao trong một vài thập kỷ mà có những nước đã phát triển nhanh đến như vậy.
Sự phát triển của các phương tiện xử lý dữ liệu và viễn thông làm cho chủ thể thiết lập hệ thống thông tin, điều khiển và kiểm soát được những tiến trình kinh tế rất phức tạp một cách có hiệu quả mà cách đây chưa lâu người ta vẫn không hình dung được. Khi nắm trong tay quyền lực kinh tế to lớn, thì chủ thể biết cách thiết lập trật tự để có thể kiểm soát được các tiến trình kinh tế chủ chốt. Bằng việc tạo ra tiền mới, rút tiền ra khỏi các kênh lưu thông, bơm tiền vào khi cần thiết, chủ thể làm được rất nhiều việc phối hợp với nhà nước ổn định và giữ vững điều hành kinh tế vĩ mô của nước đó.
Thực chất là chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của một nước không những tạo ra được tiền của nước mình mà còn tạo ra được tiền của nước khác và do đó đã tạo nên được công cụ khủng khiếp để bóc lột nhân dân nước mình và nhân dân các nước khác, tạo nên những khoảng cách khó san lấp giữa các nước giàu và nước nghèo nếu những nước nghèo không có những biện pháp điều hành kinh tế siêu vĩ mô quyết liệt. Nhưng các chủ thể đó đã che giấu điều đó dưới tầng tầng lớp lớp các tư tưởng.
Khi đã tạo ra được tiền và biến được tiền đó thành tư bản, và phân phối tiền đó cho những đối tác có liên quan, dùng tiền đó mua được các loại tài sản và các loại giấy tờ có giá thì đã tạo nên một hình thái mới của tham nhũng. Hiện tượng tham nhũng là một dấu hiệu rằng một bộ phận xã hội đang tham gia vào một hoạt động ở bình diện mới, dù muốn hay không, dưới sự chỉ đạo của các chủ thể nào đó, có thể là từ bên ngoài. Tiền ảo là công cụ để các nước giầu tiến hành xâm lăng về kinh tế với các nước nghèo hơn. Một nước đang phát triển kinh tế thị trường không có cách nào ngăn cản được các đồng tiền ảo dưới rất nhiều hình thức khác nhau đổ vào, dù dưới hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài hay là các dự án của các tổ chức phi chính phủ. Thậm chí là khoản tiền của chính phủ vì nhiều khoản tiền thuế thu được của chính phủ thực chất có nguồn gốc từ các đồng tiền ảo.
Nước Mỹ mua tài sản của nước khác để bảo đảm tiến trình tiền ảo của họ biến thành tư bản được diễn ra thuận lợi. Các nhà tư bản Mỹ tìm người bản địa để giao quyền cho họ. Việc sản xuất ra tiền ảo dẫn tới sự thống nhất của các nhóm tư bản lại thành một khối duy nhất vì như vậy mới bảo đảm được sự gia tăng, ổn định, bành trướng liên tục tư bản, mới bảo đảm được sự gia tăng khủng khiếp của tư bản, trong đó mức siêu lợi nhuận vẫn được người ta quan niệm thật ra chẳng thấm tháp vào đâu, và mở rộng sự thống trị, gây ảnh hưởng của tư bản đó ra tầm quốc tế và với những nước phát triển nhất thì mở rộng ra toàn cầu. Điều dễ hiểu là tư bản ở các nước phát triển nhất không dễ đầu tư vào các nước đang phát triển ở trình độ còn thấp vì không bõ công phải làm như vậy. Vì thế dù có mời gọi đầu tư, dù có ưu đãi này nọ thì không bao giờ là đủ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư ở các nước phát triển cả. Chỉ khi nào nước đang phát triển ở trình độ còn thấp sản xuất ra cơ hội để tiến trình sản xuất ra tiền ảo của các tư bản nước ngoài đủ lớn thì mới có cơ may thu hút được dòng đầu tư từ các nước phát triển nhất.
Các nhóm tư bản trong một nước đều có khả năng sản xuất ra tiền ảo bằng việc cấp tràn lan các loại tín dụng không có bảo chứng. Cuộc khủng hoảng 1929-1933 thể hiện rằng tiến trình làm tiền ảo vô tổ chức dẫn đến tai hoạ cho tất cả. Việc cung cấp tiền ảo trong xã hội không phải là một lượng vô hạn mà chỉ là có hạn nên cần có sự điều tiết. Thứ quyền lợi vô cùng to lớn là vị thế sản xuất được tiền ảo này vô cùng hấp dẫn. Đó là nhu cầu để thống nhất các nhóm tư bản trong một nước lại để phân chia tài sản xã hội, để tránh được tai hoạ chung cho tất cả. Người ta đã phân chia sẵn tài sản trước khi tài sản đó có thật. Điều này đòi hỏi một động thái hoàn toàn khác với suy nghĩ thông thường. Vấn đề hàng hoá biến thành tiền là một bước nhảy chết người, theo như cách nói của Mác, mà không phải hàng hoá nào cũng vượt qua được, mà đó là nhu cầu thiết yếu để một loại tư bản nào đó duy trì sức sống và sự tồn tại của mình, thì nay các nhà tư bản đã làm được điều này trước khi mà các hàng hoá đó ra đời.
Việc chuyển tiền ảo cho các doanh nghiệp là điều không đơn giản. Không có lý gì một doanh nghiệp được nhận tiền, nếu không có những lý do đặc biệt vì điều này là vấn đề rất nhạy cảm trong xã hội, sẽ gây ra những xáo động, bất công cho xã hội, và các thế lực chính trị lợi dụng. Tiến trình này phải trải qua nhiều bước mới dẫn đến sự hoàn thiện về sau. Đầu tiên là người ta dùng nhà nước để làm các công việc sản xuất, kiểm soát và điều phối tiền ảo. Nhưng khi phát minh ra các tạo phẩm phi vật thể có giá của chúng, khi mà xã hội chấp nhận rằng giá trị thương hiệu của một hãng có giá hơn tất cả các giá trị tài sản vật chất hữu hình của một hãng thì tổ chức của các trùm tư bản mới tìm ra cách thức chuyển tiền ảo cho các doanh nghiệp được, từ đó tổ chức này trực tiếp làm được công việc sản xuất, kiểm soát và điều phối tiền ảo, không cần qua trung gian là nhà nước nữa.
Thông qua thị trường chứng khoán, tổ chức của các trùm tư bản bơm tiền vào cho doanh nghiệp. Vì thế các doanh nghiệp mới có khả năng cạnh tranh, mới chống được việc làm hàng nhái, hàng giả. Việc một hàng hoá của doanh nghiệp làm ăn có uy tín bị làm nhái, làm giả thì những sản phẩm bị làm nhái, làm giả đó vẫn đem lại cho doanh nghiệp giá trị thương hiệu. Giá trị đó cần phải được đánh giá và được tính đến và chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô làm việc đó. Đó chính là cách thức bảo vệ được các doanh nghiệp có cơ hội phát triển thành các tập đoàn kinh doanh mạnh trong tương lai.
Trong nước đang phát triển, chỉ riêng việc các doanh nghiệp tìm ra cách chống lại các loại hàng nhái hàng giả đã là rất vất vả. Kinh tế siêu vĩ mô đã trang bị cho các doanh nghiệp đạt được hiệu quả bằng cách tạo ra được những cách thức bơm tiền vào cho doanh nghiệp đó qua việc thúc đẩy thị giá chứng khoán cao lên và do đó có những hoạt động thúc đẩy doanh nghiệp đó phát triển. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có cách bù đắp doanh thu của các doanh nghiệp bị mất do hàng hoá của họ bị làm giả, làm nhái bằng việc kích cho cổ phiếu của các công ty đó tăng lên. Hàng nhái, hàng giá trong một nước không làm cho GDP chính thức của nước đó tăng lên, vì người ta không thể đưa các số liệu đó vào thống kê chính thức được, trong khi đó nước bị làm hàng giả hàng nhái cũng không làm gia tăng số liệu GDP chính thức được.
Nhưng chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô lại làm được việc bổ sung vào xã hội các khoản tiền mà ngân sách thất thu, bổ sung vào xã hội các khoản tiền mà lẽ ra xã hội thu được từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chưa bị đánh thuế. Chủ thể loại trừ tham nhũng bằng cách làm cho các loại tham nhũng trở nên quá nhỏ bé so với việc làm đàng hoàng, đồng thời khiến cho tham nhũng phải tính đến sự đối mặt với nhiều nguy cơ.
Trong hoạt động kinh tế siêu vĩ mô, che đậy thực chất sản xuất ra tiền ảo có tầm quan trong không kém việc sản xuất ra tiền ảo. Trong những nước sản xuất được tiền ảo, người dân vẫn phải đóng thuế và điều đó tạo nên nghĩa vụ gắn kết xã hội. Để hấp dẫn được công chúng, khi phát hành lần đầu cổ phiếu của các hãng đầu tư thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất ra tiền để kích giá cổ phiếu lên cao. Khi cổ phiếu đi vào ổn định, tự thân vận động được thì chủ thể không còn bơm tiền để giữ giá nữa, thậm chí rút tiền đã bơm vào.
Khi tiến hành phân bổ tiền ảo, việc đầu tư ra nước ngoài là một hướng được ưu tiên. Định hướng xuất khẩu nhằm mục tiêu sản xuất ra tiền ảo của nước khác, và biến các tiền ảo đó thành tư bản bổ sung cho loại tư bản còn thiếu trong nước. Các công ty của Nhật có vốn vài chục nghìn đô la Mỹ đầu tư vào Việt Nam là để Nhật Bản không muốn mất đi những đồng đô la thật. Sở dĩ đầu tư vào Việt Nam là thay thế nhập khẩu vì đó là các hành vi biến tiền ảo thành tư bản.
Khi tiền ảo biến thành tài sản thật thì tiền ảo đó đã biến thành tiền thật, từ đó tạo ra vòng quay mới của tiền tệ. Tiền ảo nhưng có giá trị thanh toán thật. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có biện pháp giành độc quyền cho mình làm các công việc đó và dùng các công cụ mà mình chi phối trong tay để hạn chế các thế lực khác sản xuất ra tiền ảo của nước mình.
Những lĩnh vực nào mà tiền ảo dễ biến thành tiền thật, như vốn lưu động cho những doanh nghiệp chịu sự điều phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô thường được ưu tiên phân phối tiền ảo.
Có các đại công ty có thể sản xuất ra tiền ảo như "bốc phét doanh thu", sử dụng các công ty kiểm toán để hợp thức hoá những số liệu ma, và nhiều thủ thuật khác, nhưng chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có biện pháp đưa vào trật tự. Một khi bị loại khỏi guồng bơm tiền ảo, không còn nhận được tiền ảo, bất kỳ doanh nghiệp nào, dù to lớn đến đâu, cũng bị sụp đổ.
Sản xuất ra tiền ảo là giải phóng các sức mạnh bị kìm giữ, do đó tạo nên những sức mạnh kinh tế mới của xã hội. Việc biến tiền ảo thành tư bản cần phải có rất nhiều thứ bổ trợ như tri thức khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, bí quyết nghề nghiệp,...
Các nước Phương Tây muốn biến tiền ảo thành tư bản thì cần phải có những thứ bổ trợ là công nghệ cao, công nghệ nguồn là những thứ mà họ không dễ dàng đưa đến các không gian địa lý khác vì nỗi lo bị mất cắp các bí quyết công nghệ, bí mật kinh doanh. Các công nghệ cao và công nghệ nguồn phục vụ cho việc sản xuất ra các kết hợp vĩ mô và siêu vĩ mô. Các ngành công nghiệp quốc phòng sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể và vật thể để tạo nên được các kết hợp vĩ mô, duy trì được các kết hợp vĩ mô.
c. Các giới hạn
Hoạt động của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có những giới hạn nhất định. Một xã hội có thể sản xuất ra một lượng rất lớn tiền ảo và có cách đưa vào nền kinh tế mà không gây ra phản ứng tiêu cực trong xã hội, nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó. Điểm hạn chế của tư bản do tiền ảo mà một chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô nào đó tạo ra không thể cao hơn trình độ tư bản mà chủ thể đó chi phối, kể cả việc chủ thể đó sản xuất ra được những đồng tiền của những nước có trình độ phát triển tư bản đẳng cấp cao hơn. Việc sản xuất tiền ảo không thể cao hơn trình độ chung của khoa học công nghệ nước đó, và không thể cao hơn tình trạng chung của nền kinh tế nước đó. Có nghĩa là nếu một chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của một nước đang phát triển có thể sản xuất ra đồng đô la Mỹ ảo thì tư bản của đồng đô la Mỹ ảo đó chỉ có thể là tư bản ở đẳng cấp của nước đang phát triển đó thôi, chứ không thể đạt được bằng các loại tư bản ở đẳng cấp của nước Mỹ được.
Tình trạng này đang xảy ra với Nhật Bản, nước có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới. Ngay cả với đồng tiền thật thì tuỳ theo chủ thể sở hữu mà đồng tiền đó có đẳng cấp khác nhau. Đồng đô la Mỹ do Trung Quốc sở hữu có đẳng cấp thấp hơn đồng đô la Mỹ do Pháp sở hữu, và đồng đô la Mỹ do Pháp sở hữu có đẳng cấp thấp hơn đồng đô la Mỹ do Mỹ sở hữu. Đồng đô la Mỹ do Trung Quốc sở hữu không thể mua được những bí quyết công nghệ cao, thiết bị công nghệ nguồn cao do tư bản Pháp sở hữu. Đồng đô la Mỹ do Pháp sở hữu không thể mua được những bí quyết công nghệ cao, thiết bị công nghệ nguồn cao do tư bản Mỹ sở hữu.
Nhu cầu về các loại tư bản thuộc những đẳng cấp cũ không phải là vô hạn mà là có giới hạn. Khi số lượng các đồng tiền này đạt tới những giới hạn nhất định thì lạm phát bùng nổ, dẫn tới sự đổ vỡ của các loại tư bản cũ. Sự đổ vỡ của tư bản cũ kéo theo những hiệu quả xã hội trầm trọng như nạn thất nghiệp, giá cả leo thang, mà lúc đó rất nhiều người có ý thức về sự thiệt thòi của mình sẽ dẫn đến những xáo động xã hội. Cách thức duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là phải duy trì được mức phát triển tư bản sang những đẳng cấp mới.
Vì tư bản xuất phát từ tiền ảo là tư bản ứng trước, vậy nó có thời gian tính, nếu sự phát triển chậm hơn những gì đã ứng trước thì có sự dồn tích tư bản, gây ra những vấn đề dẫn tới khủng hoảng. Trong tiến trình khủng hoảng, việc tạo ra tiền lại bị giới hạn thì có những ngân hàng sẽ không có đủ khả năng giải quyết khó khăn của mình, dẫn đến tình trạng bị phá sản hàng loạt.
Các nước lớn tìm cách hạn chế việc tạo tiền ảo của nhau, hạn chế việc biến các loại tiền ảo đó thành tư bản hậu công nghiệp có đẳng cấp cao. Tiền ảo không dễ mua được các cổ phiếu khi đã phát hành đợt đầu của các công ty cổ phần của các nước khác. Việc các nước mua trái phiếu của chính phủ Mỹ bằng đồng đô la, mua tài sản của nước Mỹ là để ép Mỹ có biện pháp hạn chế bớt việc tạo tiền ảo và biến ảo thành thật. Nó làm cho tư bản Mỹ phải tính tới các yếu tố có khả năng gây ra khủng hoảng cho chính nước Mỹ.
Các nước tư bản phát triển các biện pháp chống rửa tiền tạo thành tiền của họ từ các nước khác, từ các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước khác, đặc biệt ngăn cản các đồng tiền ảo có thể tiếp cận được các nguồn tài sản thực như các công nghệ cao, các nhà máy, hay các tài sản mà cần có một số lượng tiền lớn mới mua bán được như các trang thiết bị lớn. Tư bản từ các đồng tiền ảo sử dụng các nguồn lực của nước nhận đầu tư, hầu như không sử dụng gì đến các tư bản đẳng cấp cao như công nghệ cao, công nghệ nguồn của các loại tư bản ở đẳng cấp cao, như xây dựng khách sạn, đầu tư vào bất động sản và các loại hình kinh doanh khai thác thị trường của nước sở tại. Xét đến đầu tư của các trung tâm tài chính hải ngoại thì Mỹ là nước có đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm vị trí thứ ba ở Việt Nam chứ không phải là nước đứng hàng thứ mười một như thống kê hiện nay.
Việc tạo ra tiền có những giới hạn của nó. Trước hết tổng lượng các đồng tiền đó phụ thuộc vào đẳng cấp tư bản của nước có đồng tiền đó. Các đồng tiền này chỉ biến thành các loại tư bản mà nước đó đã đạt được, không lan toả ra các đẳng cấp khác được. Việc tạo ra tiền luôn luôn làm cho thế giới ở trong nguy cơ thừa tiền. Điều khó khăn là không để xã hội mất niềm tin về chuyện thừa tiền, vì như thế làm mất luôn giá trị chung của đồng tiền. Các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của mỗi nước cạnh tranh với nhau, và sử dụng những biện pháp tổng hợp để triệt hạ nhau, song cũng thoả thuận phân chia thế giới theo từng đẳng cấp tư bản khác nhau. Các chủ thể này có những biện pháp ngăn ngừa việc tạo ra tiền ảo của nước mình do các chủ thể khác tạo ra chỉ hoạt động giới hạn ở những đẳng cấp tư bản nhất định. Vì thế những khoản thanh toán lớn phải chịu sự kiểm soát thông qua yêu cầu phải nhận được sự bảo lãnh nào đó thì mới có thể thực hiện được. Ngoài ra, chu trình tạo ra tiền ảo của các nước khác phụ thuộc vào đẳng cấp tư bản, vào các khả năng thâm nhập vào các vùng địa lý và lãnh thổ của các doanh nhân khi đầu tư trực tiếp.
Khi kinh tế đất nước phát triển, người ta cần rất nhiều chuyên môn mới, cần rất nhiều người tài thì người ta dùng tiền ảo đầu tư cho giáo dục để nâng mặt bằng dân trí lên, nhưng để đạt được tới đỉnh cao trong các chuyên môn nhất định thì người ta cần phải tạo nên một môi trường mới đòi hỏi những người có tài phải nỗ lực nâng mình lên để đáp ứng nhu cầu đó, không phải là cứ có tiền mà làm được.
Việc tạo ra tiền ảo gây ra những vấn đề xã hội mà nếu không xử lý thích đáng thì sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng. Về góc độ xã hội thì xuất hiện hiện tượng mới của tham nhũng. Do lượng tiền ảo ngày càng nhiều đổ vào các nước đang phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, nên đã tạo cơ sở cho hiện tượng tham nhũng phát triển tràn lan. Trong kinh tế siêu vĩ mô có quan niệm mới về sự thất thoát các nguồn lực. Tham nhũng đồng tiền thuế của dân và tham nhũng đồng tiền ảo là hai việc khác hẳn nhau, song chúng đều làm rộng ra các khoảng cách bất bình đẳng xã hội. Điều này đòi hỏi chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải có cái nhìn toàn diện về các vấn đề kinh tế xã hội khi tạo ra tiền ảo và biến chúng thành tư bản.
Để phát triển kinh tế bền vững, vượt qua được các giới hạn mà điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại, vượt qua được những ảo thuật về tài chính tiền tệ của nền kinh tế hiện đại thì cần phải đạt được những gì thực chất, tức là phải đạt được trình độ cao trong việc sản xuất các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, đạt được đẳng cấp cao hơn của tư bản hậu công nghiệp.
Nhật Bản và Trung Quốc có các đồng đô la Mỹ không dùng đến vì có cách sản xuất ra các đồng đô la Mỹ ảo dùng ở các nơi khác, nên các nước này gửi đồng đô la Mỹ thật vào Mỹ. Số lượng đồng đôla Mỹ của Trung Quốc tiêu được trên đất Mỹ là một lượng nhất định, không được vượt quá lượng nhất định đó.
Vấn đề là làm thế nào để tiêu hoá được tiền ảo. Quy mô xã hội tiêu hoá tiền ảo là gì? Khủng hoảng ở Áchentina năm 2001 là do nước này đã không tạo ra được những đẳng cấp tư bản cần thiết tương ứng với số tiền ảo đã được tạo ra và được đưa vào từ nhiều nguồn khác nhau. Một khi đã tạo ra được tiền ảo thì vấn đề đặt ra là phải giữ được giá trị tiền ảo để kiểm soát được sự lạm phát, và phải làm cho quảng đại quần chúng thấy rằng kiếm tiền là việc khó khăn và thường xuyên nâng ngưỡng giầu của xã hội lên để cho người dân có động lực phấn đấu. Vấn đề đặt ra là một xã hội chấp nhận được lượng tiền bao nhiêu, chấp nhận được những giá trị thặng dư là bao nhiêu, mà vượt số đó sẽ dẫn tới khủng hoảng. Do số lượng tiền ảo khổng lồ đã và đang được tạo ra và tương quan của số lượng đó với tài sản của những doanh nghiệp hoạt động bình thường trong các nền kinh tế không thể là quá lớn và nhanh chóng tích tụ trong thời gian ngắn nên các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải thành lập rất nhiều doanh nghiệp, rất nhiều tổ chức mới để phân tán lượng tiền ảo khổng lồ đó.
Vì sản xuất ra được tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản nên kiếm tiền không phải là mục đích của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Mục đích của chủ nghĩa tư bản hiện đại là tìm mọi cách để việc gia tăng lượng tiền thuộc các chủng loại khác nhau của nó được các xã hội nào đó chấp nhận, do đó cần phải áp đặt các giá trị của mình cho xã hội, biến những thứ ảo thành thật, biến tiền ảo thành tư bản, qua đó không những bóc lột giai cấp vô sản ở chính quốc, mà đã mở rộng ra những giai tầng xã hội mới, và bóc lột các dân tộc khác với quy mô chưa từng có. Việc áp đặt này theo những con đường rất khác nhau, mà chủ yếu làm cho việc kiếm tiền của các nước phát triển kém hơn trở nên rất khó khăn, vì thế không lấy gì làm lạ là mặc dù nhiều nước mở rộng cửa đón nhận đầu tư nước ngoài mà các đầu tư đó không vào.
Các nước phát triển dùng đạo luật chống bán phá giá để ngăn chặn việc biến tiền ảo của các nước khác thành tiền của nước mình.
Vai trò của ngân hàng không còn như trước nữa, hoạt động của ngân hàng không còn tài trợ cho các đại công ty nữa, mà chủ yếu phục vụ cho các công ty vừa và nhỏ, và các cá nhân và hộ gia đình.
Thời của Lênin là mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản với nhau. Có những mâu thuẫn lớn hơn là mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ một nước, khi cả một nước là đối tượng nô dịch mới của các trùm tư bản nước ngoài, nơi mà tiêu thụ tiền ảo. Nếu như trước đây, các thế lực trùm tư bản phân chia của ăn cướp bao giờ cũng là việc khó khăn thì hiện nay với sự sản xuất ra tiền ảo, tính chất của ăn cướp cũng khác đi, người ta phân chia những thứ mình không có, nhưng lại có thể biến thành có trong tương lai. Sự phân phối cũng phải quan niệm khác đi.
Sản xuất và vận hành các thiết chế của kinh tế siêu vĩ mô
Làm thế nào để xã hội tiêu hoá được tiền ảo và biến tiền đó thành tư bản? Kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải có những thiết chế xã hội tương ứng. Xã hội cần có những hệ thống ổn định thì mới có cơ xây dựng được những thiết chế mới. Tiến trình phát triển kinh tế siêu vĩ mô phá vỡ những chuẩn mực cũ và xác lập lại các giá trị cũ, thiết lập những giá trị mới.
a. Phát triển các thiết chế thị trường hiện đại
Thị trường là một tổng thể các dạng phi vật thể xã hội tạo nên môi trường để cho các tiến trình trao đổi tạo phẩm vật thể, trao đổi tạo phẩm phi vật thể và trao đổi các nguồn tạo nên chúng vận hành được. Thị trường là tạo phẩm phi vật thể phổ quát tạo ra được các tạo phẩm phi vật thể mới cho xã hội, kích hoạt, dẫn hướng các dạng phi vật thể khác, đưa chúng vào vận hành tự động, thu hút, tập trung được các nguồn lực để duy trì, đóng gói, sao lưu, phát tán, các dạng phi vật thể khác, chuyển hoá các trạng thái của các dạng phi vật thể khác trong toàn xã hội, dẫn hướng các dạng vật thể và phi vật thể của xã hội. Thị trường có thể tạo ra được và phân phối được các luồng vật phẩm vật thể và phi vật thể khác nhau. Thị trường là một dạng phi vật thể xã hội khiến cho tiến trình trao đổi sản phẩm, tiến trình chuyển trạng thái trong việc sản xuất và trao đổi diễn ra một cách tự động. Chung quy lại, cần phải có nghiên cứu mang tính đột phá về thị trường với tư cách là môi trường để sự trao đổi chất của xã hội diễn ra tự động, tự kích hoạt và tự điều chỉnh. Trong tiến trình này, xã hội tạo ra một tạo phẩm xã hội là tiền để làm trung gian, làm chất xúc tác để cho tiến trình trao đổi có thể diễn ra tự động.
Tiền có hình thái vật thể và phi vật thể. Trong quá trình tiến hoá, tiền tiếp nhập nhiều dạng phi vật thể xã hội khác vào nó, mở rộng tầm tác động trong xã hội, tạo nên được các kết hợp xã hội giữa các vật thể với nhau, giữa các vật thể với các dạng phi vật thể. Tạo phẩm phi vật thể tiền này đem lại cho các vật thể hay các phi vật thể giá trị nào đó, và làm cho các giá trị này có thể so sánh được với nhau. Tiền có sức mạnh làm cho một người từ bỏ quyền sở hữu một cái gì đó và nhận lấy tiền. Tiền có thể điều vận người ta hành động tác động tới các dạng vật thể, tác động tới các dạng phi vật thể, làm ra được các kết hợp mới đối với vật thể, đối với các tạo phẩm phi vật thể, đối với xã hội. Tiền có nhiều loại và có các đẳng cấp khác nhau tuỳ theo tầm tác động của mỗi loại.
Trong thời đại ngày nay, cần phải chỉ rõ ra thị trường đã tạo ra các nguồn lực của nó như thế nào và làm cách nào để tiến trình mà các thành viên của xã hội thu hút và sử dụng các nguồn lực đó có hiệu quả. Thị trường là thành quả của nền văn minh nhân loại mà người ta có thể khai thác theo nhiều khía cạnh khác nhau. Khi các chủ thể trên thị trường phân tán thì người ta khai thác theo kiểu tự nhiên, mạnh ai lấy làm. Khi các chủ thể liên hiệp được với nhau thành một chủ thể mới thì người ta có thể định hướng thị trường theo mục tiêu nào đó, chẳng hạn dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thị trường là môi trường tạo nên những quyền lực xã hội, đưa những quyền lực xã hội nào đó nổi lên chiếm ưu thế, và quyết định những mối quan hệ xã hội. Môi trường này tương tác với các môi trường khác của xã hội như các quyền lực nhà nước. Thị trường là môi trường để một loại tạo phẩm phi vật thể xã hội là tư bản phát sinh phát triển và chuyển hoá lên những trình độ mới. Vấn đề là phải phát triển cách thức đào thải các cá nhân, các tổ chức không đủ năng lực hành vi hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Đó là sự sinh tồn của một nền kinh tế lành mạnh khi biết cách ly và loại bỏ những nhân tố gây yếu kém mà đe doạ sự sống còn của cả nền kinh tế, cũng như phải loại bỏ những loại ung thư ra khỏi cơ thể người. Tiến trình tạo nên cơ chế loại bỏ các yếu kém này là điều mà xã hội nào cũng thấy cần thiết mà cơ chế thị trường là thành quả văn minh của con người đã tạo ra.
Có rất nhiều loại thị trường, và trong mỗi thị trường lại phân thành các tầng mức khác nhau. Mỗi thị trường lại còn được phân chia theo độ hoạt động của nó, thông suốt hay là bị phân cắt. Ngoài việc phát triển các thị trường, phát triển các công cụ khai thác thị trường, làm gia tăng nhanh chóng dung lượng của các loại thị trường, người ta còn làm phát triển các đẳng cấp thị trường.
Người ta có thể nghiên cứu, xem xét thị trường theo các loại hình thị trường, hoặc là theo các chủ thể tham gia thị trường. Đối tượng mua bán hiện nay không chỉ là các hàng hoá và dịch vụ mà là cả các nguồn tạo ra các hàng hoá và dịch vụ, tức là các doanh nghiệp, các tổ chức, các hội đoàn. Người ta mua bán các tạo phẩm vật thể, người ta mua bán các tạo phẩm phi vật thể, người ta mua bán các nguồn sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, tức là người ta mua bán cả các doanh nghiệp, từ các xí nghiệp nhỏ cho tới các đại công ty đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các hội đoàn. Người ta mua bán các loại giấy tờ có giá như các cổ phiếu, các trái phiếu,... Các tổ chức từ thiện cũng sở hữu tư bản từ những người hiến tặng và có cách làm ra tiền chứ không chỉ là tiêu tiền không thôi. Các tổ chức phi chính phủ cũng có cách thu hút tiền từ những nguồn khác nhau, và những tạo phẩm phi vật thể do chúng tạo ra cũng là nguồn tạo ra các tư bản mới.
Trong nền kinh tế hiện đại, tạo phẩm phi vật thể có hình thức mua bán đặc thù, thông qua tài trợ, đặc biệt là các tạo phẩm phi vật thể xã hội. Người ta phải thiết lập cơ chế chuyển tiền cho các tổ chức tạo ra các tạo phẩm phi vật thể cho xã hội, và xã hội nào làm tốt được công việc này thì sẽ có những bước tiến nhanh chóng bước vào nền kinh tế mới. Người ta có thể mua bán quyền sở hữu, mua bán quyền sử dụng, không những có loại hình mua bán quyền nào đó vô thời hạn mà có loại hình mua bán quyền nào đó có thời hạn. Người ta không những mua bán cái hiện tại mà còn mua bán cả cái tương lai, mua bán cả những thứ mà hiện giờ chưa hiện diện. Người ta không chỉ mua toàn bộ một doanh nghiệp, mà người ta mua một phần, không chỉ mua bán doanh nghiệp trong nước mà còn mua bán doanh nghiệp ở nước ngoài, mua bán doanh nghiệp ở nhiều nước khác nhau. Có những thứ ai có tiền cũng mua được như những đồ gia dụng, nhưng có những thứ không phải ai có tiền cũng mua được, như các loại hàng hoá đặc chủng có công nghệ đặc biệt cao, công nghệ nguồn, công nghệ cao. Những loại hàng hoá được mua bán trên thị trường có những đặc tính vật thể và phi vật thể mới hết sức khác nhau, nên nếu bệ nguyên xi góc độ xem xét nhìn nhận tư bản như những năm cuối thế kỷ mười chín và những năm đầu thế kỷ hai mươi, mà không phát triển lên trình độ mới, là điều không còn phù hợp nữa.
Khi các vụ mua bán các đại công ty được sắp xếp để cứu tư bản nào đó, chuyển các loại tư bản đẳng cấp thấp lên các loại tư bản đẳng cấp cao hơn thì phải có cái nhìn mới về thị trường. Nghịch lý về giá cổ phiếu là chứng tỏ thị trường có một thế lực hùng mạnh chi phối. Khi làm sụt giá một cổ phiếu, những người sở hữu cổ phiếu nhỏ sẽ bán tống bán tháo các cổ phiếu đó đi, và các nhà đại tư bản mua lại các cổ phiếu giá hạ đó, rồi có biện pháp vực lại giá cổ phiếu, thậm chí còn đẩy được giá cổ phiếu đó lên cao hơn nữa. Mọi việc được phối hợp chặt chẽ và diễn ra tự nhiên. Có một chủ thể mua và bán đặc biệt hoàn toàn mới là chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô. Chủ thể này quyết định bán những tổ chức nào và những tổ chức nào liên kết với nhau để thực hiện các hành vi mua. Khi xuất hiện nhân vật chính mới trong thị trường thì tính chất của thị trường khác đi. Chủ thể can thiệp tích cực vào thị trường trong những vụ mua bán lớn, và làm thay đổi tính chất của buôn bán nhỏ khi hoạt động buôn bán này bị chi phối đến mức không thể tuỳ tiện nâng giá hàng hoá khi xã hội có khó khăn về nguồn cung cấp nào đó. Chủ thể có thể chế mới kiểm soát và điều tiết tư bản. Một loại tư bản nào đó có thể chết dần, nhưng toàn bộ tư bản thì không nếu biết cách tạo ra các loại tư bản mới. Một khi tư bản mới được tạo ra, chúng đem lại sự tăng trưởng mới trong GDP, người ta phải tìm cách hãm bớt đà tăng trưởng của tư bản mới bằng cách tạo ra những dạng phi vật thể mới thay thế dạng phi vật thể mà đang đại diện cho tư bản đó. Điều đó dẫn đến một xã hội nô dịch các xã hội khác, có mức sống cao hơn mức sống mà mình đáng được hưởng.
Trong nền kinh tế hậu công nghiệp, khi các tạo phẩm phi vật thể đóng vai trò thống trị, tiêu dùng lại là cách thức thúc đẩy đầu tư tốt nhất cho xã hội, vì như thế nó thúc đẩy tiến trình biến tiền ảo thành tư bản để thực hiện đầu tư mới tạo nên những tạo phẩm phi vật thể thế hệ mới. Bằng việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể xã hội nào đó, người ta có thể định hướng thị trường theo nhiều mục đích khác nhau. Thị trường định hướng tư bản chủ nghĩa có những biện pháp và thủ đoạn riêng. Thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần có những biện pháp và thủ đoạn mới, vượt qua được những giới hạn chật hẹp của cách khai thác thị trường theo lối tư bản.
Dạng phi vật thể để người ta trao đổi hàng hoá trên thị trường có những đặc tính gì? Tiền là một sức mạnh xã hội, và với bất kỳ thước đo nào, nó cũng chỉ có một độ lớn được xác định. Vì thế người ta phải tìm mọi cách giữ cho giá trị đồng tiền không bị mất giá.
Hy vọng vào sự phát triển các loại thị trường là cứu cánh cho sự phát triển đuổi kịp là điều không đủ, không thực tế trong thời đại hiện nay. Vấn đề là phải thiết lập được được các chủ thể mới hoạt động trên thị trường. Nếu như nhà nước có cái gì đó phủ định kinh tế thị trường thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại sức sống mới cho thị trường, khi nó dùng rất nhiều biện pháp thị trường để giải quyết các vấn đề kinh tế.
b. Phát triển các chủ thể mới trong kinh tế thị trường hiện đại
Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều loại chủ thể tham dự vào các hoạt động thị trường. Có những chủ thể truyền thống như các cá nhân, các nhóm người, hộ gia đình, các công ty, doanh nghiệp, nhà nước,... mà thuộc vào những chủ thể điều hành kinh tế vi mô và vĩ mô. Có những chủ thể phi truyền thống như các tổ chức không có địa vị pháp lý, như các tổ chức bí mật chi phối các hoạt động kinh tế ở các tầng mức khác nhau, trong đó nổi bật lên vai trò của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, các tổ chức tội phạm,.. và các hội đoàn phi lợi nhuận. Bằng việc phát triển quan hệ quốc tế và phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện vận tải, hình thành các tổ chức không có địa vị pháp lý do tính chất đa quốc gia, và luôn biến đổi phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ thể có tầm quan trọng ngày càng lớn trên các loại thị trường. Chủ thể vi mô là chủ thể có tầm hoạt động trong một địa phương, trong một vùng của một nước. Chủ thể vĩ mô là chủ thể có tầm tác dụng phổ quát trong một nước. Chủ thể siêu vĩ mô là chủ thể có tầm tác dụng phổ quát trong một nước và vươn ra nước ngoài. Các công ty xuyên quốc gia là các chủ thể siêu vĩ mô. Trong mỗi loại chủ thể trên thì chủ thể điều hành kinh tế vi mô, chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có tầm quan trọng đặc biệt.
Thời đại mới có những phương tiện mới để bắt người khác rơi vào vòng chi phối, chịu sự kỷ luật và chấp nhận sự điều động. Nếu không như vậy thì sẽ bị mất hết các loại tài sản, bị đẩy ra ngoài đường. Cách kết hợp theo kiểu nào đó thì sẽ tạo nên được sức mạnh mới. Cách kết hợp do điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại khác với cách kết hợp do điều hành kinh tế vĩ mô đem lại. Cách kết hợp siêu vĩ mô là kết hợp gián tiếp thông qua thị trường, cách kết hợp vĩ mô là kết hợp trực tiếp, mệnh lệnh, phi thị trường.
Chủ thể vi mô
Chủ thể vĩ mô sản xuất ra các loại tạo phẩm có tầm vi mô. Các tạo phẩm này phục vụ cho các cá nhân, tổ chức gia đình. Nhưng các sản phẩm này có thể kết nối tạo thành một hệ thống để đạt được tầm cao hơn là vĩ mô, siêu vĩ mô. Việc sản xuất ra các chủ thể này hoàn toàn là một quá trình mang tính tự nhiên, đáp ứng các nhu cầu của thị trường. Bằng việc đưa ra luật Doanh nghiệp, tháo rỡ các rào cản là hàng loạt doanh nghiệp mới được thành lập và đi vào hoạt động. Cần có những cách thức hỗ trợ các chủ thể này trong bước đường hoạt động đầu tiên để có thể phát hiện ra các chủ thể mà có khả năng phát triển thành các chủ thể có tầm hoạt động vĩ mô và siêu vĩ mô.
Chủ thể vĩ mô
Chủ thể vĩ mô là chủ thể sản xuất ra các kết hợp mang tầm vĩ mô của xã hội. Đó là các hệ thống điện của cả nước, các hệ thống phân phối hàng lớn trong quốc gia, hệ thống giao thông, các đường trục viễn thông, cấp thoát nước,.. và các "phần mềm" để cho hệ thống đó vận hành được. Đó là các chủ thể sản xuất ra các lĩnh vực sản xuất ra các loại tạo phẩm phục vụ cho tầm vĩ mô, như các loại trang thiết bị an ninh, quốc phòng, phòng cháy chữa cháy công cộng,... Đó là các chủ thể sản xuất ra các hệ thống ngân hàng và tài chính có tầm hoạt động khắp quốc gia... Đó là các chủ thể sản xuất ra các loại tạo phẩm có tầm hoạt động khắp quốc gia. Đó là các chủ thể sản xuất ra các lĩnh vực sản xuất ra các luật lệ, các quyết định có tầm ảnh hưởng đến môi trường hoạt động của đời sống xã hội. Đó là các chủ thể sản xuất ra sự kết nối các tạo phẩm vật thể, các tạo phẩm phi vật thể thành một hệ thống có tầm mức quốc gia.
Cần phải chủ động sản xuất ra các chủ thể này, chứ không thể để phát triển tự nhiên được, và trong tiến trình vận hành thử các chủ thể này, cần phải có những bảo đảm các nguồn lực cho chúng, chấp nhận những chuyện thử nghiệm không thành công, và cũng cần loại bỏ các chủ thể vĩ mô không còn thích hợp với sự tiến triển của kinh tế thị trường.
Chủ thể siêu vĩ mô
Chủ thể siêu vĩ mô sản xuất ra các tạo phẩm siêu vĩ mô. Đó là các tổ chức, các thiết chế có tầm hoạt động liên quốc gia như các đại doanh nghiệp, và quan trọng nhất là chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của một nước.
Người ta vẫn quan niệm rằng một đại công ty được hình thành là vì mục đích lợi nhuận trong tương lai, vì thế nó có thể chấp nhận được những thua lỗ ban đầu. Sở dĩ nó làm được điều đó vì đại công ty là bộ phận của việc biến tiền ảo thành tư bản.
Khi đòi hỏi các tổng công ty đưa ra các dự án làm ăn có hiệu quả mà không một tổng công ty nào có thể làm được là vì không có một tổng công ty, không có một tập đoàn nào trên thế giới làm ăn có hiệu quả hết theo cách tính toán ở tầm vi mô. Các đại công ty, các tập đoàn sử dụng được các sức mạnh xã hội để tạo nên hiệu quả của nó, mà những thứ này nằm ngoài tầm vi mô. Cái hiệu quả mà một tập đoàn tạo ra là ở chỗ những tạo phẩm phi vật thể do nó tạo ra mà được tính cao hơn mức bình thường. Kinh tế học siêu vĩ mô đem lại tính hiệu quả mới cho các tập đoàn. Nếu không có đạo luật chống bán phá giá, không có các đạo luật bảo vệ sở hữu trí tuệ và chống làm hàng nhái hàng giả, và không có những phát minh mới trong hoạt động kinh tế siêu vĩ mô thì rất nhiều lĩnh vực kinh tế ở các nước phát triển đã và sẽ bị các nước đang phát triển đánh gục. Nếu không có sự hạn chế di dân thì các công ăn việc làm ở các nước phát triển sẽ bị làn sóng người nhập cư ồ ạt từ các nước đang phát triển cướp hết. Điều mà các đại công ty muốn đạt được là sự thống trị và sự thống trị đó được hoạt động kinh tế siêu vĩ mô tiếp thêm nguồn lực và duy trì các điều kiện phát triển của chúng.
Không phải một quốc gia nào cũng có thể phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô, một mặt gặp phải sự chống phá dữ dội của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước phát triển hơn, trong đó có rất nhiều phương thức gây ra chia rẽ xã hội để xã hội đó không đủ thống nhất lâu dài để có thể tiến hành được điều hành kinh tế siêu vĩ mô.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô hình thành theo con đường tự nhiên hay con đường nhân tạo qua các hoạt động đảng phái. Khi hình thành chủ thể điều hành siêu vĩ mô theo con đường chủ động thì cần phải làm những gì, và làm như thế nào là một vấn đề mà các nước đang phát triển phải giải quyết theo kiểu riêng đặc thù của mỗi nước. Khi Mỹ chiếm đóng Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Mỹ giải tán các Zaibatsu là để làm mất cơ sở xã hội của sự liên kết tư bản của Nhật, để tư bản Nhật phải phụ thuộc tư bản Mỹ, nhưng hoạt động bí mật của tư bản Nhật đã làm được những điều vượt ra khỏi khuôn khổ do tư bản Mỹ ấn định.
Dưới sự điều hành kinh tế siêu vĩ mô, tính hiệu quả phải nhìn nhận khác đi. Dưới sự chi phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô nào đó, nhiều đại công ty dù hoạt động không có lãi, nhưng do chủ thể đó có cách tạo ra tiền riêng nên điều dễ hiểu là các đại công ty của nước đó không hẳn đã quan tâm tới hiệu quả, vì chủ thể có cơ chế điều phối tiền riêng cho chúng. Điều hành kinh tế vĩ mô không đủ để doanh nghiệp thắng trên sân nhà. Muốn thắng trên sân nhà và thắng trên sân đối phương thì phải tiến hành điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Lộ trình thực hiện điều hành kinh tế siêu vĩ mô tuỳ theo lượng tiền ảo được sản xuất ra. Khi bí mật là nguồn sức mạnh thì người ta vừa có thể hoạt động công khai, vừa có thể hoạt động bí mật được. Một trong những bí mật của sự phát triển kinh tế hiện đại là các doanh nghiệp liên kết với nhau vì được hưởng loại tiền ảo nào đó. Do đó chúng liên kết thành các tập đoàn hay bị mua lại, và chúng sử dụng các trung tâm nghiên cứu thị trường riêng.
Những công ty hoạt động trong môi trường siêu vĩ mô sẽ được hưởng tác động của một hiệu ứng là hiệu ứng dự phần. Hiệu ứng dự phần biểu hiện bằng cách tiếp quản các doanh nghiệp khác với giá rẻ. Hay nói đúng ra doanh nghiệp mới được thành lập là theo ý đồ của các đại tập đoàn để rồi sau một thời gian hoạt động độc lập phát triển đến mức độ nào đó thì doanh nghiệp đó sẽ được đại tập đoàn mua lại. Sở dĩ nhiều nước đang phát triển không có những tập đoàn kinh tế đủ mạnh mà họ coi trọng việc giữ chữ tín vì không có những thiết chế ban thưởng cho doanh nghiệp khi họ giữ chữ tín và trừng phạt khi chữ tín bị xâm phạm. Uy tín của đại doanh nghiệp buộc nó phải bảo đảm sự cung cấp các hàng hoá và dịch vụ không gián đoạn, không trục lợi khi các thị trường trọng điểm ở các nước phát triển gặp khó khăn. Trong các xã hội đó, việc trục lợi sẽ phải trả giá rất đắt khi các tạo phẩm vô hình của nó bị mất giá nghiêm trọng. Những doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn quen lối làm ăn chụp giật vì đó là cách mà họ tồn tại được trong nền kinh tế thị trường.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất ra các mối liên kết xã hội mới vượt ra khỏi biên giới quốc gia và mang tầm quốc tế. Các sản phẩm này được tư bản hoá theo những lộ trình phức tạp mà luôn luôn được giấu kín coi như là những điều siêu mật. Các nước phát triển đầu tư vào nhau là để bóc ra các tư bản còn đang tiềm ẩn trong mỗi nước, biến những tạo phẩm phi vật thể mà mình đã sáng tạo ra và biến tư bản của mình sẽ thành tư bản ở các nước đó. Các trùm tư bản kêu gọi chống tham nhũng, minh bạch hoá, nhưng lại duy trì bí mật kinh doanh, bí mật ngân hàng. Các cá nhân và tổ chức và doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh tế siêu vĩ mô phải có số lượng đủ lớn, và có sự phối hợp chặt chẽ thì các hoạt động siêu vĩ mô mới có hiệu quả. Trong mối quan hệ quốc tế chủ thể tác động tới những hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. Giai cấp tư sản sáng tạo ra những tổ chức mới, thực hiện các chức năng xã hội mới, sáng tạo ra những công việc mới trong hoạt động kinh tế siêu vĩ mô.
Khi một đại công ty được kích giá lên cao, thì những khoản tiền chênh lệch được thu về sẽ chuyển lại nền kinh tế và tạo thêm được tiền mới, tạo nên vòng quay tiền tệ mới. Việc mua bán các công ty chứ không chỉ là mua bán các hàng hoá và dịch vụ đã làm nảy sinh cách thức mới trong tiến trình tạo ra tư bản, tạo ra tiền. Việc các nhóm công ty phối hợp với nhau theo một chỉ đạo chung đã làm cho sự hoạt động có những quy mô gia tăng nhanh chóng. Chúng tận dụng những lợi thế do biết trước được những thông tin nhạy cảm để gia tăng sức mạnh và ảnh hưởng. Chúng tạo nên áp lực xã hội mới. Chúng đẩy nhanh vòng quay của tiền tệ, sử dụng nguồn vốn ngân sách ban đầu để làm đà tăng trưởng cho mình. Chúng có các quy trình để tiền có thể thực hiện các tuyến đi và về khác nhau.
Chủ thể điều hành siêu vĩ mô phát triển các tổ chức chuyên môn tuỳ thuộc mình để thực hiện được sứ mệnh mà nó đảm nhận, triển khai, điều hành các hoạt động thực tiễn và tổng kết thực tiễn trong hoạt động hầu như không được công bố công khai. Có rất nhiều tầng mức chuyên môn, từ những việc liên quan tới nội bộ tổ chức tới những tổ chức thực hiện sự lan toả ra toàn xã hội. Nhiều tổ chức tạo nên các giá trị mới trong xã hội. Nhiều tổ chức tư vấn, đánh giá đủ loại giải quyết những vấn đề đặc thù chuyên biệt trong công tác thực tiễn của chủ thể. Các loại tổ chức đánh giá, tư vấn về những giá trị mới trong xã hội, gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học, các hội đoàn nghề nghiệp. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đặt ra các tiêu chuẩn để định hướng phân bổ tiền ảo. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô điều khiển, định hướng thị trường bằng các công cụ mới, tập trung được các nguồn lực của xã hội vào sự phát triển con người, khâu then chốt nhất cho sự phát triển hiện đại. Sự phát triển con người đem lại các kết hợp hoàn toàn mới cho xã hội, và có đủ nguồn lực và sức mạnh để tạo nên các kết hợp mới, thực hiện sự lan toả nhanh chóng các loại tư bản.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có chính sách tài chính riêng, tài trợ cho việc xây dựng các thiết chế kinh tế thị trường, bơm vốn vào các công ty, làm "mồi khởi động" cho các tiến trình kinh tế. Đột biến do chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại là ở điểm nào? Đột biến ở chỗ tạo ra được công cụ để tập trung được các sức mạnh, huy động được các sức mạnh và đưa chúng vào hoạt động.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô trở thành người tiêu dùng khổng lồ mới trên thế giới mà sẵn sàng hoạt động gia tăng đột biến khả năng của mình, tung ra sức mạnh với khối lượng lớn một cách nhanh chóng và đưa ra được những hành vi mới. Đó là những tác động rất nhanh chóng. Bằng việc tác động ngay, trực tiếp vào nền kinh tế, điều hành siêu vĩ mô là phủ định của phủ định thị trường, đưa thị trường phát triển lên trình độ mới. Chủ thể chấp nhận những sai lầm, những thất bại, và có đủ các phương tiện để bù đắp sự thiếu hụt tiền bạc.
Điều hành kinh tế siêu vĩ mô có hai việc chủ yếu: sản xuất ra tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản, và sản xuất ra tư bản đẳng cấp cao. Việc sản xuất ra tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản tương đối dễ dàng, vì nhà nước đã làm được điều này từ lâu, nhưng việc sản xuất ra tư bản đẳng cấp cao lại vô cùng khó khăn vì nó đòi hỏi sự sáng tạo.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất một loại giá trị thặng dư siêu vĩ mô mà đem lại sự kết hợp xã hội mới. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất ra giá trị thặng dư siêu vĩ mô tạo nên được các kết hợp mới giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Giá trị thặng dư này vượt qua giới hạn thời gian, vì thế nó có thể mở rộng hết tầm lan toả với từng loại tư bản cụ thể. Nếu không có điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì không thể có chuyện giá trị thương hiệu của một hãng cao gấp nhiều lần giá trị vật chất hữu hình của hãng đó. Nếu không phát triển được giá trị thương hiệu, giá trị của các tạo phẩm phi vật thể thì không thể tiêu được số lượng tiền ảo khổng lồ đã được tạo ra và sẽ được tạo ra.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô hình thành hàng trăm đại công ty chịu sự chi phối của mình và tổ chức các hoạt động kinh tế ra nước ngoài. Các đại công ty có những lộ trình phát triển tuỳ thuộc vào sự điều phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, một khi có được những cơ sở phát triển từ phía doanh nghiệp và những đánh giá triển vọng của các tổ chức chuyên môn. Quản lý hàng vạn doanh nghiệp thuộc sự chi phối của chủ thể hoàn toàn thực hiện được vì quản lý này nắm tình trạng tạo ra tiền ảo và tiến hành phân phối các tiền ảo đó trong xã hội. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô dẫn tới những bước tiến mới về quản lý. Công nghệ ngân hàng và tài chính hiện đại cho phép người ta có cách thực hiện quản lý tài sản tiền gửi và tài sản tài chính theo mã số. Một người có quyền lực trên danh nghĩa nhưng không được cấp mã số thì không thể chuyển được tiền theo các mục đích khác nhau. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô hoàn toàn nắm và điều hành các mã số tài khoản để thực hiện các thao tác tài chính tiền tệ của mình, không cần phải qua trung gian nào. Số lượng công ty rất lớn có thể phân tán về chủ sở hữu, nhưng tài sản và tư bản lại được quản lý tập trung, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô không để cho các tổ chức chịu sự điều phối của nó qua mặt.
Phương pháp hoạt động của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là gián tiếp. Dù rằng chủ thể được giữ trong vòng bí mật, nhưng động thái hoạt động của chủ thể là điều không thể che giấu được mà khoa học phải phát hiện ra hoạt động của chủ thể, dự đoán hành vi tương lai, chứ không phải là đặt ra vấn đề xoá bỏ chủ thể đó, hoặc xây dựng hay thiết tạo lại chủ thể. Khoa học nghiên cứu những điều kiện khách quan buộc chủ thể sẽ phải biến đổi và hoạt động như thế nào.
Sản xuất và vận hành các thiết chế của kinh tế siêu vĩ mô
Làm thế nào để xã hội tiêu hoá được tiền ảo và biến tiền đó thành tư bản? Kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải có những thiết chế xã hội tương ứng. Xã hội cần có những hệ thống ổn định thì mới có cơ xây dựng được những thiết chế mới. Tiến trình phát triển kinh tế siêu vĩ mô phá vỡ những chuẩn mực cũ và xác lập lại các giá trị cũ, thiết lập những giá trị mới.
a. Phát triển các thiết chế thị trường hiện đại
Thị trường là một tổng thể các dạng phi vật thể xã hội tạo nên môi trường để cho các tiến trình trao đổi tạo phẩm vật thể, trao đổi tạo phẩm phi vật thể và trao đổi các nguồn tạo nên chúng vận hành được. Thị trường là tạo phẩm phi vật thể phổ quát tạo ra được các tạo phẩm phi vật thể mới cho xã hội, kích hoạt, dẫn hướng các dạng phi vật thể khác, đưa chúng vào vận hành tự động, thu hút, tập trung được các nguồn lực để duy trì, đóng gói, sao lưu, phát tán, các dạng phi vật thể khác, chuyển hoá các trạng thái của các dạng phi vật thể khác trong toàn xã hội, dẫn hướng các dạng vật thể và phi vật thể của xã hội. Thị trường có thể tạo ra được và phân phối được các luồng vật phẩm vật thể và phi vật thể khác nhau. Thị trường là một dạng phi vật thể xã hội khiến cho tiến trình trao đổi sản phẩm, tiến trình chuyển trạng thái trong việc sản xuất và trao đổi diễn ra một cách tự động. Chung quy lại, cần phải có nghiên cứu mang tính đột phá về thị trường với tư cách là môi trường để sự trao đổi chất của xã hội diễn ra tự động, tự kích hoạt và tự điều chỉnh. Trong tiến trình này, xã hội tạo ra một tạo phẩm xã hội là tiền để làm trung gian, làm chất xúc tác để cho tiến trình trao đổi có thể diễn ra tự động.
Tiền có hình thái vật thể và phi vật thể. Trong quá trình tiến hoá, tiền tiếp nhập nhiều dạng phi vật thể xã hội khác vào nó, mở rộng tầm tác động trong xã hội, tạo nên được các kết hợp xã hội giữa các vật thể với nhau, giữa các vật thể với các dạng phi vật thể. Tạo phẩm phi vật thể tiền này đem lại cho các vật thể hay các phi vật thể giá trị nào đó, và làm cho các giá trị này có thể so sánh được với nhau. Tiền có sức mạnh làm cho một người từ bỏ quyền sở hữu một cái gì đó và nhận lấy tiền. Tiền có thể điều vận người ta hành động tác động tới các dạng vật thể, tác động tới các dạng phi vật thể, làm ra được các kết hợp mới đối với vật thể, đối với các tạo phẩm phi vật thể, đối với xã hội. Tiền có nhiều loại và có các đẳng cấp khác nhau tuỳ theo tầm tác động của mỗi loại.
Trong thời đại ngày nay, cần phải chỉ rõ ra thị trường đã tạo ra các nguồn lực của nó như thế nào và làm cách nào để tiến trình mà các thành viên của xã hội thu hút và sử dụng các nguồn lực đó có hiệu quả. Thị trường là thành quả của nền văn minh nhân loại mà người ta có thể khai thác theo nhiều khía cạnh khác nhau. Khi các chủ thể trên thị trường phân tán thì người ta khai thác theo kiểu tự nhiên, mạnh ai lấy làm. Khi các chủ thể liên hiệp được với nhau thành một chủ thể mới thì người ta có thể định hướng thị trường theo mục tiêu nào đó, chẳng hạn dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thị trường là môi trường tạo nên những quyền lực xã hội, đưa những quyền lực xã hội nào đó nổi lên chiếm ưu thế, và quyết định những mối quan hệ xã hội. Môi trường này tương tác với các môi trường khác của xã hội như các quyền lực nhà nước. Thị trường là môi trường để một loại tạo phẩm phi vật thể xã hội là tư bản phát sinh phát triển và chuyển hoá lên những trình độ mới. Vấn đề là phải phát triển cách thức đào thải các cá nhân, các tổ chức không đủ năng lực hành vi hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Đó là sự sinh tồn của một nền kinh tế lành mạnh khi biết cách ly và loại bỏ những nhân tố gây yếu kém mà đe doạ sự sống còn của cả nền kinh tế, cũng như phải loại bỏ những loại ung thư ra khỏi cơ thể người. Tiến trình tạo nên cơ chế loại bỏ các yếu kém này là điều mà xã hội nào cũng thấy cần thiết mà cơ chế thị trường là thành quả văn minh của con người đã tạo ra.
Có rất nhiều loại thị trường, và trong mỗi thị trường lại phân thành các tầng mức khác nhau. Mỗi thị trường lại còn được phân chia theo độ hoạt động của nó, thông suốt hay là bị phân cắt. Ngoài việc phát triển các thị trường, phát triển các công cụ khai thác thị trường, làm gia tăng nhanh chóng dung lượng của các loại thị trường, người ta còn làm phát triển các đẳng cấp thị trường.
Người ta có thể nghiên cứu, xem xét thị trường theo các loại hình thị trường, hoặc là theo các chủ thể tham gia thị trường. Đối tượng mua bán hiện nay không chỉ là các hàng hoá và dịch vụ mà là cả các nguồn tạo ra các hàng hoá và dịch vụ, tức là các doanh nghiệp, các tổ chức, các hội đoàn. Người ta mua bán các tạo phẩm vật thể, người ta mua bán các tạo phẩm phi vật thể, người ta mua bán các nguồn sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, tức là người ta mua bán cả các doanh nghiệp, từ các xí nghiệp nhỏ cho tới các đại công ty đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các hội đoàn. Người ta mua bán các loại giấy tờ có giá như các cổ phiếu, các trái phiếu,... Các tổ chức từ thiện cũng sở hữu tư bản từ những người hiến tặng và có cách làm ra tiền chứ không chỉ là tiêu tiền không thôi. Các tổ chức phi chính phủ cũng có cách thu hút tiền từ những nguồn khác nhau, và những tạo phẩm phi vật thể do chúng tạo ra cũng là nguồn tạo ra các tư bản mới.
Trong nền kinh tế hiện đại, tạo phẩm phi vật thể có hình thức mua bán đặc thù, thông qua tài trợ, đặc biệt là các tạo phẩm phi vật thể xã hội. Người ta phải thiết lập cơ chế chuyển tiền cho các tổ chức tạo ra các tạo phẩm phi vật thể cho xã hội, và xã hội nào làm tốt được công việc này thì sẽ có những bước tiến nhanh chóng bước vào nền kinh tế mới. Người ta có thể mua bán quyền sở hữu, mua bán quyền sử dụng, không những có loại hình mua bán quyền nào đó vô thời hạn mà có loại hình mua bán quyền nào đó có thời hạn. Người ta không những mua bán cái hiện tại mà còn mua bán cả cái tương lai, mua bán cả những thứ mà hiện giờ chưa hiện diện. Người ta không chỉ mua toàn bộ một doanh nghiệp, mà người ta mua một phần, không chỉ mua bán doanh nghiệp trong nước mà còn mua bán doanh nghiệp ở nước ngoài, mua bán doanh nghiệp ở nhiều nước khác nhau. Có những thứ ai có tiền cũng mua được như những đồ gia dụng, nhưng có những thứ không phải ai có tiền cũng mua được, như các loại hàng hoá đặc chủng có công nghệ đặc biệt cao, công nghệ nguồn, công nghệ cao. Những loại hàng hoá được mua bán trên thị trường có những đặc tính vật thể và phi vật thể mới hết sức khác nhau, nên nếu bệ nguyên xi góc độ xem xét nhìn nhận tư bản như những năm cuối thế kỷ mười chín và những năm đầu thế kỷ hai mươi, mà không phát triển lên trình độ mới, là điều không còn phù hợp nữa.
Khi các vụ mua bán các đại công ty được sắp xếp để cứu tư bản nào đó, chuyển các loại tư bản đẳng cấp thấp lên các loại tư bản đẳng cấp cao hơn thì phải có cái nhìn mới về thị trường. Nghịch lý về giá cổ phiếu là chứng tỏ thị trường có một thế lực hùng mạnh chi phối. Khi làm sụt giá một cổ phiếu, những người sở hữu cổ phiếu nhỏ sẽ bán tống bán tháo các cổ phiếu đó đi, và các nhà đại tư bản mua lại các cổ phiếu giá hạ đó, rồi có biện pháp vực lại giá cổ phiếu, thậm chí còn đẩy được giá cổ phiếu đó lên cao hơn nữa. Mọi việc được phối hợp chặt chẽ và diễn ra tự nhiên. Có một chủ thể mua và bán đặc biệt hoàn toàn mới là chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô. Chủ thể này quyết định bán những tổ chức nào và những tổ chức nào liên kết với nhau để thực hiện các hành vi mua. Khi xuất hiện nhân vật chính mới trong thị trường thì tính chất của thị trường khác đi. Chủ thể can thiệp tích cực vào thị trường trong những vụ mua bán lớn, và làm thay đổi tính chất của buôn bán nhỏ khi hoạt động buôn bán này bị chi phối đến mức không thể tuỳ tiện nâng giá hàng hoá khi xã hội có khó khăn về nguồn cung cấp nào đó. Chủ thể có thể chế mới kiểm soát và điều tiết tư bản. Một loại tư bản nào đó có thể chết dần, nhưng toàn bộ tư bản thì không nếu biết cách tạo ra các loại tư bản mới. Một khi tư bản mới được tạo ra, chúng đem lại sự tăng trưởng mới trong GDP, người ta phải tìm cách hãm bớt đà tăng trưởng của tư bản mới bằng cách tạo ra những dạng phi vật thể mới thay thế dạng phi vật thể mà đang đại diện cho tư bản đó. Điều đó dẫn đến một xã hội nô dịch các xã hội khác, có mức sống cao hơn mức sống mà mình đáng được hưởng.
Trong nền kinh tế hậu công nghiệp, khi các tạo phẩm phi vật thể đóng vai trò thống trị, tiêu dùng lại là cách thức thúc đẩy đầu tư tốt nhất cho xã hội, vì như thế nó thúc đẩy tiến trình biến tiền ảo thành tư bản để thực hiện đầu tư mới tạo nên những tạo phẩm phi vật thể thế hệ mới. Bằng việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể xã hội nào đó, người ta có thể định hướng thị trường theo nhiều mục đích khác nhau. Thị trường định hướng tư bản chủ nghĩa có những biện pháp và thủ đoạn riêng. Thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần có những biện pháp và thủ đoạn mới, vượt qua được những giới hạn chật hẹp của cách khai thác thị trường theo lối tư bản.
Dạng phi vật thể để người ta trao đổi hàng hoá trên thị trường có những đặc tính gì? Tiền là một sức mạnh xã hội, và với bất kỳ thước đo nào, nó cũng chỉ có một độ lớn được xác định. Vì thế người ta phải tìm mọi cách giữ cho giá trị đồng tiền không bị mất giá.
Hy vọng vào sự phát triển các loại thị trường là cứu cánh cho sự phát triển đuổi kịp là điều không đủ, không thực tế trong thời đại hiện nay. Vấn đề là phải thiết lập được được các chủ thể mới hoạt động trên thị trường. Nếu như nhà nước có cái gì đó phủ định kinh tế thị trường thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại sức sống mới cho thị trường, khi nó dùng rất nhiều biện pháp thị trường để giải quyết các vấn đề kinh tế.
b. Phát triển các chủ thể mới trong kinh tế thị trường hiện đại
Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều loại chủ thể tham dự vào các hoạt động thị trường. Có những chủ thể truyền thống như các cá nhân, các nhóm người, hộ gia đình, các công ty, doanh nghiệp, nhà nước,... mà thuộc vào những chủ thể điều hành kinh tế vi mô và vĩ mô. Có những chủ thể phi truyền thống như các tổ chức không có địa vị pháp lý, như các tổ chức bí mật chi phối các hoạt động kinh tế ở các tầng mức khác nhau, trong đó nổi bật lên vai trò của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, các tổ chức tội phạm,.. và các hội đoàn phi lợi nhuận. Bằng việc phát triển quan hệ quốc tế và phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện vận tải, hình thành các tổ chức không có địa vị pháp lý do tính chất đa quốc gia, và luôn biến đổi phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ thể có tầm quan trọng ngày càng lớn trên các loại thị trường. Chủ thể vi mô là chủ thể có tầm hoạt động trong một địa phương, trong một vùng của một nước. Chủ thể vĩ mô là chủ thể có tầm tác dụng phổ quát trong một nước. Chủ thể siêu vĩ mô là chủ thể có tầm tác dụng phổ quát trong một nước và vươn ra nước ngoài. Các công ty xuyên quốc gia là các chủ thể siêu vĩ mô. Trong mỗi loại chủ thể trên thì chủ thể điều hành kinh tế vi mô, chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có tầm quan trọng đặc biệt.
Thời đại mới có những phương tiện mới để bắt người khác rơi vào vòng chi phối, chịu sự kỷ luật và chấp nhận sự điều động. Nếu không như vậy thì sẽ bị mất hết các loại tài sản, bị đẩy ra ngoài đường. Cách kết hợp theo kiểu nào đó thì sẽ tạo nên được sức mạnh mới. Cách kết hợp do điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại khác với cách kết hợp do điều hành kinh tế vĩ mô đem lại. Cách kết hợp siêu vĩ mô là kết hợp gián tiếp thông qua thị trường, cách kết hợp vĩ mô là kết hợp trực tiếp, mệnh lệnh, phi thị trường.
Chủ thể vi mô
Chủ thể vĩ mô sản xuất ra các loại tạo phẩm có tầm vi mô. Các tạo phẩm này phục vụ cho các cá nhân, tổ chức gia đình. Nhưng các sản phẩm này có thể kết nối tạo thành một hệ thống để đạt được tầm cao hơn là vĩ mô, siêu vĩ mô. Việc sản xuất ra các chủ thể này hoàn toàn là một quá trình mang tính tự nhiên, đáp ứng các nhu cầu của thị trường. Bằng việc đưa ra luật Doanh nghiệp, tháo rỡ các rào cản là hàng loạt doanh nghiệp mới được thành lập và đi vào hoạt động. Cần có những cách thức hỗ trợ các chủ thể này trong bước đường hoạt động đầu tiên để có thể phát hiện ra các chủ thể mà có khả năng phát triển thành các chủ thể có tầm hoạt động vĩ mô và siêu vĩ mô.
Chủ thể vĩ mô
Chủ thể vĩ mô là chủ thể sản xuất ra các kết hợp mang tầm vĩ mô của xã hội. Đó là các hệ thống điện của cả nước, các hệ thống phân phối hàng lớn trong quốc gia, hệ thống giao thông, các đường trục viễn thông, cấp thoát nước,.. và các "phần mềm" để cho hệ thống đó vận hành được. Đó là các chủ thể sản xuất ra các lĩnh vực sản xuất ra các loại tạo phẩm phục vụ cho tầm vĩ mô, như các loại trang thiết bị an ninh, quốc phòng, phòng cháy chữa cháy công cộng,... Đó là các chủ thể sản xuất ra các hệ thống ngân hàng và tài chính có tầm hoạt động khắp quốc gia... Đó là các chủ thể sản xuất ra các loại tạo phẩm có tầm hoạt động khắp quốc gia. Đó là các chủ thể sản xuất ra các lĩnh vực sản xuất ra các luật lệ, các quyết định có tầm ảnh hưởng đến môi trường hoạt động của đời sống xã hội. Đó là các chủ thể sản xuất ra sự kết nối các tạo phẩm vật thể, các tạo phẩm phi vật thể thành một hệ thống có tầm mức quốc gia.
Cần phải chủ động sản xuất ra các chủ thể này, chứ không thể để phát triển tự nhiên được, và trong tiến trình vận hành thử các chủ thể này, cần phải có những bảo đảm các nguồn lực cho chúng, chấp nhận những chuyện thử nghiệm không thành công, và cũng cần loại bỏ các chủ thể vĩ mô không còn thích hợp với sự tiến triển của kinh tế thị trường.
Chủ thể siêu vĩ mô
Chủ thể siêu vĩ mô sản xuất ra các tạo phẩm siêu vĩ mô. Đó là các tổ chức, các thiết chế có tầm hoạt động liên quốc gia như các đại doanh nghiệp, và quan trọng nhất là chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của một nước.
Người ta vẫn quan niệm rằng một đại công ty được hình thành là vì mục đích lợi nhuận trong tương lai, vì thế nó có thể chấp nhận được những thua lỗ ban đầu. Sở dĩ nó làm được điều đó vì đại công ty là bộ phận của việc biến tiền ảo thành tư bản.
Khi đòi hỏi các tổng công ty đưa ra các dự án làm ăn có hiệu quả mà không một tổng công ty nào có thể làm được là vì không có một tổng công ty, không có một tập đoàn nào trên thế giới làm ăn có hiệu quả hết theo cách tính toán ở tầm vi mô. Các đại công ty, các tập đoàn sử dụng được các sức mạnh xã hội để tạo nên hiệu quả của nó, mà những thứ này nằm ngoài tầm vi mô. Cái hiệu quả mà một tập đoàn tạo ra là ở chỗ những tạo phẩm phi vật thể do nó tạo ra mà được tính cao hơn mức bình thường. Kinh tế học siêu vĩ mô đem lại tính hiệu quả mới cho các tập đoàn. Nếu không có đạo luật chống bán phá giá, không có các đạo luật bảo vệ sở hữu trí tuệ và chống làm hàng nhái hàng giả, và không có những phát minh mới trong hoạt động kinh tế siêu vĩ mô thì rất nhiều lĩnh vực kinh tế ở các nước phát triển đã và sẽ bị các nước đang phát triển đánh gục. Nếu không có sự hạn chế di dân thì các công ăn việc làm ở các nước phát triển sẽ bị làn sóng người nhập cư ồ ạt từ các nước đang phát triển cướp hết. Điều mà các đại công ty muốn đạt được là sự thống trị và sự thống trị đó được hoạt động kinh tế siêu vĩ mô tiếp thêm nguồn lực và duy trì các điều kiện phát triển của chúng.
Không phải một quốc gia nào cũng có thể phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô, một mặt gặp phải sự chống phá dữ dội của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước phát triển hơn, trong đó có rất nhiều phương thức gây ra chia rẽ xã hội để xã hội đó không đủ thống nhất lâu dài để có thể tiến hành được điều hành kinh tế siêu vĩ mô.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô hình thành theo con đường tự nhiên hay con đường nhân tạo qua các hoạt động đảng phái. Khi hình thành chủ thể điều hành siêu vĩ mô theo con đường chủ động thì cần phải làm những gì, và làm như thế nào là một vấn đề mà các nước đang phát triển phải giải quyết theo kiểu riêng đặc thù của mỗi nước. Khi Mỹ chiếm đóng Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Mỹ giải tán các Zaibatsu là để làm mất cơ sở xã hội của sự liên kết tư bản của Nhật, để tư bản Nhật phải phụ thuộc tư bản Mỹ, nhưng hoạt động bí mật của tư bản Nhật đã làm được những điều vượt ra khỏi khuôn khổ do tư bản Mỹ ấn định.
Dưới sự điều hành kinh tế siêu vĩ mô, tính hiệu quả phải nhìn nhận khác đi. Dưới sự chi phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô nào đó, nhiều đại công ty dù hoạt động không có lãi, nhưng do chủ thể đó có cách tạo ra tiền riêng nên điều dễ hiểu là các đại công ty của nước đó không hẳn đã quan tâm tới hiệu quả, vì chủ thể có cơ chế điều phối tiền riêng cho chúng. Điều hành kinh tế vĩ mô không đủ để doanh nghiệp thắng trên sân nhà. Muốn thắng trên sân nhà và thắng trên sân đối phương thì phải tiến hành điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Lộ trình thực hiện điều hành kinh tế siêu vĩ mô tuỳ theo lượng tiền ảo được sản xuất ra. Khi bí mật là nguồn sức mạnh thì người ta vừa có thể hoạt động công khai, vừa có thể hoạt động bí mật được. Một trong những bí mật của sự phát triển kinh tế hiện đại là các doanh nghiệp liên kết với nhau vì được hưởng loại tiền ảo nào đó. Do đó chúng liên kết thành các tập đoàn hay bị mua lại, và chúng sử dụng các trung tâm nghiên cứu thị trường riêng.
Những công ty hoạt động trong môi trường siêu vĩ mô sẽ được hưởng tác động của một hiệu ứng là hiệu ứng dự phần. Hiệu ứng dự phần biểu hiện bằng cách tiếp quản các doanh nghiệp khác với giá rẻ. Hay nói đúng ra doanh nghiệp mới được thành lập là theo ý đồ của các đại tập đoàn để rồi sau một thời gian hoạt động độc lập phát triển đến mức độ nào đó thì doanh nghiệp đó sẽ được đại tập đoàn mua lại. Sở dĩ nhiều nước đang phát triển không có những tập đoàn kinh tế đủ mạnh mà họ coi trọng việc giữ chữ tín vì không có những thiết chế ban thưởng cho doanh nghiệp khi họ giữ chữ tín và trừng phạt khi chữ tín bị xâm phạm. Uy tín của đại doanh nghiệp buộc nó phải bảo đảm sự cung cấp các hàng hoá và dịch vụ không gián đoạn, không trục lợi khi các thị trường trọng điểm ở các nước phát triển gặp khó khăn. Trong các xã hội đó, việc trục lợi sẽ phải trả giá rất đắt khi các tạo phẩm vô hình của nó bị mất giá nghiêm trọng. Những doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn quen lối làm ăn chụp giật vì đó là cách mà họ tồn tại được trong nền kinh tế thị trường.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất ra các mối liên kết xã hội mới vượt ra khỏi biên giới quốc gia và mang tầm quốc tế. Các sản phẩm này được tư bản hoá theo những lộ trình phức tạp mà luôn luôn được giấu kín coi như là những điều siêu mật. Các nước phát triển đầu tư vào nhau là để bóc ra các tư bản còn đang tiềm ẩn trong mỗi nước, biến những tạo phẩm phi vật thể mà mình đã sáng tạo ra và biến tư bản của mình sẽ thành tư bản ở các nước đó. Các trùm tư bản kêu gọi chống tham nhũng, minh bạch hoá, nhưng lại duy trì bí mật kinh doanh, bí mật ngân hàng. Các cá nhân và tổ chức và doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh tế siêu vĩ mô phải có số lượng đủ lớn, và có sự phối hợp chặt chẽ thì các hoạt động siêu vĩ mô mới có hiệu quả. Trong mối quan hệ quốc tế chủ thể tác động tới những hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. Giai cấp tư sản sáng tạo ra những tổ chức mới, thực hiện các chức năng xã hội mới, sáng tạo ra những công việc mới trong hoạt động kinh tế siêu vĩ mô.
Khi một đại công ty được kích giá lên cao, thì những khoản tiền chênh lệch được thu về sẽ chuyển lại nền kinh tế và tạo thêm được tiền mới, tạo nên vòng quay tiền tệ mới. Việc mua bán các công ty chứ không chỉ là mua bán các hàng hoá và dịch vụ đã làm nảy sinh cách thức mới trong tiến trình tạo ra tư bản, tạo ra tiền. Việc các nhóm công ty phối hợp với nhau theo một chỉ đạo chung đã làm cho sự hoạt động có những quy mô gia tăng nhanh chóng. Chúng tận dụng những lợi thế do biết trước được những thông tin nhạy cảm để gia tăng sức mạnh và ảnh hưởng. Chúng tạo nên áp lực xã hội mới. Chúng đẩy nhanh vòng quay của tiền tệ, sử dụng nguồn vốn ngân sách ban đầu để làm đà tăng trưởng cho mình. Chúng có các quy trình để tiền có thể thực hiện các tuyến đi và về khác nhau.
Chủ thể điều hành siêu vĩ mô phát triển các tổ chức chuyên môn tuỳ thuộc mình để thực hiện được sứ mệnh mà nó đảm nhận, triển khai, điều hành các hoạt động thực tiễn và tổng kết thực tiễn trong hoạt động hầu như không được công bố công khai. Có rất nhiều tầng mức chuyên môn, từ những việc liên quan tới nội bộ tổ chức tới những tổ chức thực hiện sự lan toả ra toàn xã hội. Nhiều tổ chức tạo nên các giá trị mới trong xã hội. Nhiều tổ chức tư vấn, đánh giá đủ loại giải quyết những vấn đề đặc thù chuyên biệt trong công tác thực tiễn của chủ thể. Các loại tổ chức đánh giá, tư vấn về những giá trị mới trong xã hội, gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học, các hội đoàn nghề nghiệp. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đặt ra các tiêu chuẩn để định hướng phân bổ tiền ảo. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô điều khiển, định hướng thị trường bằng các công cụ mới, tập trung được các nguồn lực của xã hội vào sự phát triển con người, khâu then chốt nhất cho sự phát triển hiện đại. Sự phát triển con người đem lại các kết hợp hoàn toàn mới cho xã hội, và có đủ nguồn lực và sức mạnh để tạo nên các kết hợp mới, thực hiện sự lan toả nhanh chóng các loại tư bản.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có chính sách tài chính riêng, tài trợ cho việc xây dựng các thiết chế kinh tế thị trường, bơm vốn vào các công ty, làm "mồi khởi động" cho các tiến trình kinh tế. Đột biến do chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại là ở điểm nào? Đột biến ở chỗ tạo ra được công cụ để tập trung được các sức mạnh, huy động được các sức mạnh và đưa chúng vào hoạt động.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô trở thành người tiêu dùng khổng lồ mới trên thế giới mà sẵn sàng hoạt động gia tăng đột biến khả năng của mình, tung ra sức mạnh với khối lượng lớn một cách nhanh chóng và đưa ra được những hành vi mới. Đó là những tác động rất nhanh chóng. Bằng việc tác động ngay, trực tiếp vào nền kinh tế, điều hành siêu vĩ mô là phủ định của phủ định thị trường, đưa thị trường phát triển lên trình độ mới. Chủ thể chấp nhận những sai lầm, những thất bại, và có đủ các phương tiện để bù đắp sự thiếu hụt tiền bạc.
Điều hành kinh tế siêu vĩ mô có hai việc chủ yếu: sản xuất ra tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản, và sản xuất ra tư bản đẳng cấp cao. Việc sản xuất ra tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản tương đối dễ dàng, vì nhà nước đã làm được điều này từ lâu, nhưng việc sản xuất ra tư bản đẳng cấp cao lại vô cùng khó khăn vì nó đòi hỏi sự sáng tạo.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất một loại giá trị thặng dư siêu vĩ mô mà đem lại sự kết hợp xã hội mới. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất ra giá trị thặng dư siêu vĩ mô tạo nên được các kết hợp mới giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Giá trị thặng dư này vượt qua giới hạn thời gian, vì thế nó có thể mở rộng hết tầm lan toả với từng loại tư bản cụ thể. Nếu không có điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì không thể có chuyện giá trị thương hiệu của một hãng cao gấp nhiều lần giá trị vật chất hữu hình của hãng đó. Nếu không phát triển được giá trị thương hiệu, giá trị của các tạo phẩm phi vật thể thì không thể tiêu được số lượng tiền ảo khổng lồ đã được tạo ra và sẽ được tạo ra.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô hình thành hàng trăm đại công ty chịu sự chi phối của mình và tổ chức các hoạt động kinh tế ra nước ngoài. Các đại công ty có những lộ trình phát triển tuỳ thuộc vào sự điều phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, một khi có được những cơ sở phát triển từ phía doanh nghiệp và những đánh giá triển vọng của các tổ chức chuyên môn. Quản lý hàng vạn doanh nghiệp thuộc sự chi phối của chủ thể hoàn toàn thực hiện được vì quản lý này nắm tình trạng tạo ra tiền ảo và tiến hành phân phối các tiền ảo đó trong xã hội. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô dẫn tới những bước tiến mới về quản lý. Công nghệ ngân hàng và tài chính hiện đại cho phép người ta có cách thực hiện quản lý tài sản tiền gửi và tài sản tài chính theo mã số. Một người có quyền lực trên danh nghĩa nhưng không được cấp mã số thì không thể chuyển được tiền theo các mục đích khác nhau. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô hoàn toàn nắm và điều hành các mã số tài khoản để thực hiện các thao tác tài chính tiền tệ của mình, không cần phải qua trung gian nào. Số lượng công ty rất lớn có thể phân tán về chủ sở hữu, nhưng tài sản và tư bản lại được quản lý tập trung, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô không để cho các tổ chức chịu sự điều phối của nó qua mặt.
Phương pháp hoạt động của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là gián tiếp. Dù rằng chủ thể được giữ trong vòng bí mật, nhưng động thái hoạt động của chủ thể là điều không thể che giấu được mà khoa học phải phát hiện ra hoạt động của chủ thể, dự đoán hành vi tương lai, chứ không phải là đặt ra vấn đề xoá bỏ chủ thể đó, hoặc xây dựng hay thiết tạo lại chủ thể. Khoa học nghiên cứu những điều kiện khách quan buộc chủ thể sẽ phải biến đổi và hoạt động như thế nào.
Sản xuất tư bản hậu công nghiệp đẳng cấp cao
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã viết: "Tư bản là một sản phẩm tập thể và nó chỉ có thể vận động được là nhờ sự hoạt động chung của nhiều thành viên trong xã hội, xét đến cùng, là nhờ sự hoạt động chung của tất cả các thành viên trong xã hội" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội 1995, trang 616). Giai cấp tư sản nghiên cứu rất kỹ chủ nghĩa Mác-Lênin để tìm ra được cách thức cứu tư bản thoát khỏi tình cảnh khó khăn. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ở nước Mỹ có hơn 200 tổ chức nghiên cứu về chủ nghĩa Mác-Lênin và các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản trên thế giới. Các nhà tư bản hiện đại rất hiểu cách thức để một loại tư bản mới là công trình chung của xã hội như thế nào, cần phải có cách thức nuôi dưỡng các loại tư bản đó ra sao để nó có thể tự thân vận động được.
a. Sản xuất các tạo phẩm phi vật thể đẳng cấp cao
Chìa khoá để hiểu được tư bản hiện đại là phải hiểu được các dạng phi vật thể xã hội và hiểu được thế giới phi vật thể có những gì, từ sự hình thành, phát triển và đóng gói các dạng phi vật thể như thế nào, cách tiếp nhận những dạng phi vật thể,... Các tạo phẩm phi vật thể đẳng cấp cao là các tạo phẩm phi vật thể tạo nên được các kết hợp mới về nguyên tắc trong đời sống xã hội, trong khoa học và công nghệ.
Tính phức tạp của các tạo phẩm phi vật thể đẳng cấp cao còn ở chỗ nó phải tương thích đối với những dạng phi vật thể đã có, phải vận hành được. Nếu như các tạo phẩm vật thể không những xử lý được các vật thể như cắt gọt, lắp ghép, di chuyển, bay, xử lý được rất nhiều tiến trình như chuyển hoá năng lượng, tạo nên được các hình thái vật thể mới, thì người ta tìm cách tạo nên được các tác phẩm phi vật thể mới xử lý được các tạo phẩm vật thể, xử lý được các tạo phẩm phi vật thể, làm được những tạo phẩm vật thể và phi vật thể hoàn toàn mới, phối hợp những tạo phẩm vật thể và phi vật thể vận hành đồng thời, và người ta còn tìm ra nhiều cách thức khác để tạo nên các tạo phẩm phi vật thể mới. Tạo phẩm phi vật thể quản lý đưa mọi người vào hoạt động. Tạo phẩm phi vật thể chung, phối hợp nhiều bước, nhiều tiến trình, nhiều giai đoạn.
Ai làm chủ được tiến trình này thì người đó làm chủ được tình hình phát triển lên những đẳng cấp cao hơn của việc sản xuất các tạo phẩm phi vật thể. Người ta tiếp nhận những tạo phẩm phi vật thể xã hội, tạo ra được tạo phẩm phi vật thể mới. Người ta cài các tạo phẩm phi vật thể vào người khác và vận hành thích hợp. Các tạo phẩm phi vật thể có thể được gắn vào các tạo phẩm phi vật thể khác, và cùng một tạo phẩm phi vật thể có thể được nhân bản và phát tán ra bên ngoài và tham gia vào rất nhiều loại kết hợp khác nhau.
Con người phát minh ra các tạo phẩm phi vật thể để giải quyết những vấn đề của mình. Trong số đó có những thứ thúc đẩy tiến trình tạo ra các tạo phẩm thế giới chưa từng có, và tạo phẩm này có sức mạnh cưỡng bức đối với xã hội một cách phổ biến. Tạo phẩm này có sức mạnh và cách thức đo lường nó, và một trong những đơn vị đo là tiền tệ. Người ta sáng tạo ra ký hiệu để đo lường nó.
Tạo phẩm phi vật thể luôn luôn tạo ra được những cái mới khi tham gia được vào trong những quan hệ mới mà làm biến đổi bản thân và nhiều chiều hướng tác động khác nhau. Có những tạo phẩm phi vật thể đóng vai trò nền mà trên đó các tạo phẩm phi vật thể khác có thể dựng lên. Con người cần có các phương tiện để chuyển tải các tạo phẩm phi vật thể. Hiện nay doanh thu của thị trường games đã lớn hơn doanh thu của thị trường điện ảnh, và các games kích thích con người tham gia tích cực vào các hoạt động của nó.
Trong các nước đang chuyển đổi có quá trình tư bản hoá các dạng phi vật thể và tạo ra các dạng phi vật thể mới nhằm mục đích tư bản. Khái niệm "trách nhiệm xã hội" mà các doanh nghiệp ở Việt Nam là một khái niệm thuộc về cái tâm của những người lãnh đạo doanh nghiệp thì ở các nước phát triển trách nhiệm xã hội ở trong luật pháp, ở luật thương mại. Vì thế nó có sức mạnh cưỡng bức. Nếu những doanh nghiệp do những người có ý thức trách nhiệm xã hội kém cỏi lãnh đạo, và xã hội không có những thiết chế trừng phạt trực tiếp hay gián tiếp những hành động đầu cơ trục lợi khi xã hội có biến động khó khăn, như đánh thuế rất nặng có tính luỹ tiến những khoản phụ trội do đầu cơ mà có, thì nhà nước phải nắm lấy những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể đem lại hình thái mới cho tư bản. Một chiếc ô tô còn mới tinh, chưa dùng đến, nhưng đã lạc mốt thì mất giá. Một hãng chế tạo được một động cơ đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường cao hơn sẽ tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ, các hội đoàn bảo vệ môi trường để đấu tranh ra được đạo luật mới về môi trường nâng mức tiêu chuẩn môi trường lên, như vậy sẽ loại bớt được đối thủ cạnh tranh và bán được động cơ ở mức giá cao.
Nắm được nhiều chiều tác động của các tạo phẩm phi vật thể đủ loại khác nhau, đặc biệt là các tạo phẩm liên quan tới những lĩnh vực cụ thể mình phải giải quyết là chìa khoá đưa lại thành công. Người ta sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể để mở đường sản xuất ra các tạo phẩm vật thể. Muốn sản xuất chiếc áo thì người ta phải sản xuất ra các mẫu mã thiết kế thời trang. Các kỹ thuật marketing khiến người ta sản xuất vừa đủ, sản xuất ra chủng loại hàng hoá phong phú với số lượng ít.
Việc sử dụng trang thiết bị trước hết phải bảo đảm an toàn cho con người, cho môi trường sống của con người. Những chiếc ô tô còn tốt nhưng đã sử dụng lâu rồi không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường phải bị loại bỏ. Người ta phải loại bỏ những sản phẩm đem lại sự nguy hiểm cho con người, như ô tô hết hạn sử dụng, thuốc hay thực phẩm hết hạn sử dụng.
Kinh tế thị trường tạo nên những tạo phẩm phi vật thể mới, đem lại giá trị cho nhiều thứ phi vật thể, như các loại sức mạnh của nhà nước, quyền lực của các quan chức.
Vấn đề hiện nay là phải đẩy nhanh tiến trình tạo ra các tạo phẩm phi vật thể, trong tiến trình này, chủ nghĩa tư bản đã có một phương cách riêng là tư bản hoá các tạo phẩm phi vật thể, vậy có cách khác để tổ chức tiến trình này tốt hơn không? Xã hội nào cũng phải trả lời câu hỏi này.
Nhật Bản rất khó tạo nên được những tạo phẩm phi vật thể mang tính quốc tế trong các lĩnh vực văn hoá xã hội vì chính quá khứ quân phiệt, phát xít của Nhật, mà các tạo phẩm phi vật thể trong văn hoá xã hội lại là nguồn tạo nên những tư bản đẳng cấp cao, là tiền đề cho những nhu cầu của nền kinh tế hiện đại. Nước Nhật phải tìm ra được các hình thái mới để tham gia được toàn cầu hoá trong các lĩnh vực văn hoá xã hội. Điều này cũng xảy ra đối với nước Đức do quá khứ phát xít của nó. Quá khứ cộng sản kiểu Stalin của Liên Xô cũ cũng gây ra khó khăn cho Nga trong quá trình tạo ra các tạo phẩm phi vật thể trong các lĩnh vực văn hoá xã hội mang tính toàn cầu. Có như vậy chúng ta mới thấy rằng không phải nước nào cũng ở vào vị thế muốn làm bạn với các nước là dễ dàng được cộng đồng quốc tế chấp nhận. Sự thâm nhập văn hoá của Mỹ là sự "giải phóng", trong khi đó sự thâm nhập văn hoá của các nước có quá khứ thực dân, phát xít, khác lại gây ra e dè, nghi ngại. Muốn nói gì thì nói, tình trạng này không phải ngày một ngày hai khắc phục được.
Nước Mỹ với lợi thế là một hợp chủng quốc đa dân tộc, đa văn hoá, và hai lần tham gia giải phóng Châu Âu trong thế kỷ hai mươi trong hai cuộc đại chiến thế giới đã tạo ra được những kết hợp mang tính quốc tế vượt xa khỏi các nước khác. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ và Phương Tây trong chiến tranh lạnh làm cho người dân ở các nước Phương Tây không đánh giá được hết thực trạng bộ mặt đế quốc của Mỹ với cuộc chiến tranh Việt Nam và ở nhiều vùng nóng khác trên thế giới. Nước Mỹ rất khéo lợi dụng triệt để việc hai lần giải phóng Châu Âu để tạo nên các giá trị toàn cầu. Hơn nữa Mỹ là một nước không có quá khứ thực dân.
b. Sự gia tăng đột biến của tư bản hậu công nghiệp
Tư bản hậu công nghiệp có những bước phát triển gia tăng đột biến theo các nhánh và các đẳng cấp khác nhau là do nó có thủ đoạn phát triển riêng, mang đặc tính thời đại. Tính bất định của các tiến trình sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể và sự gia tăng đột biến của tư bản hậu công nghiệp cả về chủng loại lẫn số lượng là cơ sở để một thế lực nào đó tạo nên được hiện tượng biến tư bản từ không thành có và từ có sẽ nhiều hơn, vượt xa khỏi mức gia tăng thông thường trong sản xuất công nghiệp, thương mại và các dịch vụ tài chính ngân hàng.
Tư bản hậu công nghiệp đã tận dụng giá trị thặng dư do nó mang lại để tạo nên được những tư bản mới. Một xã hội người ta sử dụng các loại tư bản mới để tạo ra sự năng động, sự phát triển kinh tế vượt bậc của xã hội thì các nước khác cần phải tìm cách thích ứng với những biến đổi đó. Tư bản mới hình thành những mối liên kết mới của thế giới, trong đó người ta vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau. Tư bản mới làm cho các thành quả của tư bản cũ trở nên một điều nghịch lý, rơi vào những vòng luẩn quẩn, và tư bản cũ phải tiêu vong, bị nổ "bong bóng". Khi kinh tế phát triển đến mức nào đó thì các loại tư bản hậu công nghiệp thâm nhập mạnh mẽ vào xã hội, dẫn tới những phân cực mới trong xã hội. Người ta không lo làm nhiều thứ nếu không có số lãi đủ lớn. Quy mô thanh toán quá nhỏ thì không bõ công thâm nhập.
Khi tư bản hậu công nghiệp mở rộng ra thì nó đòi hỏi phải có thể chế mới để phát triển được sức mạnh của nó. Nhưng thể chế chật hẹp là rào cản cho sự phát triển của tư bản hậu công nghiệp và các nhóm lợi ích phát triển để đòi và bảo vệ quyền lợi của mình.
Tư bản hậu công nghiệp bắt các tư bản khác phải cống nạp cho nó. Và trong các loại tư bản hậu công nghiệp, tư bản thuộc đẳng cấp cao bắt các loại tư bản khác nạp cống cho mình. Sự cống nạp này là tự nguyện hay cưỡng bức là tuỳ xã hội. Những xã hội nào không tìm được cách thức hợp tác giữa các loại tư bản thì sẽ gặp nhiều khó khăn trên con đường hiện đại hoá xã hội. Một khi các loại tư bản khác tự nguyện cống nạp cho tư bản hậu công nghiệp thì xã hội vận hành trơn tru hơn. Một khi mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp, mỗi cá nhân tự nguyện đóng một phần thu nhập cho tiến trình tạo nên các tạo phẩm phi vật thể xã hội thì tư bản hậu công nghiệp mới bộc lộ ra những sức mạnh thúc đẩy xã hội mạnh mẽ.
Tư bản hậu công nghiệp đánh giá lại các tư bản cũ, có nhiều thứ được nâng lên trong khi nhiều thứ khác lại hạ xuống. Con người có nhu cầu được hưởng thành quả của phát triển. Sự mở rộng những cơ hội mới đồng thời cũng gạt nhiều người ra khỏi tiến trình lao động. Có những thứ mới mở ra, và cùng một lao động, khi phục vụ những lĩnh vực mới được mở ra thì lao động đó có cơ may mới. Khi người dân không chấp nhận lương thấp, các tư bản cũ không thể tìm được lao động.
Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có nhiều cách thức tạo nên được những tư bản mới, trong đó tầm quan trọng đặc biệt là có những nguồn lực tài chính và tiền tệ để thực hiện điều đó. Việc tạo ra tiền ảo và biến được tiền đó thành tư bản là đặc điểm quan trọng bậc nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Để tiêu hoá được lượng tiền ảo đang ngày càng có khả năng phát triển thì nhiều dịch vụ xã hội mới mở ra. Người dân đòi hỏi phải biết thông tin về những gì đang thực sự diễn ra, và những gì được triển khai, các tổ chức làm những gì và quyền của người dân phải được làm gì, nghĩa vụ và quyền lợi của các bên có liên quan trong những mối quan hệ nào đó ra sao.
Tư bản mới cung cấp phương tiện để xây dựng được một xã hội mới. Tư bản hậu công nghiệp đã hàm chứa việc nâng cao năng suất trong tiến trình tạo nên các tạo phẩm vật thể một cách đột biến. Vì thế nó đẩy nhanh việc hoạt động của con người sang việc tạo ra các tạo phẩm phi vật thể đủ loại khác nhau, trong đó có các hoạt động cung ứng dịch vụ xã hội. Vấn đề là xã hội có cách thanh toán như thế nào đối với những dịch vụ xã hội mới. Đó là các nguồn tài trợ từ các tổ chức, các cá nhân, các doanh nghiệp và tiến trình này lại tạo ra được những đồng tiền mới, luân chuyển với nhau, tạo ra những đặt hàng mới cho các ngành công nghiệp. Tư bản mới mở ra con đường mới cho mình khi nó gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Tốc độ phát triển quá nóng của các loại tư bản cũ có hậu quả tai hại. Chính tác động của các loại tư bản mới khiến người bình thường, hay chính những nhà kinh tế học đủ loại được đào tạo theo các học phái kinh tế khác, bất ngờ không phản ánh được thực chất của chúng trong việc chúng dẫn tới những biến đổi sâu sắc.
Tư bản hiện đại là công trình chung của xã hội và nó thuộc về xã hội, và xã hội trao sứ mệnh phải nắm được, điều phối được luồng tư bản đó cho một thế lực nào đó và đó là chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Mỗi xã hội, tuỳ theo hoàn cảnh của mình mà sản xuất được chủ thể đó. Chủ nghĩa tư bản hiện nay đã phát triển lên thành chủ nghĩa tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, từ đó, chúng ta có cách hiểu sâu hơn về chủ nghĩa tư bản nhà nước, khi vạch ra được những hạn chế của loại tư bản này trong đời sống kinh tế xã hội hiện đại. Các loại tư bản mới gây ra khủng hoảng cho các loại tư bản cũ, chứ không phải một hình thái kinh tế xã hội mới có vị trí quan trọng hơn. Khi thấy những tình cảnh khủng hoảng của các loại tư bản cũ thì cần phải hiểu rằng loại tư bản mới nào đó đã xuất hiện, chèn ép loại tư bản cũ.
Sự gia tăng cao đặc biệt về giá trị của các tạo phẩm phi vật thể là công cụ để tư bản hậu công nghiệp thống trị các tư bản khác. Và chính vì là vô hình nên có những cách thức phá hoại, làm thương tổn tư bản hậu công nghiệp khác với việc tiến hành đối với tư bản cũ. Dưới chủ nghĩa tư bản, các cuộc khủng hoảng có nghĩa là một tư bản mới đã xuất hiện và đang khẳng định mình, cạnh tranh với các tư bản cũ, đẩy các loại tư bản cũ vào khó khăn. Các cuộc khủng hoảng phải được xem xét dưới góc độ chúng là những cách thức mà mọi hình thái tư bản mới khẳng định vị thế của nó, và hình thái mới đó có sức mạnh của riêng nó, tạo nên những tạo phẩm phi vật thể mới có tầm chi phối toàn mới đối với xã hội. Tư bản là một sức mạnh xã hội tập hợp được những người rất khác nhau, tạo ra được những kết hợp xã hội hoàn toàn mới vượt qua các biên giới quốc gia. Tư bản thể hiện sự ổn định, không chịu ảnh hưởng bởi những cá nhân như quyền lực chính trị, và nó có khả năng tự tích luỹ, làm thay đổi mọi thứ, tạo ra được các tạo phẩm vật thể và các tạo phẩm phi vật thể mới.
Việc sản xuất theo lối tư bản chủ nghĩa chạy theo lợi nhuận, tức là chạy theo tiền, sẽ bất chấp các hậu quả lâu dài đối với xã hội, đối với môi trường. Đó là bi kịch đối với những nước đang phát triển không tạo được cho mình chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Trong nền sản xuất đó, độc quyền dẫn tới sự thối nát, khai thác vô độ tài nguyên thiên nhiên. Những nước mà có chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì tư bản không cần chạy theo tiền vì chủ thể sản xuất được tiền ảo, muốn có bao nhiêu tiền cũng được miễn là không dẫn đến những hậu quả nổ bong bóng kinh tế. Vì thế những nước này tìm cách đẩy các công việc chạy theo lợi nhuận mà gây tác hại lâu dài đối với xã hội, đối với môi trường sang các nước kém phát triển hơn, để mình sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể không làm hao tổn nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhưng lại biến được tiền ảo thành tư bản.
Trong thời đại của mình, Mác đã chỉ ra rằng người ta sản xuất ra một tạo phẩm phi vật thể là giá trị thặng dư. Trong thời đại của Lênin, Lênin chỉ ra rằng người ta sản xuất ra tạo phẩm phi vật thể là lợi nhuận độc quyền. Trong những giai đoạn kế tiếp, các nhà kinh tế học chỉ ra tạo phẩm phi vật thể chủ yếu nào được tạo ra trong giai đoạn đó. Thời đại hiện nay là thời đại của tư bản hậu công nghiệp và người ta sản xuất ra các giá trị thặng dư hậu công nghiệp. Tư bản tài chính, tư bản nhà nước phát triển trên nền tảng của hoạt động sản xuất ra các tạo phẩm vật thể, nhưng tư bản hậu công nghiệp có nền tảng riêng của nó trên nền tảng của hoạt động sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể, mà tiến trình này chi phối chỉ đạo hoạt động của tiến trình sản xuất ra các tạo phẩm vật thể, do đó, của tư bản công nghiệp.
Trước tác động của những loại tư bản mới, mỗi xã hội cần phải có thái độ và cách ứng xử phù hợp, nếu không, tiến trình tác động này sẽ dẫn đến những kết quả thua thiệt, làm rộng ra khoảng cách với các nước phát triển. Tư bản hậu công nghiệp buộc các tư bản khác phải chịu hoạt động theo các luật chơi do nó tạo ra, và các loại tư bản đó phải tìm cách gia nhập được vào tư bản hậu công nghiệp ở các nước phát triển. Hoạt động của tư bản tài chính và ngân hàng chủ yếu phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn các đại công ty có cách thu hút vốn riêng của xã hội trên các thị trường vốn, không cần đến vai trò của các ngân hàng, mà nếu cần đến các ngân hàng thì chỉ là những dịch vụ nào đó mà thôi.
Đẳng cấp của các tổ chức siêu quyền lực là tạo ra tư bản, cao hơn đẳng cấp tạo ra tiền, còn tất cả các loại khác, kể cả các tổ chức tội phạm maphia chỉ là những tổ chức kiếm tiền mà thôi, kiếm những thứ người ta rơi vãi. Điều sai lầm là người ta nhìn nhận chỉ có những tư bản cũ, và tư bản không sáng tạo ra những tư bản mới. Vì thế khi người ta thấy những mâu thuẫn, những khó khăn của tư bản cũ mà không thấy được những tư bản mới xuất hiện và đóng vai trò của chúng thay thế tư bản cũ, người ta sẽ rút ra những kết luận không xác đáng.
Xã hội ấn định các tạo phẩm phi vật thể nhất định buộc các tạo phẩm vật thể phải đáp ứng được. Đó là các tiêu chuẩn đủ loại khác nhau cho các vật thể như độ bền, tiện lợi, an ninh, an toàn cho người sử dụng... Người được hưởng những thành quả của tư bản hậu công nghiệp không chỉ là những nhà tư bản đơn lẻ mà là tập thể các nhà đại tư bản, mà lan toả dần sang các tầng lớp trung lưu và toàn xã hội trong một nước mà làm cho nước đó có mức sống hơn hẳn những gì mà nước đó đáng được hưởng do nỗ lực của bản thân.
Các nước giầu có những giải pháp về tư bản hoá mới. Xã hội hình thành một thiết chế tư bản mới, có tầm hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia, tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, tư bản siêu nhà nước. Để có thể làm được việc phát triển các loại tư bản hậu công nghiệp, phải có một thế lực nào đó phát triển để tiếp nhận vai trò điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Điều dễ dàng nhất là thế lực nắm vai trò lãnh đạo tư bản, lãnh đạo chính trị. Thế lực lãnh đạo tư bản ban đầu đã có được những phương cách sử dụng tư bản nhà nước với thế lực đó, nhà nước là một công cụ bảo vệ tư bản. Với những người theo chủ nghĩa xã hội, tư bản nhà nước là một công cụ.
Nhưng khi đẩy nhanh sự hình thành tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì tức là đã đẩy nhanh sự ra đời của hình thức xã hội hoá tư bản cao hơn. Tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô điều tiết, kiểm soát các loại tư bản của một nước. Tư bản siêu nhà nước điều tiết, kiểm soát các loại tư bản của các nước khác nhau. Xã hội có rất nhiều tạo phẩm phi vật thể được tạo ra nhưng chưa được tiền tệ hoá. Dưới chủ nghĩa tư bản, mà cách thức sản xuất phải theo kiểu tư bản chủ nghĩa, sớm muộn chúng sẽ tiền tệ hoá. Nước Nhật có lãi suất ngân hàng bằng không, cho nên có những cách thức kìm giữ sự gia tăng của tiền. Việc tiền tệ hoá tư bản ở mức cao không phải là điều tốt lành với xã hội. Tư bản quá nhiều sẽ gây nguy hại với xã hội. Sự tích tụ, tập trung tư bản quá lớn sẽ đe doạ chính bản thân tư bản hiện đại, vì thế xã hội cần phải phát triển những cách thức có thể tiêu hoá được lượng tư bản khổng lồ bằng cách phát tán tư bản trong xã hội, để xã hội tiêu thụ và biết cách dùng tư bản.
Sự phát triển của một loại tư bản hậu công nghiệp cụ thể bị giới hạn ở vấn đề là nó không thể dùng nhiều tiền trong xã hội để mở rộng mãi tầm hoạt động của nó, xã hội không cấp cho nó nguồn lực là tiền. Như vậy tiền cần phải có cách thức phát triển riêng của nó để mở đường cho tư bản công nghiệp nhưng muốn vậy thì tiền phải khẳng định được vị thế của nó và tự tìm được cho mình con đường đi. Không phải dễ dàng tìm được con đường đi trong bối cảnh có cạnh tranh gay gắt và ai cũng muốn giành được thắng lợi. Các loại tư bản phải đấu tranh quyết liệt với nhau, phải khuất phục nhau bằng sức mạnh chứ không phải là sự nhượng bộ.
Từ khi có sự phân biệt các đẳng cấp tư bản thì mỗi khâu đều có những nhóm hạt nhân phát triển lan toả ra toàn xã hội. Khi tư bản được tập trung và chịu sự điều hành thống nhất thì hình thành nên được sức mạnh xã hội mới mà là cơ sở để đạt tới những khám phá về thực chất của sự phát triển kinh tế hiện đại. Đó là sự sáng tạo ra những kết hợp mới chưa từng có trong tự nhiên và trong xã hội. Vấn đề của nước Nhật Bản hiện nay đang gặp phải là thiếu tính sáng tạo. Vì thế việc phát triển tư bản mới của Nhật Bản gặp rất nhiều khó khăn.
Đối với lao động sản xuất ra vật thể thì còn nói được là lao động thặng dư, nhưng lao động sản xuất ra tạo phẩm phi vật thể thì không thể nói được như vậy, khi lao động đó không đem lại kết quả, mà đó lại là điều rất phổ biến hiện nay khi nhiều dự án nhằm sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể mới bị đổ bể. Không phát triển được đẳng cấp tư bản mới thì tư bản cũ nhanh chóng trở nên bão hoà. Vấn đề hàng đầu là phải thích ứng được với những biến đổi của thế giới, một khi thích ứng được thì mới bàn luận làm được những gì đang diễn ra. Thích ứng được thì mới làm quen, nắm được các sức mạnh của tư bản hậu công nghiệp, tiếp đó phát triển được những nguồn lực để sử dụng chúng làm được những việc gì đó phục vụ các mục đích của mình.
c. Tích luỹ tư bản hiện đại
Những gì đem lại kết hợp thì làm gia tăng tài sản, do đó làm gia tăng lượng tiền, nhưng những gì làm phân rã thì làm giảm đi tài sản, nhưng số tiền trong xã hội lại không vì thế mà giảm đi. Số lượng tiền không mất đi trong xã hội, mà nó lại luôn gia tăng. Dù một lượng tiền nào đó bị xé đi, bị huỷ đi thì người ta vẫn có cách bổ sung vào và để làm gia tăng thêm. Thuộc tính đó đem lại cho tiền một khả năng tích luỹ. Tích luỹ của tư bản không giới hạn và người ta tìm mọi cách gia tăng, đồng thời dẫn đến mâu thuẫn phải tìm cách hạn chế sự gia tăng đó.
Ở nhiều nước, có rất nhiều tài sản không chuyển hoá thành tiền, chưa chuyển hoá thành tiền, chưa ở dạng nào đó của tiền tệ hoá. Nước Mỹ tìm cách để các loại tài sản đó chuyển hoá thành tiền, đặc biệt là những loại tư bản của xã hội đó chuyển hoá thành tiền. Đồng đô la Mỹ tụt giá so với so với các đồng tiền của các nước phát triển khác là cách thức để đẩy nhanh các loại tài sản khác thành tiền vì đồng đô la mất giá gây khó khăn cho các xã hội ở nước đó, gây ra khủng hoảng ở các nước đó, buộc các các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân trong nước đó buộc phải bán đi nhiều loại tài sản mà trước đấy thuộc diện không bán, không thể bán. Trước hoàn cảnh khó khăn, liên quan tới sự sống còn thì người ta không có nhiều lựa chọn.
Trong khoa học công nghệ, có rất nhiều thứ được phát minh ra nhưng không sử dụng, không thể sử dụng, hay sử dụng rất hạn chế, như bom nguyên tử chẳng hạn. Trong xã hội cũng vậy, có rất nhiều công cụ được phát minh ra nhưng người ta không được sử dụng, hoặc sử dụng trong những chừng mực nhất định. Chẳng hạn những xã hội văn minh hiện nay có cơ chế để ngăn cản sự độc tài. Đối với tư bản cũng vậy, có những công cụ tích luỹ tư bản được phát minh ra nhưng sử dụng rất hạn chế vì sẽ có những hậu quả không lường được đối với xã hội.
Sự kìm giữ tư bản và phát tán các loại tư bản vào trong xã hội, chỉ tập trung lại khi cần thiết, là điều làm tăng các loại tư bản trong xã hội một cách ẩn, làm cho tư bản có mức khổng lồ hơn những gì được thể hiện ra. Bề nổi của tảng băng tư bản hậu công nghiệp là các doanh nghiệp, ở đây giá trị cổ phiếu luôn luôn có giá ở mức cao. Phần chìm của tảng băng tư bản hậu công nghiệp hầu như không tiền tệ hoá, và chỉ tiền tệ hoá khi một lĩnh vực nào đó trở nên trưởng thành khi một loại nhu cầu mới xuất hiện.
Tư bản thừa không có chỗ đầu tư sẽ làm rối loạn các hoạt động kinh tế xã hội làm cho những mâu thuẫn giữa lao động và tư bản nảy sinh những sắc thái mới, làm bất an xã hội khi tầng lớp trung lưu bị khánh tận, và những người vô sản bị bần cùng hoá vì lạm phát sẽ gia tăng, nhanh chóng dẫn đến lạm phát phi mã.
Sản xuất tạo phẩm vật thể theo kiểu tư bản chủ nghĩa dẫn tới sản xuất thừa. Vậy sản xuất tạo phẩm phi vật thể theo kiểu tư bản chủ nghĩa dẫn tới cái gì? Sản xuất tạo phẩm phi vật thể theo kiểu tư bản chủ nghĩa không những dẫn tới sản xuất thừa các tạo phẩm vật thể mà còn dẫn đến sự lãng phí tài nguyên thiên nhiên, dẫn tới sự quá tải của xã hội về tình trạng căng thẳng tâm lý, dẫn tới sự phản xã hội trên nhiều bình diện của đời sống xã hội dẫn tới tê liệt nhiều hoạt động kinh tế xã hội. Tình trạng bản quyền phát triển quá mức dẫn tới khi tiến hành bất kỳ việc gì người ta cũng phải tìm hiểu cặn kẽ có gì xâm phạm bản quyền hay không, có dẫn tới kiện tụng hay không. Rất nhiều người, rất nhiều tổ chức vô tình phạm luật mà bản thân không biết. Sản xuất tạo phẩm phi vật thể theo kiểu tư bản chủ nghĩa dẫn tới sự quá tải đối với xã hội. Với những thông tin y học đang tràn ngập hiện nay, ai cũng thấy mình là người có đủ mọi loại bệnh. Với những thông tin về an toàn thực phẩm hiện nay, ai cũng thấy rằng hàng ngày mình đưa vô số độc tố vào người.
Kinh tế siêu vĩ mô mở ra những nguồn lực mới, và làm thay đổi rất nhiều suy nghĩ trước đây. Nếu như tiến trình tích luỹ tư bản, tiết kiệm để đầu tư là những điều mà vẫn được cho là đức tính tốt thì hiện nay không còn như thế nữa. Việc tích luỹ tư bản cũ không tự động mở ra được, sinh thành được tư bản mới, mà lại làm cho tư bản cũ mất giá nhanh chóng.
Có những quá trình tích luỹ tư bản hậu công nghiệp không cần có sự có mặt của đồng tiền. Tiến trình tích luỹ này có khi diễn ra âm thầm. Hiểu biết được những bí mật của tư bản hiện đại thì có cơ may làm chủ được nó, thích ứng được với những động thái của nó. Chủ nghĩa tư bản rất giỏi trong việc tạo nên những tích luỹ tư bản hiện đại, và khi cần thiết thì chuyển hoá chúng thành tiền tệ, và do đó tạo nên những bất ngờ trong công cuộc cạnh tranh với các nước khác. Nhưng tiến trình tích luỹ các loại tư bản đẳng cấp thấp không tự động tạo nên được tư bản đẳng cấp cao hơn.
Các tạo phẩm phi vật thể có thể thâm nhập được vào nhau, tích hợp vào nhau, làm gia tăng tính phát triển nội tại của nhau tạo nên hình thái tích lũy mới đối với tư bản hậu công nghiệp. Các tạo phẩm phi vật thể có thể tích luỹ được, chuyển hoá, phát tán được, truyền bá được, và do đó làm cho tư bản hậu công nghiệp có những động thái vận động hoàn toàn khác với các loại tư bản cũ. Tư bản hậu công nghiệp tư bản hoá các tạo phẩm phi vật thể, hay chuyển hoá các tạo phẩm phi vật thể thành tư bản, làm gia tăng tư bản có thể theo cách âm thầm gia tăng nó theo cách thức riêng biệt. Nhưng khi tư bản hậu công nghiệp chuyển hoá thành tiền thì nó bộc lộ ra tiến trình tích luỹ của các dạng phi vật thể. Chẳng hạn, trong thị trường bất động sản, một mảnh đất âm thầm tích luỹ rất nhiều dạng phi vật thể cho đến khi nó được tiền tệ hoá thì nó có những giá trị to lớn đặc biệt.
Quá trình tích luỹ của tư bản hậu công nghiệp và quá trình chuyển hoá nó thành tiền là những việc khác hẳn nhau. Tư bản hậu công nghiệp có quá trình tích luỹ tự thân không cần đến sự có mặt của tiền trong tiến trình tích luỹ đó, cho nên khi nó trở thành tiền thì tư bản đó có giá trị được đo bằng lượng không ngờ. Người ta có cách kìm giữ những tư bản hậu công nghiệp không cho chuyển hoá thành tiền, không để tạo thành một lượng tiền lớn được ném vào trong hoạt động trao đổi chất của xã hội, không để cho lượng tiền quá lớn xuất hiện trong xã hội, tạo ra những bất công quá lớn trong quan hệ quốc tế, nhưng người ta có cách chuyển hoá lượng tư bản đó thành tiền tuỳ theo những hoàn cảnh mà những cân nhắc chiến lược và chiến thuật cần đến.
Giá trị vô hình của nhiều hãng lớn hơn giá trị các tài sản vật chất hữu hình của hãng đó nhiều lần chính là biểu hiện rằng sự tích luỹ tư bản hậu công nghiệp có con đường riêng của nó, và dẫn tới những kết quả đặc thù. Việc tích luỹ những tư bản cũ quá mức sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại trong xã hội, khi có rất nhiều nguồn lực trở nên thừa, trong khi đó, những nguồn lực mới do sự phát triển kinh tế siêu vĩ mô lại không được mở ra. Khi các hàng hoá giá rẻ có hàm lượng khoa học công nghệ không cao của Trung Quốc tràn ngập thế giới thì tình huống đó đẩy những người tiêu dùng ở Phương Tây chuyển nhanh sang việc tạo ra những tạo phẩm phi vật thể mới, và tạo ra những loại tư bản mới.
Chỉ có lợi nhuận cực lớn của ngành tạo nên các tạo phẩm phi vật thể mới thì mới có thể có nguồn lực bù đắp cho các dự án rủi ro cao, nhiều nguy cơ thất bại. Theo đuổi những giá trị của môi trường kinh tế, xã hội là theo đuổi những gì mà đem lại các giá trị lớn cho lợi nhuận, theo đuổi môi trường để cho tư bản hậu công nghiệp trong lĩnh vực có liên quan hoạt động, vận hành được, từ đó mới có khả năng thu lợi nhuận được. Điều này đặc biệt đúng khi các đại công ty, các nước phát triển trợ giúp cho các nước kém phát triển hơn để thay đổi, cải thiện môi trường để mở đường cho tư bản hậu công nghiệp vận hành.
Các nước phát triển đầu tư vào nhau là để khai thác được các tư bản đẳng cấp cao còn đang tiềm ẩn trong mỗi nước. Khi đồng đô la mất giá, tư bản ở Mỹ có giá rẻ so với các đồng tiền khác, tốc độ tiền tệ hoá tư bản của Mỹ được đẩy nhanh hơn khi các đồng tiền khác chuyển sang Mỹ để mua các loại tư bản, làm cho nhiều lĩnh vực được tư bản hoá thêm nữa. Khi kìm giữ tốc độ tiền tệ hoá tư bản thì điều gì xảy ra? Mỹ và Tây Âu kìm giữ tốc độ tiền tệ hoá tư bản nên khoảng cách bất bình đẳng của xã hội không cao như những nước mới thị trường hoá gần đây như Trung Quốc, Việt Nam.
d. Sản xuất tư bản đẳng cấp cao
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản hiện đại, trước hết người ta phải trả lời được câu hỏi là chủ nghĩa tư bản hiện đại đã tạo ra những loại tư bản mới, hiện đại, chứ không chỉ đơn thuần là chỉ ra những mối quan hệ giữa các loại tư bản với nhau. Xuất phát từ cách xem xét những hình thái quan hệ mới giữa các loại tư bản cũ sẽ không làm cho vấn đề nhích lên được. Nếu người ta chỉ nhìn thấy sự khốn khó của tư bản cũ, những mâu thuẫn và rắc rối mà nó đang chịu đựng mà không thấy có cái mới tác động của tư bản hậu công nghiệp thì không hiểu được thực chất điều gì đang xảy ra trong nền kinh tế hiện đại. Sản xuất các tạo phẩm phi vật thể theo lối tư bản sẽ dẫn đến sự quá tải đối với xã hội, mà chính bản thân điều đó lại là động lực để sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể mới ở đẳng cấp cao hơn để khắc phục được tình trạng đó.
Chủ nghĩa tư bản đem lại nhiều phương tiện hơn để các nước giải quyết những vấn đề xã hội của mình để phát triển tư bản đẳng cấp mới, mà chính ở đây các tổ chức xã hội khác nhau có cách giải quyết vấn đề khác nhau. Một khi đã tạo nên được những tư bản mới thì phải làm cho nó đạt được đẳng cấp cao hơn so với các loại tư bản cũ. Tư bản ở đẳng cấp cao hơn khi nó tạo ra được những kết hợp mới, đặc biệt là những kết hợp mới về nguyên tắc.
Tư bản hiện đại đòi hỏi phải được xã hội tiếp nhận ở mức xã hội hoá cao hơn, và trong thời đại hiện nay nó phải đạt được trình độ xã hội hoá cao, luôn luôn phải thích ứng với những biến đổi của tình hình mới, và luôn luôn phải tạo ra các loại tư bản mới.
Tạo ra tiền, tạo ra tư bản mới là chưa đủ, mà phải tạo ra được tư bản ở đẳng cấp cao hơn. Động thái điều hành hoạt động siêu vĩ mô diễn biến theo các loại tư bản mới đã được tạo ra và được phổ biến lan toả ra xã hội và ra bên ngoài. Tư bản đẳng cấp cao có tính lan toả hơn, có khả năng kết hợp nhiều tiến trình hơn, và ở trình độ cao hơn, thay vì phải làm nhiều thứ, tiêu dùng nhiều tài nguyên thiên nhiên thì có những cách thức tạo ra những cái mới mà tài trợ được cho sự phát triển, làm được nhiều việc hơn, chia sẻ hơn. Sự phối hợp với nhau của các loại tư bản phải nhuần nhuyễn khi những đồng tiền thật được thu gom lại, được tập trung để làm những việc thực chất đẩy lên những tầng mức mới của tư bản bằng cách mua lại hay tập trung các nguồn lực được sản xuất ra. Vấn đề đặt ra là có mở đường cho các tư bản mới du nhập vào hay không, chủ thể nào làm việc đó, làm một cách có tổ chức hay tự phát. Người ta có nhiều cách thức để biến đồng tiền của một nước khác mà mình giữ trong tay vươn lên đẳng cấp cao hơn về tư bản.
Điều khó khăn là chuyển dòng đầu tư từ đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp sang các lĩnh vực hậu công nghiệp, trong đó có lĩnh vực đầu tư vào nguồn nhân lực trình độ cao. Đây không phải là vấn đề mà có thể giải quyết được ở tầm vi mô hay vĩ mô mà phải giải quyết ở tầm siêu vĩ mô. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô tốt là điều phối được những chiều hướng mâu thuẫn rất khác nhau.
Học thuyết mới về phát triển
Kinh tế học có vai trò tối quan trọng vì nó liên quan mật thiết với sự phát triển kinh tế của đất nước. Các công trình nghiên cứu kinh tế hiện nay không cho thấy một nguồn vốn mới của sự phát triển là nguồn vốn do chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô tạo nên. Xã hội nào chỉ có những nhà kinh tế học vi mô và vĩ mô, mà lại ở trình độ còn thấp thì xã hội đó rất khó khăn trên con đường phát triển kinh tế hiện đại. Bằng sự nhận thức được xã hội hiện đại có các loại tạo phẩm vật thể và phi vật thể ở tầng mức khác nhau, có thể phân loại được đẳng cấp các nhà kinh tế trong một xã hội. Muốn đưa một đất nước vượt lên thì phải có những trí tuệ mang tầm thời đại có sức sáng tạo phi thường, phải phân tích đúng tình hình và hành động đúng. Muốn vậy đất nước đó phải có các nhà tư tưởng kinh tế của riêng mình. Tiến hành điều hành kinh tế siêu vĩ mô là tiến hành một cuộc cách mạng mà trong một cuộc cách mạng, chỉ một thời gian ngắn sẽ đem lại một khối lượng kinh nghiệm rất phong phú, và quan trọng hơn là đem lại những con người có trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, vươn lên đuổi kịp các nước tiên tiến hơn. Thiết lập được điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì có quan niệm mới về sự phát triển, về nâng cao sự cạnh tranh quốc gia, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế,... vì khi đó có những phương tiện mới để giải quyết các vấn đề này.
Để một loại tư bản lan toả được thì cần có nguồn lực tương ứng, thậm chí những nguồn đó lại ở một không gian địa lý khác, do đó hoạt động kinh tế siêu vĩ mô nhanh chóng bao trùm các hoạt động của đời sống xã hội. Trong một xã hội, điều then chốt là xác định được những lĩnh vực có khả năng tiêu hoá được đồng tiền ảo, làm đòn bẩy phát triển được nền kinh tế thực.
Với những học thuyết về phát triển cũ, khi mà người ta dậy dỗ rằng các đồng ngoại tệ là khó kiếm, và rằng phải dựa vào lao động cần cù và sáng tạo để cầu mong đem lại sự phát triển kinh tế chứ không phải là mở ra những bình diện hoạt động mới cho xã hội, như hoạt động kinh tế siêu vĩ mô, các nước đang phát triển không biết làm cách nào để thu hẹp được khoảng cách với các nước phát triển ngày càng rộng ra, và nguy cơ tụt hậu ngày càng trở nên rõ ràng, những vấn đề xã hội ngày càng trở nên bức xúc.
Với định nghĩa sự phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, thì chúng ta thấy rằng phát triển là phải có cái gì đó thặng dư, và có khả năng gia tăng cái thặng dư. Tăng trưởng là phát triển lớn mạnh lên. Về thực chất, sự phát triển thể hiện ở chỗ có những kết hợp hoàn toàn mới về nguyên tắc xuất hiện, nhưng các kết hợp này tương thích với các kết hợp cũ. Sự phát triển hiện nay là mở ra bình diện để các kết hợp siêu vĩ mô có thể được hình thành. Để thấy được sự phát triển hay tiến hoá của xã hội thì phải phát hiện ra được những gì thặng dư kết hợp mới trong xã hội. Phải phát triển đến mức nào đó thì các tạo phẩm phi vật thể mới có tác dụng trong chính trị, và muộn hơn, trong kinh tế, kinh tế vĩ mô, kinh tế siêu vĩ mô.
Học thuyết mới về phát triển trước hết phải mở ra được các bình diện hoạt động mới của nền kinh tế, phải sản xuất ra được các tạo phẩm phi vật thể để phục vụ cho sự kết hợp siêu vĩ mô, từ đó đưa các chủ thể của các tầng mức vĩ mô và vi mô vào sự chi phối mới, vào sự kết hợp mới với các nguồn lực mới được tạo ra do hoạt động của chúng trở nên linh hoạt hơn, rút ngắn thời gian để tạo nên các tạo phẩm nhất định. Muốn phát triển được thì một xã hội phải có khả năng mở ra những bình diện hoạt động mới. Khi mở ra được bình diện hoạt động mới thì sẽ có những giải pháp mới đối với những vấn đề cũ và xuất hiện những vấn đề hoàn toàn mới đòi hỏi phải có những giải pháp hoàn toàn mới. Xã hội nào không mở ra được bình diện hoạt động mới thì xã hội đó bị hụt hơi trong tiến trình phát triển, nguy cơ tụt hậu ngày càng tăng. Xã hội đó phải biết loại bỏ những cản trở trong nội tại của mình để phát triển được các tạo phẩm phi vật thể ở các bình diện mới. Phát triển là mở ra bình diện để sản xuất tiền ảo, và phát triển tư bản đẳng cấp cao. Mấy chục năm sau, các nước khác phát triển như thế nào? Chiều hướng tương lai là gì? Kinh tế học siêu vĩ mô dự đoán gì trong tương lai? Điều người ta quan tâm là trong tương lai các xã hội tiên tiến hơn có thể sản xuất ra được các tạo phẩm siêu vĩ mô gì và có những biện pháp thủ đoạn gì? Khi mà trong nội bộ của một xã hội còn thua xa về mặt nhu cầu với các xã hội khác, chưa nói đến việc đáp ứng các nhu cầu đó, thì việc tìm ra cách thức phát triển mới phải là làm cho xã hội xuất hiện những nhu cầu của các xã hội phát triển hơn và vươn tới những nhu cầu của các xã hội phát triển nhất. Sự phát triển đối với một xã hội là khả năng xã hội đó sản xuất ra được những dạng phi vật thể nào có thể tạo nên được các kết hợp hoàn toàn mới ở các tầm vi mô, vĩ mô, siêu vĩ mô hay không. Khi có những khả năng đó thì mới có thể huy động được các nguồn lực trong xã hội để giải quyết được những vấn đề đặt ra, khi đó mới biết cách sử dụng được những nguồn lực còn hạn chế của xã hội mà giải quyết được những vấn đề xã hội tối ưu hơn.
Sự phát triển là phải tạo ra được các nhu cầu hoạt động mới của xã hội, tạo ra được cách thức phát triển các nguồn nội lực. Các nguồn nội lực được phát huy khi chúng tham gia vào các kết hợp mới vượt ra khỏi những thứ thông thường của chúng. Người ta thường định nghĩa nội lực là sức mạnh sinh ra từ bản thân sự vật. Nội lực thể hiện ở tầm có các dạng phi vật thể có thể hoạt động trên những bình diện hoàn toàn mới. Mỗi nội lực có những thặng dư kết hợp riêng. Các thặng dư này khi bị kích hoạt và đưa vào hoạt động thì sẽ tạo nên được những kết hợp mới mà khi vận hành sẽ tạo nên hàng loạt vấn đề mới. Nội lực của một nước là khả năng tạo nên các kết hợp mới trong xã hội mà một khi mở ra bình diện hoạt động mới cho xã hội thì cái đó làm gia tăng nội lực của một nước.
Kinh tế học siêu vĩ mô đem lại học thuyết mới về sự phát triển, hơn nữa, trang bị cho một nước công cụ để tiến hành phát triển đuổi kịp các nước khác. Khi thị trường là xu hướng đóng vai trò chủ đạo hiện nay, các đặc điểm chủ yếu của kinh tế hiện đại tất yếu cuốn các quốc gia, các dân tộc vào vòng xoáy của nó thì đòi hỏi các quốc gia, các dân tộc phải tìm cách thích ứng, hơn nữa, tận dụng được những cơ hội mà tiến trình này đem lại để phát triển vượt lên. Hoạt động điều hành ở các tầng mức khác nhau nhằm mục đích thu hút các chất liệu cần thiết và thiết lập nên những tiến trình tự động. Những tiến trình này cần phải có thời gian thì mới hoàn thành được.
Những hoạt động phát triển phải được nhìn nhận khác đi, trong đó, sự tự do kinh tế đang được rao giảng phải được hiểu rằng có sự chi phối của một tổ chức bí mật. Khi đã tổ chức tốt hoạt động bí mật thì người ta hoàn toàn có khả năng đương đầu với những điều kiện ngặt nghèo do các thế lực khác áp đặt trong các hoạt động công khai. Hoạt động kinh tế đa quốc gia sống chung được với các biến động tỷ giá là do sự xuất hiện của tiền ảo đem lại sự ổn định chống lại rủi ro tỷ giá. Việc bơm tiền vào thương hiệu và các tài sản phi vật thể, vô hình của doanh nghiệp là cách tốt nhất để bảo vệ doanh nghiệp chống lại đại nạn hàng nhái, hàng giả, thậm chí là cách "tương kế, tựu kế" để sử dụng việc làm hàng nhái hàng giả làm gia tăng tư bản của mình. Công việc làm giầu mà bản thân người ta tự xoay xở với tìm kiếm những khoản tiền cần thiết cho sự phát triển công việc của mình khác với công việc làm giầu được sự hỗ trợ về tài chính của tổ chức chuyên môn hướng dẫn làm giầu có những nguồn lực khổng lồ.
Để thấy được tiến trình đuổi kịp thì trước hết phải thấy được hiện tại, các nước phát triển đã phát triển đến đâu, và trong vài chục năm tới, trình độ phát triển của các nước đó như thế nào, về mặt vi mô, vĩ mô, siêu vĩ mô. Cấu trúc xã hội của các nước đó ra sao? Cuộc chiến giữa các chủ thể điều hành của mỗi nước với nhau sẽ dẫn đến những gì? Các công trình nghiên cứu về tiến trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá rút ngắn, về sự phát triển đuổi kịp hiện có không trả lời được câu hỏi đầu tiên và cơ bản nhất là tiền đâu, lấy đâu ra tiền, đặc biệt là số lượng tiền ngoại tệ khổng lồ để biến những lý luận đó thành hiện thực. Không trả lời được câu hỏi này thì mọi lập luận, mọi dự án dù đẹp đẽ và hào nhoáng đến mấy cũng sẽ bị sụp đổ không gì cứu vãn được. Chiều hướng phát triển tương lai đang gia tốc tiến trình sản xuất ra những kết hợp mới về nguyên tắc. Con đường phát triển xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài là con đường biến tiền ảo thành tiền thật ở nước khác và từ đó phát triển lên những tư bản mới đẳng cấp cao hơn.
Sản xuất tư bản hậu công nghiệp đem lại quan niệm mới về công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nghiên cứu về công nghiệp hiện đại là chỉ ra các trình độ của các loại vật thể theo tầm tạo nên được các kết hợp của chúng với các hình thái kết hợp tĩnh, kết hợp động, kết hợp vận hành, kết hợp tạo nên các dạng phi vật thể, kết hợp tiếp nhận các dạng phi vật thể, các kết hợp hỗn hợp. Hiện đại hoá là có năng lực sáng tạo ra được các kết hợp mới về nguyên tắc, do đó đạt được trình độ phát triển tiên tiến nhất. Trình độ hiện đại hoá đạt được đồng thời với sự lan toả của các loại tư bản sản xuất ra các kết hợp mới đó ra toàn xã hội. Sự hình thành các ngành kinh tế mới, sự xác định lại các giá trị của tư bản cũ, và hơn hết là sự hình thành những thặng dư hậu công nghiệp đã làm mở rộng không ngừng tài sản của xã hội, làm gia tăng không ngừng giá trị tư bản.
Sự gia tăng nguồn lực nội tại của nền kinh tế là sự mở rộng được các chiều hướng phát triển mới. Nhu cầu là một tạo phẩm phi vật thể xã hội mang lại tài sản, nhu cầu là tài sản của xã hội. Sản xuất ra tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản là phương cách tốt nhất, nhanh nhất để phát triển hết mức nội lực hiện có của một xã hội. Sản xuất ra tư bản đẳng cấp cao là cách thức để một xã hội tự vươn lên đuổi kịp các nước phát triển hơn.
Đuổi kịp là đạt được trình độ phát triển của những nước tiên tiến đương đại. Tự nắm tóc mình đứng dậy là một điều khó khăn không thể thực hiện được, nhưng điều hành kinh tế siêu vĩ mô lại làm được việc hơn thế, tự nắm tóc mình bay lên.
Số lượt đọc:
342
-
Cập nhật lần cuối:
20/11/2008 09:41:17 AM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|