Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tài chính - Ngân hàng  Chứng khoán  Đầu tư  Bảo hiểm  Bất động sản  Lao động  Hàng hóa, Dịch vụ  Pháp luật

Điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng xã hội chủ nghĩa

Nguyễn Bình Giang, Tống Quốc ĐạtGửi email  Bản in 
12:06' PM - Thứ ba, 12/08/2008

"Điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng xã hội chủ nghĩa" nghiên cứu về hình thái của chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại trong đó có Đổi mới tư duy và hình thái tư duy hiện đại, Hình thái hiện đại của chủ nghĩa duy vật lịch sử trên các lĩnh vực Sản xuất, Phân phối, Phân chia xã hội thành các giai cấp và đẳng cấp và chỉ ra Hình thái giá trị thặng dư hiện đại, từ đó nghiên cứu Hình thái chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại. Trên cơ sở các nghiên cứu này, các tác giả nêu ra được các đặc điểm của Định hướng xã hội chủ nghĩa và nêu ra Điều hành trong thực tiễn.

Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại

Ngay từ trước Mác, và trong thời của Mác, có rất nhiều xu hướng xã hội chủ nghĩa khác nhau, mà trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăng ghen đã nói ra một số dạng xã hội chủ nghĩa đó như chủ nghĩa xã hội phản động, gồm có: chủ nghĩa xã hội phong kiến, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản, chủ nghĩa xã hội Đức hay chủ nghĩa xã hội "chân chính"; chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tư sản, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng, và trong tiến trình phát triển về sau, có rất nhiều kiểu xã hội chủ nghĩa của các nhóm dân cư khác nhau như chủ nghĩa xã hội kiểu Ý, ,... và sau này Ăng ghen đã chỉ ra hiện tượng chủ nghĩa tư bản cũng sẵn sàng đội lốt chủ nghĩa xã hội như chủ nghĩa xã hội kiểu Bi-xmác. Phát hiện ra các khuyết tật của chủ nghĩa tư bản hiện đại và vạch ra các xã hội mới khắc phục được các khuyết tật đó làm xuất hiện rất nhiều xu hướng xã hội chủ nghĩa khác nhau, mà chủ nghĩa tư bản sẵn lòng chấp nhận, thậm chí nhận luôn tên là chủ nghĩa xã hội.

Với bất kỳ định nghĩa cụ thể nào về chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa tư bản hiện đại cũng có những cách bác bỏ, thậm chí nêu lên được các phản đề, vì một thực tế là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ, và các nước xã hội chủ nghĩa còn lại buộc phải chấp nhận luật chơi của chủ nghĩa tư bản là đã vào WTO như Trung Quốc, và đang thúc đẩy tiến trình vào được WTO như Việt Nam. Thậm chí chủ nghĩa tư bản nhận luôn mình là thứ chủ nghĩa xã hội đó sau khi tiến hành một vài cải cách nào đó. Hơn thế nữa, cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay diễn ra rất gay gắt khi các nước Phương Tây cao giọng rao giảng về tự do, nhân quyền và dân chủ ở khắp nơi trên thế giới để vu cáo, vu khống, bôi nhọ các nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội của Mác là chủ nghĩa xã hội khoa học. Ăng-ghen đã chỉ dẫn:
"Hai phát hiện vĩ đại ấy-quan niệm duy vật về lịch sử và việc dùng giá trị thặng dư để bóc trần bí mật của sản xuất tư bản chủ nghĩa-là công lao của Mác. Nhờ hai phát hiện ấy, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một khoa học mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ". (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 19, NXB Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội 1995, trang 305).

Thực tiễn đòi hỏi phải có những bước tiến mới trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại. Do đó để nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại, phải chỉ cho ra hình thái hiện đại của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phải chỉ cho ra hình thái hiện đại của giá trị thặng dư và "phải nghiên cứu thêm trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ".

"Đầu thời kỳ thứ nhất, học thuyết của Mác không hề chiếm được địa vị thống trị. Nó chỉ là một trong nhiều phái hay trào lưu của chủ nghĩa xã hội". (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 23, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, trang 1), nhưng nó đã chiếm được địa vị thống trị vì đã chỉ ra được thực chất của những gì đang diễn ra trong xã hội, chỉ ra được điều đứng đằng sau những sự biến và những gì đang thực sự diễn ra. Bằng việc chỉ ra được bí mật của xã hội mà đã bị che giấu dưới tầng tầng lớp lớp tư tưởng, Mác đã làm được điều đó.

Học thuyết của Mác là học thuyết hoàn bị vì nó đòi hỏi phải nắm được vấn đề trên mọi phương diện, mọi góc độ, mọi quan điểm, mọi tầng mức, mọi sự vận động, mọi sự chuyển hoá và một điều luôn luôn phải quán triệt là mỗi thời đại, mỗi đất nước, mỗi dân tộc có những vấn đề riêng của mình. Học thuyết của Mác là học thuyết hoàn bị vì nó đòi hỏi mỗi thời đại, mỗi giai đoạn phải tìm cho ra hình thái phù hợp của nó, không được xơ cứng, giáo điều. Học thuyết của Mác là học thuyết hoàn bị vì nó chỉ ra được cách thức khám phá ra được những bí mật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Các nhà kinh tế học tư sản, các tư tưởng gia tư sản lớn tiếng phủ nhận vai trò của Mác khi thấy rằng thời Mác đã không có những vấn đề đặt ra trong thời đại ngày nay, và cho rằng từ đó không giải quyết được những vấn đề kinh tế đương đại mà không đi sâu vào nghiên cứu thực chất các tư tưởng kinh tế của Mác, các tư tưởng đó cho phép vạch ra những bí mật của nền kinh tế thế giới khi buộc các nghiên cứu kinh tế phải trả lời được hàng loạt câu hỏi trực diện. Người ta phải có những lý giải mới trong các vấn đề kinh tế như lạm phát, tăng trưởng, tiền tệ, tài chính,...

Phê phán một tác giả giải quyết được những vấn đề đặt ra trong thời đại của mình mà không giải quyết những vấn đề của các thời đại về sau người đó đặt ra là sự phê phán thiếu khoa học. Vấn đề là phải chỉ ra được những phương pháp của tác giả đó có áp dụng được cho những nghiên cứu về sau hay không, có tạo được cơ sở cho những phát triển hết sức phong phú về sau hay không. Những thành quả hiện đại phải đem lại những lý giải thấu đáo cho những hiện tượng kinh tế xã hội từ thời Lênin đến nay, đặc biệt là phải có những lý giải theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về kinh tế học vĩ mô mà được phát triển vào những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi. Sự phát triển kinh tế xã hội đến đâu thì thực hiện được sự điều hành vĩ mô? Vì khi đó đã hình thành các tạo phẩm phi vật thể có mối quan hệ vĩ mô, chịu tác động vĩ mô.

a. Đổi mới tư duy và hình thái tư duy hiện đại

Thời đại mới đòi hỏi ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin có hình thức mới. Trong lĩnh vực triết học, có điều mà Mác, Ăng-ghen, Lênin chưa làm được là viết một tác phẩm hoàn chỉnh về phép biện chứng, mà đương nhiên chúng ta hoàn toàn có thể tin rằng nếu tác phẩm đó được viết ra thì sẽ có quy mô như bộ "Tư bản". Đó là một khoảng mênh mông cho các môn đồ của chủ nghĩa Mác-Lênin sáng tạo. Trong triết học, vấn đề cơ bản lớn "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 21, NXB Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội 1995, trang 403), thì hiện nay, tồn tại đã thể hiện ra hình thái mới là hình thái phi vật thể, và hình thái phi vật thể đã bộc lộ ra những đặc tính mới, mở ra những chân trời mới của tri thức nhân loại, của tự nhiên và xã hội đòi hỏi phải có hình thái tư duy mới, hình thái tư duy hiện đại. Hình thái phi vật thể có những tác động mới, và thế giới phi vật thể là một thế giới có thể nghiên cứu được, vấn đề là phải đổi mới tư duy. Thế giới phi vật thể đem lại hình thái mới cho chủ nghĩa duy vật.

Hai hình thái của tồn tại trong thời đại ngày nay khiến cho vấn đề phép biện chứng phải được xem xét ngay từ gốc rễ, từ những vấn đề sơ đẳng nhất. "Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm" (V. I. Lê-nin. Toàn tập, Tập 29, nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1981, trang 240). Chính ở đây "Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất,- trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hoá lẫn nhau,- tại sao lý trí con người không nên xem những mặt đối lập ấy là chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện, năng động, chuyển hoá lẫn nhau" (V. I. Lê-nin. Toàn tập, Tập 29, nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1981, trang 116-117) đã cho thấy hình thái phi vật thể đã đem lại cơ sở cho phép biện chứng. Học thuyết về phép biện chứng hiện đại phải có hình thái mới khi nó chứng minh những luận điểm triết học của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin.

Trong thời đại ngày nay phải chỉ ra được để thống nhất các mặt đối lập thì phải hình thành được các dạng phi vật thể có thể đưa mọi dạng phi vật thể có các thặng dư kết hợp theo nhiều chiều hướng rất khác nhau vào trong các khuôn khổ, vào một sự thống nhất nào đó. Hình thái hiện đại của phép biện chứng cho phép nghiên cứu về thế giới phi vật thể. Vấn đề là phát triển các dạng phi vật thể đóng gói được các trạng thái khác của các dạng phi vật thể nào đó. Các dạng phi vật thể có thuộc tính thặng dư kết hợp mà có thể được chắt lọc, nối ghép với nhau, thâm nhập vào nhau để chuyển sang một trạng thái khác, tạo thành một cái hoàn toàn mới. Như vậy phải vạch ra rằng có cái gì đó chi phối, kiểm soát, thống nhất, điều hành.

Sự phân đôi của tồn tại có hình thái vật thể và phi vật thể đã là cơ sở để thấy rằng "Như vậy, trong bất cứ mệnh đề nào, cũng có thể (và phải) tìm ra giống như trong một "cái ngăn tổ ong" ("tế bào") những mầm mống của tất cả những yếu tố của phép biện chứng, do đó vạch ra rằng phép biện chứng là cái cố hữu của mọi nhận thức của con người nói chung" (V. I. Lê-nin. Toàn tập, Tập 29, nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1981, trang 381). Trong mỗi thời đại cần phải trả lời các hình thái cụ thể của mâu thuẫn, của đối lập là gì tương xứng với trình độ mới của thời đại của mình.

Các nhà triết học của thế kỷ 20 loay hoay mãi về cái "being" (tồn tại) bởi hình thái phi vật thể của nó, nhưng họ đã không đẩy được vấn đề đi xa hơn vì hình thái này của tồn tại có những trạng thái rất khác nhau mà họ không dễ dàng nắm bắt được, và có khi chúng lại có thể trở lại được những trạng thái đã qua nào đó, giống như một chương trình máy tính, sau khi bị kích hoạt, đưa vào vận hành thì nó chuyển bản sao của nó vào tình trạng vận hành, và khi không vận hành nữa thì chương trình trở lại nguyên dạng của nó. "Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp của Hê-ghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa. Đối với Hê-ghen, quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi. Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó" (C. Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 35). Như vậy, dưới ngôn ngữ của các tạo phẩm phi vật thể, tự nhiên có cách thức cài các dạng phi vật thể của mình vào trong con người, và thặng dư kết hợp của tư duy con người có thể cải biến chúng theo các cách thức khác nhau. Bộ óc con người cải biến các dạng phi vật thể được cài vào con người. Thặng dư kết hợp của tư duy cải biến những thứ được đưa vào tư duy để hình thành nên những dạng phi vật thể mới. Có những dạng phi vật thể của vật chất được chuyển vào con người, mà hoàn toàn vận hành được khi có một kích hoạt nhất định, và có những thứ bị cải biến theo tác động của con người, vì con người.

Vì "Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới" (C. Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 3, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1995, trang 12), nên khi con người đã đạt được thành quả mang tính cách mạng trong việc cải tạo thế giới bằng việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể đem lại những thành quả tác động đến thế giới vật thể, tạo nên được những kết hợp vượt qua các giới hạn không gian và thời gian cụ thể thì việc giải thích thế giới phải khác đi. Chủ nghĩa Mác-Lênin đem lại công cụ để hiểu được thế giới và có những công cụ được phát triển để cải tạo thế giới. Thời của Mác và thời của Lênin thiếu khái niệm tạo phẩm phi vật thể, vì thế các ông thấy Hêghen còn có rất nhiều điều quý giá chưa khai thác hết được, hay nói đúng hơn, các ông đã thấy được có cái gì đó ở Hêghen mở ra những chân trời mới mà các ông không có đủ thời giờ để khảo sát, nghiên cứu. Điều đó không hẳn là Hêghen đã làm được, nhưng Hêghen đã gợi ra. Lênin cho rằng hiểu được tác phẩm "Lô gích học" của Hêghen thì sẽ hiểu được tác phẩm "Tư bản" của Mác. Cái mà Mác, Lênin muốn đạt tới là thực tại khách quan phi vật thể, nhưng do hạn chế của thời đại mà các ông chưa phát triển lên được, chưa nghiên cứu được hoàn bị, nhưng các ông đã nghiên cứu được dạng phi vật thể trong lịch sử và đó là cơ sở để nghiên cứu dạng phi vật thể tổng quát hơn về sau. Khi nghiên cứu tiền có nhiều chức năng đồng thời, Mác đã thấy rằng trong một cái gì đó có nhiều dạng phi vật thể mà có thể vận hành theo nhiều kiểu khác nhau, và đó là những gợi ý quý báu cho tiến trình nghiên cứu thế giới phi vật thể.

"Ở Hê-ghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí" (C. Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 35).

Do là người đi tiên phong trong việc chỉ ra những tạo phẩm phi vật thể đóng vai trò tác động tới toàn xã hội, Mác đã khó khăn như thế nào trong Chương I của bộ Tư bản để chỉ ra một dạng phi vật thể xã hội là "giá trị" và tầm tác động của chúng với xã hội tư bản để làm cho người đọc hiểu được, làm cho người đọc phát triển trong bản thân mình dạng phi vật thể nào đó để có thể nhận diện được "giá trị". Nhưng một khi xã hội quen thuộc với các dạng phi vật thể thì người ta dễ dàng quan niệm được. Vấn đề là ở chỗ tạo phẩm phi vật thể "giá trị" có sức mạnh, hơn nữa, có sức mạnh ghê gớm cải biến xã hội. Bản thân khái niệm "giá trị" đã hàm chứa một lịch sử phát triển. Sự xuất hiện của các tạo phẩm phi vật thể đòi hỏi phải mở rộng sự phân tích của Mác về lao động. Tạo phẩm phi vật thể "giá trị" được hình thành trong lịch sử như thế nào? Một tạo phẩm xã hội là công trình chung của xã hội như thế nào? Khi sáng tạo ra các tạo phẩm phi vật thể, con người thâm nhập được vào các tầng mức khác của thế giới mà mình không quen thuộc, như các tầng mức vĩ mô và siêu vĩ mô. Mỗi tầm mức hoạt động đòi hỏi có tư duy khác nhau. Khi đạt được tầm vóc siêu vĩ mô thì thế giới không đến mức phức tạp như người ta nghĩ vì người ta thấy được rằng các trật tự được thiết lập trong những sự hỗn độn khi nhìn nhận ở các tầng mức khác nhau.

"Trong công việc sản xuất của mình, con người chỉ có thể hành động như bản thân thiên nhiên đã làm, nghĩa là chỉ có thể làm thay đổi hình thái của vật chất mà thôi" (C. Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 73). Nhưng hiện giờ người ta có những dạng phi vật thể có thể thâm nhập vào bên trong, làm thay đổi trạng thái.

Trong thời đại hiện nay, khoa học đã có bước tiến mới khi người ta tiến hành nghiên cứu thế giới phi vật thể và đã phát minh ra các công cụ để nhận dạng được các tạo phẩm phi vật thể, các dạng phi vật thể của xã hội và tự nhiên, sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể, các dạng phi vật thể hoàn toàn mới mà xã hội và tự nhiên chưa từng có. Dạng phi vật thể đặc biệt là các số có thể mô tả thế giới, mô phỏng được sự vận hành của thế giới nhờ thuộc tính chuyển đổi của các dạng phi vật thể. Mô hình hoá hiện nay đã có thể mô tả được những thứ rất động, và có cách thể hiện ra ở hình thái động nào đó mà người ta có thể quan sát được bằng các giác quan. Dạng phi vật thể mô tả được các vật thể, như hình dáng bất cứ vật thể nào cũng có thể được mô tả bằng một hàm số nhiều biến, và những biến đổi của các yếu tố cấu thành qua thời gian. Một lần nữa ở đây làm cho những tiên đoán tài tình về phép biện chứng lại là những điều có thể chứng minh được. Thực chất của phép biện chứng được chứng minh.

Sự sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể và vai trò trọng yếu của chúng trong đời sống kinh tế xã hội hiện đại làm cho tư duy thay đổi hoàn toàn, con người phải có hình thái tư duy mới, hình thái tư duy hiện đại. Hoạt động thực tiễn buộc người ta phải theo tư duy mới, dù có ý thức hay là vô thức. Điều này Ăng ghen đã nhấn mạnh: "Nhưng trong suốt thời kỳ từ Đê-các-tơ đến Hê-ghen và từ Hốp-xơ đến Phoi-ơ-bắc, điều thúc đẩy các nhà triết học tiến lên, hoàn toàn không phải chỉ là sức mạnh của tư duy thuần tuý như họ tưởng. Cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là bước tiến mạnh mẽ, ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghiệp. Ở những người duy vật chủ nghĩa, điều đó đã biểu hiện ra như đập vào mắt người ta; nhưng ngay cả những hệ thống duy tâm chủ nghĩa cũng ngày càng chứa đầy một nội dung duy vật chủ nghĩa và ra sức điều hoà, theo quan điểm phiếm thần luận, sự đối lập giữa tinh thần và vật chất, đến nỗi rút cuộc lại, hệ thống của Hê ghen, cả về phương pháp lẫn nội dung chỉ là một thứ chủ nghĩa duy vật lộn ngược đầu xuống dưới một cách duy tâm chủ nghĩa" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 21, NXB Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội 1995, trang 407).

Do vai trò ngày càng tăng của các tạo phẩm phi vật thể đối với khoa học công nghệ và đời sống xã hội nên các vấn đề phải được nhìn nhận khác đi, và giải pháp cho các vấn đề không còn đơn giản như trước. Người ta phải tính tới các dạng phi vật thể đã có và sẽ có ở nhiều tầng mức khác nhau, và phải tính tới những đột biến bất thường sẽ xảy ra. Nắm bắt được những dạng phi vật thể và các trạng thái của chúng là một điều mà tư duy hiện đại đòi hỏi. Không phải dễ dàng gì nhận dạng được một dạng phi vật thể, nhất là những dạng phi vật thể ở tầng mức vĩ mô, siêu vĩ mô và siêu vi mô. Người ta dễ thấy tạo phẩm phi vật thể gắn với vật thể mà có giá trị thương mại, nhưng tạo phẩm phi vật thể xã hội, không gắn với vật thể mà có giá trị thương mại thì khó thấy hơn nhiều mà thường bị che lấp bởi "tầng tầng lớp lớp tư tưởng". Trong dạng phi vật thể có nhiều tiến trình, có nhiều trạng thái, có những tiến trình lặp đi lặp lại xử lý những cái khác theo những kiểu nào đó. Tiến trình lặp xử lý được một dải những biến đổi trước khi chuyển sang trạng thái mới.

Với việc các tạo phẩm phi vật thể đóng vai trò trọng yếu trong khoa học, công nghệ và đời sống xã hội, tư duy phải đổi mới để bao quát được những gì đang mở ra. Việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể đòi hỏi phải có những suy nghĩ mới. Dạng phi vật thể khi vận hành sẽ đưa các dạng phi vật thể khác vào các trạng thái đóng gói, kích hoạt, vận hành, và tham gia vào các kết hợp khác nhau. Hình thái tư duy hiện đại đòi hỏi tri thức về một dạng phi vật thể phải nắm được các trạng thái chủ yếu của nó, và các cách thức tác động vượt qua thời gian và không gian để dạng phi vật thể đó chuyển hoá các trạng thái của nó. Các trạng thái này có những thứ hoàn toàn mới mang đặc trưng của thời đại, như đóng gói, sao lưu, kích hoạt, vận hành, phát tán, tiếp nhận các dạng phi vật thể khác, giao tiếp được với các tầng mức khác nhau. Hình thái tư duy hiện đại cho phép lọc ra một dạng phi vật thể nào đó khi nhận dạng được một trạng thái của nó, từ đó phục dựng được các trạng thái khác. Đó là cơ sở để xây dựng, thiết tạo các dạng phi vật thể hoàn toàn mới, cả trong tự nhiên và xã hội.

Khi một vấn đề được thực tiễn mở ra khía cạnh mới thì chủ nghĩa Mác-Lênin yêu cầu người ta phải xem xét toàn diện, thấy được các chiều hướng phát triển. Mặc dù tính tương đối của nhận thức là điều mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhiều lần đề cập đến nhưng do không có đủ năng lực lý luận nên trong hoạt động thực tiễn sự giáo điều đã diễn ra phổ biến gây ra những hậu quả rất nguy hại như sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ và Đông Âu là một minh chứng.

Nghiên cứu là tìm ra các vấn đề mới và lập luận để vấn đề trở nên sáng tỏ, đề ra được giải pháp cho vấn đề. Quá trình nghiên cứu là đi từ biểu hiện bên ngoài đến thực chất, và khi đạt được thực chất và trình bầy toàn cảnh vấn đề thì người ta thể hiện sự lan toả ra biểu hiện bên ngoài. Khi người ta nói nhiều về những việc phải làm mà không nêu ra được những thành quả nào mang tính thuyết phục thì cách nêu ra những vấn đề đó có điều không ổn, và tình hình đã vượt trước những câu hỏi đó. Sai lầm của cách nhìn nhận cũ là người ta nhìn nhận thực tiễn là những gì đang xảy ra trong nước, tìm những nguồn lực nội tại theo kiểu cũ, mà không thấy được phải tìm những sức mạnh mới từ những sự liên kết mới của xã hội, một cách chủ động và quyết liệt. Điểm then chốt của sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong một hoàn cảnh cụ thể là phải phát hiện ra những đặc điểm của hoàn cảnh đó chưa từng có dưới thời Mác, dưới thời Lênin, và vận dụng những phương pháp nghiên cứu, những cách đặt vấn đề mà các ông đã sử dụng để nhận diện được những vấn đề mới và cách giải quyết chúng.

Sở dĩ việc phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện hiện đại rất khó khăn là vì phải trả lời cho được trong thời hiện đại, các vấn đề cơ bản có hình thái như thế nào. Với sự phong phú và toàn diện của chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ khi nào thực tiễn vạch ra được những điều mà thời đại của Mác, thời đại của Lênin chưa từng có thì mới có thể có những bước tiến phát triển mới về chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời hiện đại.
Sự xuất hiện mới những tạo phẩm vật thể và phi vật thể mà xưa nay chưa từng có với nhịp độ ngày càng nhanh chóng dẫn đến niềm tin rằng trong thời gian tới, xã hội sẽ quen thuộc và sử dụng thành thạo các tạo phẩm vật thể và phi vật thể mà hiện giờ xã hội chưa hình dung được.

Việc sản xuất ra được những kết hợp mới vượt qua các giới hạn không gian và thời gian cụ thể dẫn đến những suy nghĩ thông thường không còn đúng nữa, đặc biệt là mối quan hệ nhân quả. Trong lĩnh vực quân sự, kinh tế, chính trị, đòn tấn công của đối phương không còn là trực diện nữa. Trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, việc dùng các biện pháp gián tiếp để giải quyết vấn đề trở thành thông thường. Chỉ có điều các biện pháp đó phải được nhìn nhận ở trên bình diện bao quát hơn. Muốn phát triển nhanh về kinh tế thì phải điều hành được kinh tế siêu vĩ mô đối với đất nước mình.

Hình thái tư duy hiện đại phải tính đến sự tác động vượt qua các giới hạn không gian và thời gian cụ thể của các tạo phẩm phi vật thể. Các dạng phi vật thể có sự phối hợp đa tầng, đa mức, gắn kết, tiếp nhận, phát tán, kích hoạt và vận hành làm được đồng thời nhiều việc có tính chất khác nhau, như ổn định hoá, biến hoá, đồng bộ hoá. Việc xuất hiện các tạo phẩm phi vật thể với tầm tác động vượt ra khỏi thời gian và không gian cụ thể khiến cho không thể dễ dàng phân định, đánh giá mọi chuyện. Để nghiên cứu được những điều bí mật mà người ta hết sức giữ gìn, không công khai thì phải có hình thái tư duy hiện đại mà cho phép nghiên cứu về hình thái phi vật thể của thế giới khách quan. Hình thái tư duy hiện đại đem lại hình thái mới cho phép biện chứng. Người ta có thể thâm nhập được vào thế giới phi vật thể bằng cách phát triển các dạng phi vật thể nào đó để nhận dạng được các dạng phi vật thể, cũng giống như phát triển các chương trình chống vi rút thế hệ mới để khám phá ra các chương trình vi rút thế hệ mới trong máy tính.

Lý luận chính là dạng phi vật thể có vai trò nhận dạng các dạng phi vật thể ở các tầng mức khác với tầng mức thông thường. Một khi lý luận phát triển đến trình độ mới thì người ta thâm nhập được vào những tầng mức mới của thế giới tự nhiên và xã hội, thâm nhập được vào các tầng mức mới của thế giới siêu vĩ mô, vĩ mô và vi mô. Sở dĩ lý luận đóng vai trò dẫn đường cho các hoạt động thực tiễn là vì lý luận phát hiện ra được các dạng phi vật thể đóng vai trò chi phối ở các tầng mức khác nhau, từ đó chỉ ra được các nguyên tắc tạo nên được các kết hợp mới vượt qua được các giới hạn không gian và thời gian cụ thể, do đó vạch ra cách thức cụ thể tạo nên được các kết hợp mới. Sau khi nêu ra được những công việc mà tư duy phải làm trong thời đại mới thì người ta phải khám phá được các tạo phẩm phi vật thể đang tiềm ẩn, phải nêu ra các cách làm cụ thể để tạo nên được các tạo phẩm mới chưa từng có về các dạng vật thể và phi vật thể. Thực tiễn đòi hỏi cần phải có sự phát triển về mặt lý luận cho bước phát triển sắp tới. Vì sao lý luận lạc hậu? Là vì lý luận đã không trả lời trực diện, hay chưa trả lời trực diện vào các vấn đề cơ bản về hình thái của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đại ngày nay.

Khi nói về ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, Lênin nói không dài vì ông chỉ nêu ra những thành quả mà Mác và Ăngghen đã đạt được và chỉ ra được ý nghĩa của các thành quả đó trong thời đại của ông. Nhưng trong thời đại ngày nay, phải chỉ ra được những hình thái hiện đại trong các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, và phải luận chứng để làm nổi bật những hình thái đó nên không thể nói vắn tắt được. Một lý luận muốn có chỗ đứng phải giải quyết được những vấn đề thực tiễn đang đặt ra và chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Cách trình bày lý luận cũng phải thay đổi để phản ánh được những vấn đề mới trong nhận thức do sự xuất hiện của những dạng phi vật thể đem lại. Các khái niệm là sự phản ánh của một dạng thặng dư kết hợp nhất định. Những thặng dư kết hợp này lại có liên quan tới những thứ khác. Khi đã đạt được trình độ khái quát cao thì người ta có thể dùng lôgích để tạo dựng một bức tranh mới thể hiện được nhiều tầng nhiều mức của hoạt động thực tiễn. Khái quát là chỉ ra được dạng phi vật thể đồng thời thường trú và hoạt động ở nhiều tầng mức khác nhau.

Không có những đột phá trong tư duy thì không hiểu được ở các nước phát triển hơn, người ta đã làm được những gì, từ đó có những thành tựu mới trong tư duy. Để có thể nhận biết được một dạng phi vật thể với toàn cảnh của nó đòi hỏi phải có những bước phát triển và kiểm soát, điều phối được những dạng phi vật thể nào đó để đóng vai trò tìm kiếm các dạng phi vật thể khác. Tiến trình hình thành các dạng phi vật thể điều hành không phải là sự diễn ra bình thường mà phải chịu sự chi phối của dạng phi vật thể điều hành trong những giai đoạn nào đó để nó thiết lập nên được dạng phi vật thể điều hành riêng của nó. Bằng sự phát triển công nghệ thông tin, con người đã tạo nên được một thực tế là một dạng phi vật thể có thể điều hành các dạng phi vật thể và các vật thể. Con người đã được biết các dạng phi vật thể tác động đến các vật thể, tác động đến các tạo phẩm phi vật thể và tạo nên được các kết hợp mới vượt qua các giới hạn không gian và thời gian cụ thể, kiểm soát, điều hành các hoạt động của chúng.

Chẳng hạn, hệ điều hành là phần mềm chuyên dụng cho máy tính để quản lý việc sử dụng bộ xử lý trung tâm (CPU), quản lý bộ nhớ, quản lý các thiết bị vào ra, quản lý các chương trình đang được chạy và quản lý giao tiếp với con người, điều khiển sự thực hiện các chương trình và có thể cung cấp các dịch vụ như cấp phát nguồn, lập lịch thời gian, điều khiển nhập/xuất và quản lý dữ liệu. Mặc dù hệ điều hành là phần mềm có ưu thế, sự thực hiện phần cứng riêng có thể xảy ra được. Trong hệ điều hành có nhiều tệp khác nhau. Tính năng của hệ điều hành ngày càng được mở rộng tuỳ thuộc vào những đối tượng chuyên dụng.

Tư duy hiện đại tạo nên được các tạo phẩm tư duy thâm nhập được vào các tầng mức vi mô, vĩ mô, siêu vĩ mô của xã hội và tự nhiên. Mỗi khi thâm nhập được sâu hơn vào các tầng mức đó thì tư duy lại mở ra được những chân trời mới cho sự hiểu biết và sáng tạo, thiết lập ra các tạo phẩm phi vật thể để tác động, điều hành ở các tầng mức ấy. Tư duy hiện đại làm được các "thí nghiệm tưởng tượng" với các đối tượng phi vật thể, từ đó làm bật ra những cái mới. Tư duy hiện đại thao tác với các đối tượng phi vật thể nhưng lại dẫn tới kết quả tác động được thế giới vật thể, như việc thao tác các chương trình máy tính có thể điều khiển được các loại máy móc thiết bị hết sức khác nhau. Thành quả của tư duy hiện đại là nhận diện được các dạng phi vật thể ở nhiều tầng mức khác nhau, nắm bắt được chúng, ngày càng khám phá ra nhiều cách thí nghiệm đối với chúng, từ đó tạo nên được những tạo phẩm phi vật thể chưa từng có và sử dụng rộng rãi các kết quả đó cho các mục đích đa dạng.

Tầm nhìn lý luận cho phép dự đoán được tương lai và chỉ đạo các hoạt động thực tiễn. Các ngành khoa học đều có những ngành lý thuyết riêng của mình, như vật lý có vật lý lý thuyết, vấn đề là phải xác định được những đặc tính phổ quát của thời đại để làm cơ sở cho sự phát triển của lý thuyết, đạt được các dạng phi vật thể phổ quát và các trạng thái của chúng, và để cho lý thuyết làm được việc soi sáng thực tiễn. Với lý luận tiên phong, người ta thấy được những tiến trình tương lai sẽ diễn ra như thế nào, thấy được những việc phải làm và những phương pháp tổ chức thực hiện. Nhà lý luận phải chỉ ra được con đường tạo nên các kết hợp xã hội mới và luận chứng được sự phát triển của các kết hợp đó. Không có những phát triển mới về lý luận, đảng độc quyền lãnh đạo sẽ không làm tròn được sứ mạng của mình.

Muốn làm cho trí tuệ vượt được lên trước thì phải có lý luận, và ngày nay phải làm được những gì như Mác đã làm trong kinh tế chính trị học thời của ông. Trước tiên đó là chỉ ra được xã hội hiện đại sản xuất ra cái gì. Đó là câu hỏi không mấy người đặt ra trực diện, và vì thế không mấy người trả lời trực diện. Người ta có thể thấy những lập luận đại loại như sức sản xuất phát triển, hàm lượng khoa học ngày càng cao,... từ cách đây một thế kỷ, vì thế chỉ dừng lại ở những ngôn từ như vậy thì không thể thấy được đặc điểm riêng biệt của thời đại ngày nay. Vận dụng phương pháp nghiên cứu trong bộ tư bản của Mác vào thế giới phi vật thể, có thể thấy rằng trong thế giới chúng ta đang sống kết hợp chiếm ưu thế, và sự phân rã là thể hiện một sự kết hợp mới đang hình thành, do đó, thặng dư kết hợp đóng vai trò quan trọng chi phối toàn bộ sự hình thành và phát triển của thế giới, cũng như giá trị thặng dư chi phối toàn bộ hoạt động của tư bản.

Mỗi vũ trụ, mỗi thế giới có hình thái kết hợp riêng, do đó chúng phân biệt với nhau, phân tách với nhau. Bản chất là dạng phi vật thể đưa các dạng phi vật thể ở trạng thái vận hành về dạng đóng gói của nó. Lô gích của Hêghen nghiên cứu về những thứ có tốc độ biến đổi rất chậm, có thể quan sát được bằng mắt những mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cách xem xét này giống như cách xem xét những thứ có tốc độ chậm trong thuyết tương đối. Trong thời đại mới, cách xem xét phải khác đi để phản ánh được tốc độ phát triển vũ bão của khoa học công nghệ và kinh tế và những mối quan hệ vượt qua các giới hạn không gian và thời gian cụ thể, mà nhiều khi thực hiện các kết hợp với tốc độ rất nhanh chóng, thậm chí ngang với tốc độ ánh sáng.

Quan niệm về một cái gì đó phải là quan niệm biện chứng, quan niệm về một cái gì đó phải bao quát được toàn bộ các thặng dư kết hợp, phải bao quát được lịch sử phát triển của chúng. Đẳng cấp sáng tạo của các lý thuyết phụ thuộc vào nó có đưa ra được thuật ngữ nào mới mà có ý nghĩa vượt trội hay không. Trong thời đại mới, chỉ dùng các thuật ngữ cũ thì dù có diễn đạt khéo léo tài tình đến mấy cũng chẳng đẩy được tri thức tăng lên về thực chất. Với mỗi thời đại, phải tìm cho ra được những đặc điểm mới phản ánh thời đại, thể hiện được sự khác biệt của thời đại mới với những thời đại đã qua, và từ đó xây dựng lên những thuật ngữ mới. Không có những thuật ngữ mới thì không thể phản ánh được những đặc điểm mới của thời đại, và do đó không đẩy tri thức tiến lên những bước tiến thực chất được. Phải thiết tạo bằng được những thuật ngữ mới phản ánh được thời đại, phản ánh được những tiến triển của thực tiễn, và sử dụng nhuần nhuyễn chúng thì mới đem lại tri thức thực sự mới.

Việc sản xuất ra các dạng phi vật thể và chỉ ra được những giá trị thặng dư kết hợp mà các dạng phi vật thể đó đem lại đã thiết lập lại trật tự trong sự hỗn loạn khi nghiên cứu thế giới phi vật thể. Với việc tạo nên những thặng dư kết hợp vượt qua giới hạn không gian và thời gian, từ đó sản xuất ra các kết hợp mới, tình hình tư duy đã khác đi. Bất kỳ cái gì đó cũng phải tham gia vào rất nhiều kết hợp khác nhau, nó có đủ loại thặng dư kết hợp để thực hiện được các việc đó. Khi thuộc tính thặng dư kết hợp vận hành, chúng gây ra các tác động, dẫn đến những kết hợp hoàn toàn mới mà trong đó có những dạng phi vật thể mới với những thặng dư kết hợp mới vận hành. Thặng dư kết hợp có thể kết hợp rất nhiều chức năng khác nhau, mâu thuẫn nhau. Tạo phẩm phi vật thể tạo nên được các kết hợp động, các kết hợp ngắt quãng theo thời gian. Các dạng phi vật thể được tích luỹ khi thế hệ sau có thể tiếp nhận được những dạng phi vật thể do thế hệ trước tạo nên. Động lực phát triển của thế giới là các thặng dư kết hợp thuộc những loại khác nhau khẳng định sức mạnh tạo nên những kết hợp mới. Sản xuất ra các thặng dư kết hợp, phân phối chúng, từ đó tạo nên được các loại kết hợp khác nhau, và đến lượt mình, những thặng dư kết hợp này lại có những hình thái thặng dư kết hợp mới, ở trình độ cao hơn, tạo nên được những kết hợp hoàn toàn mới vượt khỏi các giới hạn không gian và thời gian cụ thể. Đó là tiền đề để xuất hiện sự sống, xuất hiện sự văn minh đạt được những thành quả mới.

Với quan niệm mới về thặng dư kết hợp, lịch sử phát triển của thế giới khác với những gì trước đây vẫn quan niệm. Trong hình thái tư duy hiện đại, cái gì đó tồn tại không còn là đủ để tiến hành nghiên cứu nữa, mà phải chỉ ra được các dạng phi vật thể và các trạng thái của nó, mới được coi là nhận thức bước đầu. Điều này khiến cho xuất hiện tình trạng lịch sử là điều có thể nghiên cứu được dù trong nó đầy rẫy những bí mật mãi mãi bị che giấu, không được tiết lộ. Cách nghiên cứu của Mác nhận diện được các dạng phi vật thể, vạch ra được các bí mật của xã hội, và giải quyết được các nghịch lý của xã hội do những quan niệm thông thường đem lại. Một bí mật được nhận diện khi thực chất của nó bị bóc trần, khi các tác động của nó được chỉ rõ. Khi nghiên cứu một đối tượng phi vật thể, trong đó có đối tượng bí mật tìm mọi cách che giấu sự tồn tại của mình, thì trước hết phải thấy được đối tượng đó làm những gì, đã làm được những gì, và sẽ làm những gì, nó có những phương thức và thủ đoạn gì. Khi nắm được những điều đó thì phải kiểm định các tri thức đã đạt được bằng cách lý giải các nghịch lý có liên quan, lý giải các hiện tượng mà chưa có lời giải đáp thoả đáng. Một khi làm được những điều này thì tri thức đó đạt được tính khoa học chấp nhận được.

Để làm được bất kỳ việc đơn giản nào trong đời sống, con người cũng phải trải qua sự tích luỹ tri thức khổng lồ. Một người dù tài năng lỗi lạc đến mấy cũng chẳng thể làm được gì nhiều, mà vấn đề là xã hội phải mở ra một bình diện hoạt động mới thì mới mở đường phát triển được. Điều khó khăn là đặt ra được vấn đề, đặt ra được bài toán, nhưng một khi đặt được đúng đắn ở bình diện tương xứng thì việc giải là điều đơn giản hơn nhiều. Người ta phải có những quan niệm về các tạo phẩm phi vật thể có giá trị thương mại trong mọi mặt của đời sống xã hội thì mới hiểu những vấn đề kinh tế hiện đại.

b. Hình thái hiện đại của chủ nghĩa duy vật lịch sử

"Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát từ luận điểm cho rằng sản xuất và tiếp sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất là cơ sở của mọi chế độ xã hội, rằng trong mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm, và cùng với sự phân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp, đều được quyết định bởi tình hình: người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào". (C. Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 20, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1994, trang 371). Như vậy, để thấy được hình thái hiện đại của chủ nghĩa duy vật lịch sử cần thấy được hiện nay xã hội đang sản xuất ra cái gì, sản xuất bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào và sự phân chia xã hội hiện đại thành các giai cấp hay đẳng cấp như thế nào.

Sản xuất

Xã hội tư bản đã sản xuất ra số lượng rất lớn các tạo phẩm phi vật thể để cho xã hội có thể vận hành bình thường được. Đó là các luật lệ, các quy định, các tiêu chuẩn, các thói quen, tập quán thương mại,... Việc đưa các thiết bị vật chất, đặc biệt là các thiết bị vận chuyển giao thông, các công trình xây dựng, các thiết bị truyền tải năng lượng vào đời sống thì phải tuân theo những tiêu chuẩn chặt chẽ thì mới bảo đảm an toàn cho người sử dụng, cho cộng đồng. Số lượng các tạo phẩm phi vật thể phục vụ đời sống ngày càng gia tăng mà không có chúng thì sẽ không vận hành đời sống xã hội được.

Các tạo phẩm phi vật thể có nhiều nhánh khác nhau mà mỗi nhánh lại có các đẳng cấp khác nhau trong đó không phải nước nào cũng có đủ các nhánh, và các nhánh đó đạt được các đẳng cấp cao. Do đó tư bản để tạo nên các tạo phẩm phi vật thể đó, và biến các tạo phẩm đó thành tư bản có nhiều nhánh, mỗi nhánh có nhiều đẳng cấp, mà không nước nào có đủ các nhánh và các nhánh đứng vào các đẳng cấp cao hàng đầu.

Cá nhân có nhu cầu về các tạo phẩm phi vật thể riêng, tổ chức, doanh nghiệp, liên tổ chức, liên doanh nghiệp, xã hội, nhà nước, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có những nhu cầu về các tạo phẩm phi vật thể khác nhau. Một tạo phẩm phi vật thể xã hội không bị chết yểu khi nó có thể đạt được các trạng thái đóng gói, kích hoạt, vận hành thường trực, phát tán, tác động phổ quát, và muốn vậy nó phải thiết lập được sự tự động là công trình chung của xã hội, chứ không phải là công trình của một nhóm người nào đó, dù có quyền lực tột đỉnh, và có các nguồn lực phong phú trong một khoảng thời gian nào đó. Nếu là công trình của một nhóm người thì khi nhóm người đó bị tách khỏi các nguồn lực thì sự vận hành của dạng phi vật thể xã hội đó chấm dứt. Điều này đã đúng khi chủ nghĩa xã hội của Liên Xô cũ bị sụp đổ thì các dạng phi vật thể do nó tạo nên cũng chấm dứt sự vận hành.

Để tạo ra được các tạo phẩm hoàn toàn mới đòi hỏi phải tạo ra được các nguyên tắc kết hợp hoàn toàn mới, và chi phối được tiến trình. Việc sản xuất ra các tạo phẩm vật thể có rất nhiều điểm chung giữa các nước, nhưng việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể thì có khác biệt rất lớn giữa các nền văn hoá, giữa các thể chế chính trị, và đó là sự phân biệt giữa các nước theo những chế độ chính trị khác nhau. Việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể cần phải có những tiến trình kinh tế đặc thù để nó có thể hút vào các nguồn lực của xã hội, và phân phối các tạo phẩm đã được sản xuất ra, tái sản xuất lại tiến trình. Để tiến trình tự động hút các nguồn lực vào và ra thì thị trường đòi hỏi những dạng phi vật thể bộ phận phải ở những trình độ có thể tiếp nhận và lan toả đến toàn xã hội, tạo nên sự hoạt động thường trực trong xã hội. Khi vấp phải rào cản của chế độ quan liêu bao cấp, sự phát triển sản xuất các tạo phẩm phi vật thể đã phá vỡ bung mối quan hệ sản xuất đó. Đó là lý do kinh tế khiến cho chủ nghĩa xã hội theo kiểu Liên Xô cũ bị sụp đổ. Đó cũng là lý do mà hiện nay kinh tế thị trường đã bước sang trình độ mới.

Cần phải hiểu rằng chủ nghĩa tư bản đã đóng góp những gì vào thành quả văn minh chung của nhân loại. Đó là sự sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và những điều kiện xã hội ngày càng đảm bảo hơn. Đó là nâng cao mức sống chung của toàn xã hội.

Việc sản xuất ra được tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản hiện đại và điều này đã đem lại bình diện mới trong hoạt động của chủ nghĩa tư bản hiện đại, mang lại tính chất mới trong cạnh tranh tư bản, mang lại những điều mới trong kinh tế thị trường. Chủ nghĩa tư bản có rất nhiều cách thức để hợp thức hoá tiền ảo, trong đó có việc tạo ra quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu hình ảnh, và việc tạo ra giá trị và hình ảnh công ty. Vấn đề là phải xem xét chủ nghĩa tư bản tạo dựng lên những thị trường mới, khai thác thị trường, qua đó tạo dựng lên những thành quả văn minh nhân loại mới như thế nào, vạch ra được những khuôn khổ, những giới hạn, những thái quá, những bất cập, tóm lại những khuyết tật của nó, tìm kiếm các cách sửa chữa những khuyết tật mang tính cục bộ, và tìm ra những cách sửa chữa mang tính tổng thể.

Mỗi nước hiện nay đều phụ thuộc vào quan hệ kinh tế đối ngoại, không nước nào đủ tài nguyên để có thể làm được mọi thứ, đủ nguồn nhân lực để làm mọi thứ. Trong sản xuất hàng hoá hiện nay, chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều loại hàng hoá vượt ra khỏi nhu cầu trong nước, cần phải có thị trường tiêu thụ mới. Lúc đó tiêu thụ ở thị trường bên ngoài hiệu quả hơn thị trường nội địa. Với những phương tiện về đồng vốn không nhiều, những gì có hiệu quả thì được đáp ứng ngay. Việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể đã khiến cho chủ nghĩa xã hội phải vượt qua được các tư bản xã hội.

Tư bản hoạt động ở ba tầng mức siêu vĩ mô, vĩ mô và vi mô có các động thái khác nhau. Vì thế nếu phê phán tư bản hiện đại thì phải xem xét toàn diện động thái của ba tầng mức đó, mới thấy được chủ nghĩa tư bản có cách thức tồn tại dai dẳng như thế nào trong đời sống xã hội hiện đại. Hoạt động của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đã đem lại sự hợp tác và cạnh tranh mới giữa các doanh nghiệp, và đem lại cách thức mới đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, không những ở trong nước mà còn với các nước khác. Thà bỏ tiền giúp nước khác xoá đói giảm nghèo và đưa họ vào vòng ảnh hưởng của mình còn hơn để người ta nghĩ cách tạo ra tiền, mở rộng hoạt động sang kinh tế siêu vĩ mô, mà một khi đã tạo ra được tiền của nước mình thì người ta sẽ tạo luôn ra tiền của nước khác. Khi mà nhiều nước cùng làm như vậy thì nền kinh tế ảo sẽ nổ tung trên toàn cầu, mà người thiệt hại lớn nhất là các trùm tư bản ở những nước phát triển nhất, khi lượng tài sản của họ mất giá nghiêm trọng. Bối cảnh hoạt động kinh tế siêu vĩ mô cần phải được đặt trong bối cảnh hoạt động kinh tế quốc tế.

Trong khi đó, ở tầng mức vi mô, các doanh nghiệp cạnh tranh kịch liệt với nhau. Còn ở tầng mức vĩ mô, người ta tiến hành các hoạt động để làm sao sự ra đời của các doanh nghiệp mới có khả năng thay thế được sự biến mất của các doanh nghiệp cũ, do đó làm giảm áp lực của sự thất nghiệp đè nặng lên xã hội. Khi chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô đưa ra các biện pháp nào đó thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sẽ đưa ra những biện pháp phối hợp để các chính sách trở nên có hiệu quả.

Sở dĩ chủ nghĩa xã hội của Mác là chủ nghĩa xã hội khoa học là vì trong thời đại của mình ông đã chỉ ra được loại sản xuất đặc trưng của thời đại của ông là sản xuất ra giá trị thặng dư công nghiệp, sự tiến triển của các hình thái đó từ sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối đến sản xuất giá trị thặng dư tương đối và sự phân phối giá trị thặng dư đó dưới chủ nghĩa tư bản, từ việc tiêu dùng để tái tạo sức lao động, tái sản xuất và sự tiêu dùng của giai cấp tư sản. Giá trị thặng dư đó đủ để phân phối cho toàn xã hội vì xã hội đã xuất hiện các cuộc khủng hoảng sản xuất thừa, nhưng giới hạn chật hẹp của chủ nghĩa tư bản không cho phép làm điều đó.

Nền sản xuất hiện đại sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể để nhằm đạt được giá trị thặng dư hậu công nghiệp, mà việc theo đuổi giá trị thặng dư hậu công nghiệp có những biện pháp và thủ đoạn khác với việc theo đuổi giá trị thặng dư công nghiệp. Sản xuất ra giá trị thặng dư hậu công nghiệp phải có những phương cách và thủ đoạn mới, trong đó, xã hội làm được việc ứng trước nguồn lực cho việc sản xuất giá trị thặng dư hậu công nghiệp bằng việc sản xuất ra tiền ảo. Mỗi tầng mức vi mô, vĩ mô, siêu vĩ mô sản xuất ra các giá trị thặng dư hậu công nghiệp riêng của nó, và mỗi tầng mức này có sự thâm nhập vào nhau, có những hoạt động đồng thời diễn ra ở cả ba tầng mức. Tầng mức vĩ mô cung cấp các dịch vụ công cho tầng mức vi mô và tính phần đóng góp của mình đối với tầng mức vi mô. Tầng mức siêu vĩ mô tính phần của mình với các hoạt động ở các tầng mức vĩ mô và vi mô, từ đó có những biện pháp phân phối lại đối với xã hội. Mỗi xã hội có trình độ sản xuất giá trị thặng dư ở mỗi tầng mức khác nhau. Trình độ sản xuất ra giá trị thặng dư ở tầng mức vi mô, vĩ mô, siêu vĩ mô của một nước đang phát triển không thể bằng trình độ sản xuất ra giá trị thặng dư ở các tầng mức tương ứng của các nước phát triển. Bản thân các nước phát triển cũng có trình độ sản xuất ra giá trị thặng dư khác nhau.

Đối với Lênin, sự phát triển tư bản nhà nước, tư bản vĩ mô, sẽ đem lại giá trị thặng dư vĩ mô là cơ sở để phát triển lên chủ nghĩa xã hội, nhưng trong thời đại hiện nay thì giá trị thặng dư vi mô, vĩ mô, không còn đủ nữa, mà phải có giá trị thặng dư siêu vĩ mô vì không một nước nào có khả năng sản xuất ra mọi loại tạo phẩm vật thể và phi vật thể mà xã hội đó cần.

Phân phối

Cùng một loại sản phẩm có thể có những sự phân phối khác nhau. Nhưng có những thứ không thể phân phối được mà cũng đem lại tiền, thậm chí phát triển thành những tư bản mới. Sở hữu và sử dụng sở hữu là hai điều khác nhau, hay nói đúng hơn là có sự sở hữu giả, sự sở hữu danh nghĩa. Dưới chủ nghĩa tư bản, cùng với sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể là sự sở hữu. Công ty sở hữu tên tuổi, nhãn mác, nếu đổi tên thì tất cả những cái đó những cái đó mất hết. Các hình thức sở hữu này phân tán, và tiêu chuẩn mới được đặt ra là hình thức nào quyết định tư bản.

Các mối quan hệ sở hữu luôn luôn biến động đòi hỏi phải có hình thức sở hữu xã hội hoá cao hơn nữa. Hình thức sở hữu tư bản luôn luôn phải có các cá nhân cụ thể đại diện cho sở hữu, dù là sở hữu ở đẳng cấp nào, và cá nhân đó được hưởng những thành quả phát triển tư bản đem lại hay có những kẽ hở để đạt được điều đó. Một chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành một đại công ty có thể tự ban phát cho mình, cho vây cánh những khoản bổng lộc kếch xù. Xét cho cùng mọi tư bản đều có cá nhân đứng đầu, sở hữu, dù họ có quyền định đoạt, buôn bán các loại tư bản đó hay không hay hoạt động của họ ở trong một khuôn khổ như thế nào, mà họ phải chịu sự điều động của tư bản của các thế lực xã hội nhất định. Vì tư bản thuộc sở hữu tư nhân nên có những động thái dẫn tới mâu thuẫn nội tại. Khi một tư bản gắn với một cái gì đó cụ thể đã xế chiều thì các tư bản trong các lĩnh vực đang lên cứu những tư bản đã xế chiều đó, và quả bóng tư bản liên tục được bơm lên đó phải trả giá bằng các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ để thiết lập lại trật tự mới trong thế giới tư bản. Giới hạn này luôn luôn bị phá vỡ.

Một tạo phẩm phi vật thể vẫn đem lại tiền bạc cho người sở hữu chừng nào vẫn còn người có nhu cầu. Còn những người được thuê làm ra sản phẩm đó thì lại không được hưởng những phần thêm ra đó. Với tạo phẩm phi vật thể, sự phân phối các sản phẩm theo sự sở hữu, hay theo sự truy nhập đến sản phẩm.

Thành quả đạt được do sự bóc lột của một loại tư bản nào đó là nhất thời vì sớm muộn loại tư bản đó cũng đến lúc xế chiều, mà phải có sự sao chuyển thành quả đó sang trình độ mới của tư bản.

Xã hội tư bản hiện đại đã phát triển những quyền sở hữu chủ yếu tập trung vào những thứ mà có thể bị tước bỏ dễ dàng. Khi tài sản là các cổ phiếu thì sự sụt giá cổ phiếu buộc người chủ phải bán tống bán tháo đi là cách tước bỏ quyền sở hữu nhẹ nhàng nhất, tự nguyện nhất với người chủ cổ phiếu. Việc làm sụt giá liên tục một cổ phiếu không phải là khó khăn với chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Có những cổ phiếu có thể lúc này đang tăng lên như diều gặp gió, chỉ vài năm sau đã bị nổ tung như bong bóng, sụt giá thê thảm.

Sự phân phối các tạo phẩm phi vật thể không còn được quan niệm như sự phân phối các tạo phẩm vật thể. Chẳng hạn, hàng hoá thông tin khác với hàng hoá vật thể. Muốn bán được hàng hoá này, phải có những người chuyên nghiệp. Hàng hoá phải được chuẩn bị như thế nào đó, phải có bao bì, đóng gói, hướng dẫn sử dụng, hay có những gì để làm cho nó nổi lên, đáp ứng được nhu cầu của người mua, tạo ra được nhu cầu mới nơi người mua. Người ta không thể phân phối một đạo luật cho một người dân, đáp ứng nhu cầu của một người dân cụ thể mà thậm chí nó cưỡng bức người đó, ngược với ý chí và nguyện vọng của người đó. Quan hệ sở hữu, sử dụng và điều hành tách biệt hẳn nhau. Khi đối tượng mua bán là cả công ty chứ không phải là các vật dụng vật thể nữa thì người ta phải mở rộng ra khái niệm sở hữu. Vì tính chất của sở hữu đã thay đổi nên cần phát triển những hành thái mới để giải quyết việc kết hợp trong những sở hữu mới.

Sở hữu chẳng là cái gì cả khi mà luôn luôn ở vào địa vị bấp bênh. Cái quyền có cổ phần cổ phiếu sẽ bị tước đi một khi chúng bị mất giá, tước đi đến trắng tay và đại tư bản có cách sử dụng cái quyền đó cho mục đích của mình. Đại tư bản có cách móc túi mọi người, từ tư bản cỡ trung trở xuống. Quyền sở hữu trở nên phù du khi những tài sản có thể bị mất giá bất cứ lúc nào, không có gì vĩnh viễn như tài sản là các loại giấy tờ có giá nữa. Trong thời kỳ lạm phát cao, đồng tiền trong tay như là hòn than hồng mà người ta phải nhanh chóng ném đi ngay.

Tạo nên các tạo phẩm phi vật thể mới là các nhu cầu chính đáng của con người, nhưng tư bản đã khai thác chúng theo lối tư bản, tức là một mặt tạo nên những giới hạn mới về quyền sở hữu, nhưng mặt khác phải trông cậy vào sự ủng hộ của xã hội. Sở hữu chính là sự phân cực xã hội. Việc phân phối tiền ảo và những tư bản do tiền ảo tạo ra đem lại hình thái mới của sự phân phối hiện nay. Khi sở hữu có bước thay đổi thì đòi hỏi xã hội phải tìm ra cách thức kết hợp mới. Nguyên tắc của sự phân phối tiền ảo là để sản xuất ra tư bản, biến tiền ảo thành tư bản chứ không phải là để tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu mua sắm của các cá nhân.

Việc phân phối giá trị thặng dư hậu công nghiệp theo những ưu tiên khác nhau. Sự phân phối giá trị thặng dư phụ thuộc vào các hình thức sở hữu, và phụ thuộc vào các thế lực trong xã hội có sức mạnh và vai trò thực hiện sự phân phối lại. Khi một xã hội không có hoạt động siêu vĩ mô thì xã hội đó thiếu đi một nguồn lực rất lớn mà có thể thực hiện sự phân phối đối với xã hội.

Phân chia xã hội thành các giai cấp hay đẳng cấp

Ở Phương Tây có truyền thống có các hội bí mật, các hội kín vì người ta gắn với thành phố, nên sự hình thành các giai cấp dễ dàng hơn. Ở Phương Đông thì lại khác hoàn toàn, "phương thức sản xuất Châu Á" có đặc thù riêng khi người ta gắn với đất đai, nên sự hình thành giai cấp có điểm khác với Phương Tây.

Với sự sản xuất theo lối tư bản chủ nghĩa, trong nông nghiệp có giai cấp vô sản nông nghiệp, trong công nghiệp có giai cấp vô sản công nghiệp và hiện nay trong nền sản xuất hậu công nghiệp là giai cấp vô sản hậu công nghiệp. Dưới chủ nghĩa tư bản, công chức nhà nước là những người làm thuê cho tư bản vĩ mô. Họ cũng là những người vô sản dù rằng tư bản vĩ mô có những cách thức bảo đảm quyền lợi cho họ đạt được sự ổn định nào đó. Sự bóc lột giá trị thặng dư của tư bản hậu công nghiệp to lớn gấp bội sự bóc lột giá trị thặng dư của các loại tư bản khác. Không chỉ là bóc lột giá trị thặng dư, tư bản hậu công nghiệp còn sử dụng các tạo phẩm phi vật thể của xã hội làm gia tăng giá trị của mình. Chủ nghĩa tư bản ra sức phân liệt giai cấp vô sản hiện đại bằng cách tạo ra nhiều tầng mức sở hữu và phân phối các giá trị thặng dư đã được sản xuất ra. Vì thế cần phải thống nhất lại giai cấp vô sản hiện đại.

Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ, và Đông Âu, các thế lực thù địch với chủ nghĩa Mác-Lênin đã ra sức bôi nhọ và tuyên truyền rằng học thuyết của các ông đã hết thời. Khi ở các nước phát triển lao động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp chỉ còn 17%, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ còn 2%, và các con số này còn giảm đi nữa trong thời gian tới, thì người ta cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã mất cơ sở xã hội của mình trong một xã hội hiện đại, khi phổ thông đầu phiếu diễn ra phổ biến trong các xã hội phương tây. Những khẩu hiệu cách mạng của giai cấp tư sản chống lại xã hội phong kiến cũng đồng thời là khẩu hiệu cách mạng chống lại giai cấp vô sản, nhưng ở khía cạnh là đánh loãng sự đoàn kết của giai cấp vô sản, hạn chế khả năng liên minh của giai cấp vô sản với các giai cấp khác trong xã hội.

Sự đồng nhất "vô sản" và "công nhân" đã làm yếu phong trào vô sản quốc tế, là đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên trang đầu các sách kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đều ghi: "ẽðợởồũàðốố õủồừ ủũðàớ, ủợồọốớÿộũồủỹ!" "Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!". Vô sản (tiếng Nga: ùðợởồũàðốộ, tiếng Anh: proletarian) khác với công nhân (tiếng Nga: paỏợữốộ, tiếng Anh: worker)là giai cấp vô sản làm việc trong công xưởng, nhà máymà một thời người ta đã đánh đồng với nhau, nhất là ở các nước xã hội chủ nghĩa. Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (b) Nga, ngày 27 tháng ba năm 1922, Lênin đã chỉ rằng:

"Rất nhiều khi, hễ nói đến "công nhân", là người ta nghĩ rằng đó là giai cấp vô sản công xưởng và nhà máy. Hoàn toàn không phải như thế. ở nước ta, từ khi có chiến tranh, nhiều người không có một tý gì gọi là vô sản đã vào làm việc trong các công xưởng và nhà máy; họ đến đấy để trốn tránh chiến tranh. Và phải chăng trong các điều kiện xã hội và kinh tế ở nước ta hiện nay, những người đi vào công xưởng và nhà máy đều là những người vô sản thực sự? Không. Nói như thế là sai. Theo Mác, thì đúng đấy. Nhưng Mác không nói về nước Nga; Mác chỉ nói chung về toàn bộ chủ nghĩa tư bản, kể từ thế kỷ mười lăm. Điều đó đúng trong suốt sáu trăm năm, nhưng đối với nước Nga ngày nay là sai. Rất nhiều khi, những người vào nhà máy làm, lại không phải là những người vô sản, mà là đủ mọi loại phần tử linh tinh" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 127-128).

Những người giáo điều mà chỉ bó gọn trong sự phân tích chủ nghĩa tư bản như cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi đã bị mất phương hướng lý luận khi phải đương đầu với thực tiễn là hiện nay giai cấp công nhân chiếm thiểu số trong xã hội trong lúc công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng giảm trong nền kinh tế quốc dân, và không có khả năng chiếm địa vị địa vị lãnh đạo bằng con đường dân chủ ở các xã hội phương tây hiện đại. Trong các xã hội đó, giai cấp công nhân giảm sút về lượng tương đối, do đó về lượng tuyệt đối vì dân số các nước đó hầu như không tăng mà lại còn giảm đi, nếu không có nguồn dân nhập cư từ các nước đang phát triển vào thì tình hình giảm dân số còn đáng ngại hơn nữa. Hơn nữa những tri thức tiên tiến nhất của xã hội lại không nằm trong giai cấp công nhân. Nhưng giai cấp vô sản ở các nước đó lại tăng lên cả về lượng tương đối lẫn tuyệt đối, vì sự bóc lột theo lối tư bản đã làm xuất hiện giai cấp vô sản hậu công nghiệp. Giai cấp vô sản hiện đại không chỉ còn là những nhân công cổ xanh mà còn có những nhân công cổ trắng nữa.

Ở các nước mà Đảng Cộng sản nắm quyền, rất nhiều kẻ cơ hội chính trị, đủ mọi loại phần tử linh tinh, đã vào làm việc trong các công xưởng và nhà máy để tìm cách thăng tiến trong xã hội và đó là điều mà chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ, và Đông Âu đã phải trả giá bằng chính sự sụp đổ của mình. ở các nước tư bản, cũng đủ mọi loại phần tử linh tinh, do giai cấp tư sản hay nhà nước của nó tuyển mộ, trả lương, vào làm việc trong các công xưởng và nhà máy, để chui vào phong trào công nhân, trong các tổ chức của giai cấp công nhân, tạo nên các tầng lớp công nhân quý tộc, các loại công đoàn vàng phá hoại phong trào vô sản. Chính tính hỗn tạp của "công nhân" trong thời đại mới mà người ta thấy thấm thía rằng khẩu hiệu kêu gọi đoàn kết giai cấp vô sản, thực sự vô sản, của chủ nghĩa Mác-Lênin, đã tỏ ra có sức sống mãnh liệt. Giai cấp vô sản trong thời đại mới đã lan toả khắp xã hội. Ngày càng có nhiều người trong giới mà trước đây vẫn gọi là tiểu tư sản đã trở thành vô sản. Giới nghiên cứu ở các nước tư bản phương Tây đã phải thừa nhận rằng "Hoạt động khoa học hiện nay không còn tính chất cao siêu và đã bị "vô sản hoá"" như Ramses 2001 thừa nhận.

Thậm chí nhiều bộ phận của giai cấp tư sản gia nhập vào giai cấp vô sản mới. Ngay cả các công chức nhà nước cũng là người vô sản phục vụ cho tư bản vĩ mô. Người ta có thể là chủ sở hữu cổ phiếu, nhưng điều đó có nghĩa lý gì khi việc quyết định giá trị của các cổ phiếu lại nằm trong tay các trùm tư bản. Khi cổ phiếu mất giá, thậm chí nhiều khi trở thành giấy lộn, người ta sẽ phải nhanh chóng từ bỏ ngay quyền sở hữu, từ bỏ ngay địa vị "ông chủ" trở thành người vô sản.

Sản xuất tiền ảo, phân phối tiền ảo và tư bản do nó tạo nên đem lại sự phân tầng giai cấp mới đối với xã hội. Dưới chủ nghĩa tư bản, việc tạo ra tiền ảo không có nghĩa là tiền ảo đó sẽ được dùng vào việc không có hiệu quả, làm thui chột tư bản ở quy mô lớn được. Người ta có thể dùng tiền ảo làm gia tăng phúc lợi, làm gia tăng tư bản. Việc tạo ra tiền ảo và biến tiền thành tư bản là một công việc to lớn nhưng để triển khai thì rất bí mật, nếu không điều đó sẽ làm mất niềm tin vào những nhà đầu tư nước ngoài về đồng tiền quốc gia. Mâu thuẫn chủ yếu của chủ nghĩa tư bản hiện đại chính là các cái ảo do nó tạo ra và những cái thực. Vì thế sự bơm lên cái ảo vượt quá mức của nó diễn ra phổ biến, và đó là tiến trình tự động nội tại của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Xu hướng bơm cái ảo lên quá mức của nó và dùng cái đó là phương tiện thu lợi cho cá nhân, cho các tổ chức diễn ra phổ biến dẫn tới sự nổ tung bong bóng của nền kinh tế, làm mất niềm tin của xã hội, làm gián đoạn tiến trình biến cái ảo thành tư bản, và do đó gây ra những cuộc khủng hoảng xấu thật sự mà chủ nghĩa tư bản gặp rất nhiều khó khăn để có thể kiểm soát được.

Cho đến nay, việc phát triển tư bản chủ nghĩa về mặt phi vật thể chưa được nhìn nhận đúng. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra các tạo phẩm phi vật thể ổn định hoá xã hội, phát triển xã hội và đồng bộ hoá xã hội. Chủ nghĩa tư bản không những không bị diệt vong mà còn tỏ ra sức sống dai dẳng mãnh liệt là vì nó đã tạo ra được loại sản phẩm mới: tạo phẩm phi vật thể và dùng những cái đó để phát triển tư bản. Việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể đem lại góc độ mới để xem xét về vai trò của giai cấp tư sản trong tiến trình phát triển của lịch sử. Nếu như những cách xem xét, nhìn nhận, phê phán chủ nghĩa tư bản ở trên góc độ sản xuất ra các tạo phẩm vật thể thì giai cấp tư sản có vẻ là giai cấp thừa, nhưng ở góc độ sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể thì vai trò của giai cấp tư sản vẫn còn chưa được đánh giá hết.

Vai trò đó thể hiện ở chỗ giai cấp tư sản đã tạo ra các kết hợp xã hội vượt qua các giới hạn địa lý và thời gian. Giai cấp này nắm được các bí quyết tạo nên những kết hợp xã hội mới ở trình độ cao trong nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện hiện đại, cách quản lý nền kinh tế vĩ mô, cách thức dùng các chính sách tài chính và tiền tệ để đạt được sự tăng trưởng kinh tế, khai thác các nguồn lực tiềm ẩn trong xã hội. Họ có bí quyết tạo ra tiền ảo, biến tiền ảo thành tư bản mà từ đó có công cụ đặc biệt hùng mạnh nhằm phát triển kinh tế nước mình và chinh phục kinh tế các nước khác. Họ tạo ra luật chơi mới mà các nước khác, dù ở thể chế chính trị nào cũng phải và mong muốn được tuân theo như WTO. Họ dùng cơ chế thị trường để giải quyết được nhiều vấn đề xã hội. Họ sản xuất ra được các loại tư bản mới. Họ nắm trong tay rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm quản lý và phát triển xã hội đa văn hoá, đa sắc tộc, đa chính kiến. Họ biết cách đưa các tiến trình xã hội của hoạt động kinh tế thị trường vào trong tầm kiểm soát của họ. Họ nắm được nghệ thuật làm giầu, nghệ thuật làm kinh tế ở quy mô xuyên quốc gia, quy mô toàn cầu. Là nguồn sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể trong khoa học công nghệ và đời sống kinh tế xã hội, chủ nghĩa tư bản có sức sống mạnh mẽ. Đã thế chủ nghĩa tư bản có cả một kho kinh nghiệm đấu tranh, mua chuộc các phong trào phê phán, chống đối chủ nghĩa tư bản, từ các biện pháp kinh tế tài chính đến các biện pháp tuyên truyền tư tưởng và pháp luật.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại không những sống dựa vào giai cấp vô sản ở nước mình mà còn sống dựa vào giai cấp vô sản ở các nước khác. Giai cấp tư sản tìm mọi cách để mình không phải là giai cấp thừa trong xã hội, bằng cách tham gia vào các hoạt động kinh tế, trực tiếp điều hành kinh tế ở cả ba cấp siêu vĩ mô, vĩ mô và vi mô, hơn thế nữa, giai cấp này đưa những người có năng lực ở các giai tầng khác trong xã hội vào trong hàng ngũ của mình.

Những người sở hữu mà không tham gia điều hành hoạt động thì sớm muộn những sự lên xuống của cổ phiếu, hay các cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ diễn ra thường xuyên cũng khiến cho họ lao đao, nhiều khi mất trắng tài sản. Hoặc lĩnh vực hoạt động của họ trở thành lĩnh vực xế chiều, mà họ không có khả năng xoay xở do không hiểu biết, không tham gia điều hành thì kết quả cũng bi đát.

Bằng việc phát triển các trung tâm tài chính hải ngoại, giai cấp tư sản đã che giấu được sức mạnh tài sản thực sự của họ với người dân nước mình, làm giảm đi sự cách biệt giầu nghèo trong nước mình, qua đó, làm giảm đi các mâu thuẫn, xung đột xã hội. Điều không có gì lạ là ở tỷ lệ tài sản của 20% dân cư giầu nhất so với 20% dân cư nghèo nhất ở các nước tư bản phát triển lại thấp hơn tỷ lệ đó ở các nước đang phát triển. Đơn giản là những người giầu nhất ở các nước phát triển để tài sản của họ ở nước ngoài, đặc biệt là ở các trung tâm tài chính hải ngoại.

Bản thân giai cấp tư sản có những đẳng cấp khác nhau. Sự tăng năng suất trong sản xuất của xã hội và cuộc đấu tranh bền bỉ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở những nước phát triển nhất đã làm cho họ có được những điều kiện sống tốt hơn trước. Việc tạo ra tiền ảo của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô ở các nước phát triển và dùng tiền đó biến thành tư bản hoạt động ở nhiều nước trên thế giới đã làm cho những người vô sản ở chính quốc không bị rơi vào cảnh khốn cùng. Khi kiếm được tiền ảo thì người ta dễ dàng làm các việc từ thiện. Nhưng những người vô sản lại ý thức hơn về những thua thiệt của mình về sự bất bình đẳng xã hội. Vấn đề đối với người vô sản hiện đại không phải là những nhu cầu về nhiều loại hàng hoá vật thể liên quan tới sự sống của họ nữa, mà họ còn có những nhu cầu về những tạo phẩm phi vật thể khác mà địa vị vô sản của họ không cho phép họ đạt được. Sự phát triển sản xuất các tạo phẩm hiện đại đã đem lại những vấn đề mới cho con người về những gì là thiết yếu đối với mình.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại tạo ra rất nhiều rào cản vô hình để một người vô sản khó thoát khỏi địa vị làm thuê của mình, mà muốn thoát khỏi điều đó thì nỗ lực bản thân không bao giờ đủ cả. Người ta vấp phải hàng rào thương hiệu, hàng rào sở hữu trí tuệ, vấp phải rất nhiều thứ khác. Kiến thức mới để kiếm được tiền là những điều bí mật. Kiến thức mới để tạo ra được tiền là những điều siêu bí mật. Kiến thức chung thì có thể biết nhưng kiến thức chuyên sâu để làm việc được lại là bí quyết của các công ty, nhất là của các đại công ty, mà muốn vậy những người lao động phải ký các hợp đồng về việc giữ bí mật công việc họ đang làm, thậm chí nhiều khi có cả điều khoản không được làm những việc có liên quan tới chuyên môn đó trong nhiều năm sau khi họ rời hãng vì bất cứ lý do gì. Đến một hãng mới làm việc, họ phải chịu sự kiểm tra, phỏng vấn về khả năng thích ứng với chuyên môn mới mà điều này thì không dễ vượt qua khi đã có tuổi. Học tập suốt đời trở thành việc họ phải làm mà chỉ được từng khúc một. Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã đẩy vào giai cấp vô sản những tinh hoa tri thức của mình.

Sáng tạo là một niềm vui, nhưng cần phải trở thành công việc của một tổ chức, sáng tạo của cá nhân mà đưa đến những thành quả độc lập chỉ có ở trong rất ít công việc. Khi sở hữu tư nhân cản trở công việc sáng tạo, người ta không thể kế thừa được thành quả của những người đi trước, nhất là trong các hoạt động mang lại lợi nhuận, và cản trở sự phổ biến những tạo phẩm phi vật thể ra toàn xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng. Nếu như mã nguồn của phần mềm Windows của hãng Microsoft được công bố thì sự sáng tạo, cải tiến trên nền tảng đó của cộng đồng phần mềm, hẳn là công nghệ phần mềm có những bước tiến rất xa. Hoạt động sáng tạo của các cá nhân sẽ nhanh chóng vấp phải những hạn chế, nếu không thực hiện đồng bộ với sự sáng tạo của những người khác. Chẳng mấy chốc sự sáng tạo của cá nhân bị hụt hơi, khi những vấn đề mới về nguyên tắc xuất hiện, và kèm theo đó là những giải pháp mới, mà hiện giờ vẫn không hình dung được. Sự sáng tạo đòi hỏi cả dây chuyền đồng bộ nên người vô sản, dù có tài năng cũng chẳng làm gì được. Xét cho cùng chỉ có đại tư bản mới duy trì được sự sáng tạo lâu bền. Vấn đề là những người vô sản có sự đoàn kết hơn, và điều đó buộc xã hội phải có cách giải quyết các vấn đề của họ. Trong hoạt động thực tiễn, khi biết được điều gì là chủ yếu, việc gì cần phải làm thì người ta nhanh chóng đạt được trình độ sáng tạo.

Xã hội hoá tư bản là cách thức tư bản thích ứng với thời đại mới. Số lượng những người làm công ăn lương tăng lên, và họ ngày càng trở nên phụ thuộc hơn vào đại tư bản. Nếu như các thế hệ trước việc phụ thuộc vào tư bản trong thị trường tự do, với những tác động đến họ còn theo các khoảng thời gian dài, thì ngày nay hậu quả đến với họ rất nhanh chóng. Những chuyên viên bậc cao ở thung lũng Silicon Mỹ hiện đang phải gánh chịu những khó khăn do lĩnh vực công nghệ cao giảm sút. Thời kỳ hoàng kim trôi qua nhanh quá. Có những chuyên gia lập trình bậc cao đành phải làm công việc hộ lý ở bệnh viện vì không thể di chuyển gia đình ra khỏi nơi đó. Đối với nhiều người, những gì mà họ tích góp được đều nhanh chóng bay đi, và phải sống nhờ vào trợ cấp của xã hội.

Sự phân cắt kiến thức đã khiến cho người ta không chủ động được tương lai của mình. Việc tạo ra giá trị thặng dư hậu công nghiệp cho người ta thấy địa vị của người trí thức trong thời đại hậu công nghiệp, người trí thức là người vô sản hậu công nghiệp. Việc khai thác nông thôn theo lối tư bản trong thời đại công nghiệp đã biến người tiểu chủ, người nông dân, người tá điền thành người vô sản. Việc khai thác theo lối tư bản trong thời đại hậu công nghiệp đã đẩy địa vị người trí thức xuống địa vị người vô sản, thậm chí ngay cả những người trí thức có trình độ cao. Sự mở rộng ngành nghề mới, sự loại bỏ những ngành nghề cũ, sự đạt được trình độ mới của nền sản xuất hậu công nghiệp nhanh chóng đẩy hàng loạt trí thức khỏi những vị trí mà họ nắm giữ, bổ sung vào đội quân thất nghiệp. Do sự giới hạn về tuổi tác trong việc tiếp thu các tri thức khoa học công nghệ mới, do việc luôn luôn có những công việc phức tạp nay đã trở nên đơn giản, do sự xuất hiện hàng loạt lĩnh vực hoàn toàn mới, nên địa vị người trí thức cũng trở nên bấp bênh như những người nông dân, công nhân và khiến họ nhập với nhau thành một khối, khối của những người vô sản trong thời đại hậu công nghiệp.

Thời đại thông tin đáng lẽ đem lại cho người ta tiếp cận kiến thức thì các quyền sở hữu trí tuệ ngày càng chặt chẽ lại ngăn cản điều đó. Khoa học cơ bản và khoa học nhân văn là những thứ cho phép người ta đánh giá các cái lâu dài so với các cái trước mắt lại bị gạt đi vì không có lợi nhuận trực tiếp, hơn nữa lại gây khó dễ do việc chúng sẽ phát hiện ra những tác dụng phụ không mong muốn về lâu về dài. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản mà giải quyết những vấn đề chung là thấy được những mối liên hệ tổng quát lại bị gạt đi. Tính độc lập trong nghiên cứu và sự tôn trọng sự thật bị che lấp. Trong mối quan hệ giữa quyền lực và lợi nhuận, học giả đang lâm nguy.

"Và các trường đại học ngày càng hoạt động theo những nền văn hoá hướng vào thị trường, trong đó giá trị xã hội được đánh giá theo khả năng ngắn hạn là có phù hợp với thị trường hay không" (Người đưa tin Unesco, Số 11/tháng 12-2001. Quyền lực và lợi nhuận. Học giả lâm nguy. Trang 7).

Dưới chủ nghĩa tư bản, hoàn cảnh trở nên bấp bênh hơn một khi người ta đã có tuổi. Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động, nhiều khi kiến thức kinh nghiệm đã được tích luỹ trong rất nhiều năm của người lao động trở nên vô ích trước những hoàn cảnh mới. Sức ép của tư bản trở nên khủng khiếp hơn đối với những người lao động, và họ có nhu cầu liên kết lại để quyết định tương lai của mình, một tương lai sáng tạo, khẳng định mình và được bảo đảm về mặt xã hội. Sự bấp bênh của họ là do họ không được tiếp cận thực chất của vấn đề. Sự khai thác tri thức kiểu tư bản khiến cho có những hàng rào ngăn cản họ khẳng định mình, ngăn cản họ sáng tạo. Sở hữu bản quyền, sở hữu trí tuệ được dựng lên khắp nơi, và tạo nên những rào cản mới cho việc một ai đó muốn tạo lập nên cái gì đó hoàn toàn mới. Thương hiệu không nằm trong tay họ. Các công cụ phục vụ cho sự sáng tạo như các tri thức chuyên ngành, quyền sở hữu trí tuệ, và rất nhiều thứ khác nằm trong tay các đại tư bản, nằm trong các công ty, mà một người chỉ được biết từng mảng một, và các tri thức này lại được chia theo các cấp bậc, các đẳng cấp, các trình độ mà phải đạt đến đâu thì mới được tiếp cận.

Nền kinh tế hậu công nghiệp đòi hỏi phải có sự đồng bộ chặt chẽ, tính kỷ luật công việc ở trình độ rất cao. Một chương trình viết sai một dấu phẩy cũng đã làm cho chương trình chạy không đúng, thậm chí không thể chạy được. Một đạo luật không rõ ràng một chữ cũng gây ra những ách tắc trong việc đi vào cuộc sống, thậm chí gây ra những cản trở trong các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội. Việc kiểm định một phần mềm lớn là công việc lâu dài và khó khăn. Giai cấp vô sản của thời đại hậu công nghiệp có sự liên kết chặt chẽ, có tính kỷ luật rất cao. Tính kỷ luật hiện nay được tạo nên không phải do không lao động thì sẽ chết đói mà là ở chỗ nếu không lao động thì sẽ mất cơ hội rất lớn để được xã hội công nhận và đạt được trình độ hưởng thụ các tài sản vật thể và phi vật thể cao hơn. Phải phát triển các cuộc vận động trong đội ngũ của họ, và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đại ngày nay để thấy được sự rộng mở về lực lượng của đội ngũ vô sản trong những giai tầng xã hội mới.

Thời của Mác và thời của Lênin không có điều kiện để xét đến tác động của các tạo phẩm phi vật thể trong khoa học công nghệ và trong đời sống xã hội đến xã hội, vì lẽ đơn giản là chúng chưa có, và nếu có thì chúng chưa tạo ra được những kết hợp vượt ra khỏi giới hạn không gian và thời gian cụ thể một cách phổ biến.

Việc tạo ra các tạo phẩm phi vật thể mới bao giờ cũng có những tác dụng phụ, mà tác dụng phụ đó không bao giờ biểu hiện ngay, mà có khi sự biểu hiện đó lại là sự phá hoại lớn về sau, thậm chí gây ra tai hoạ cho thế hệ sau. Nhưng tác dụng phụ luôn luôn bị che đậy. Một hãng dược phẩm vì lợi nhuận sẵn sàng che đậy tác dụng phụ của các loại thuốc do nó chế tạo mà không dễ thấy trực tiếp. Chất độc màu da cam là một ví dụ điển hình mà người bị nhiễm vẫn có thể có cuộc sống bình thường, nhưng nó lại gây tác hại cho thế hệ sau của những người bị nhiễm chất độc đó, và ta đã biết không có đủ bằng chứng "khoa học" về điều đó để đáp ứng yêu cầu của toà án Mỹ. Tác dụng phụ trước mắt thì được cảnh báo ngay, nhưng tác dụng phụ lâu dài thì bị lờ đi, và nếu nhân viên nào, nhà khoa học nào có lương tâm muốn cảnh báo cho xã hội thì người đó sẽ bị vùi dập. Khoa học nghiên cứu về những thứ phi vật thể ở trình độ khác với khoa học nghiên cứu những thứ vật thể và khoa học đó sẽ đem lại những căn cứ khoa học mới để phận định nhiều vấn đề còn đang tranh cãi hiện nay.

Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng tư bản sẽ thường gây ra những hoàn cảnh để tập trung tư bản, sẵn sàng hy sinh quyền lợi của các bộ phận dân cư khác của xã hội cho lợi ích của các trùm tư bản, và duy trì địa vị thống trị của tư bản, và đổ lỗi cho những thế lực không kiểm soát được của thị trường, trong khi đó không có các biện pháp bảo vệ tài sản và quyền lợi của người có tài sản khi các tài sản của họ trong các ngành xế chiều bị suy giảm lúc xã hội có những ngành nghề mới thay thế.

Trong tiến trình phát triển, giai cấp tư sản đã sản xuất ra trình độ mới của sự phát triển xã hội, tạo nên được những kết hợp vượt qua các biên giới quốc gia, vượt qua được các thể chế chính trị, và đúc rút lại thành các luật lệ trong việc ứng xử các quốc gia, đồng thời tạo nên được những tạo phẩm phi vật thể mà hình thành nên những mối quan hệ mới. Giai cấp tư sản có sứ mệnh sản xuất ra các kết hợp mới xuyên quốc gia trong các hoạt động kinh tế, đầu tư, tài chính, nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ trong tiến trình toàn cầu hoá, và điều đó làm gia tăng tính quốc tế của giai cấp vô sản, tình liên đới đoàn kết giữa họ với nhau. Giai cấp vô sản của các nước phát triển có sự vận động mới để thiết lập được tình liên đới chung với nhau, vượt qua được những sự phân chia trước đây, mà giai cấp tư sản vẫn cố tình phân loại như vậy. Các cuộc khủng hoảng đòi hỏi phải có trình độ tổ chức xã hội tốt hơn, đòi hỏi phải tạo ra những tạo phẩm phi vật thể xã hội mới giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, do đó nó tháo gỡ các rào cản mà cản trở việc ra đời của những tạo phẩm phi vật thể đó, mà vốn được dựng lên và gây ra các chống đối trước đấy. Vai trò của các cuộc khủng hoảng là ở chỗ chủ nghĩa tư bản có khả năng đẩy việc sản xuất tạo phẩm vật thể với những tạo phẩm phi vật thể ở trình độ nào đó tới mức giới hạn của nó, buộc xã hội phải đạt tới trình độ mới trong việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể cho các vật thể, sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể mới ở trình độ cao hơn đối với các kết hợp xã hội.

Giới hạn của chủ nghĩa tư bản là ở chỗ, những tư liệu sản xuất, cả vật thể lẫn phi vật thể, nằm ở trong tay một nhóm người, mà điều đó ngăn cản đa số dân cư khỏi sự sáng tạo và gây ra những lãng phí to lớn đối với xã hội. Những bí quyết công nghệ được bảo vệ khắp nơi, được khai thác vì mục đích lợi nhuận, vì mục đích thống trị. Những lợi ích ích kỷ của giai cấp được thể hiện lồng vào lợi ích ích kỷ của dân tộc. Một con bò của EU hàng ngày được EU trợ cấp nhiều hơn mức thu nhập hàng ngày của một phần ba nhân loại hiện đang sống ở các nước đang phát triển.

Việc sản xuất ra các tạo phẩm vĩ mô và siêu vĩ mô không thể là công việc của một người, mà là công việc của nhiều tổ chức, nhiều tập thể vì thế chúng tạo ra những vấn đề rất khác với các quan niệm cũ. Khi xuất hiện tư bản vĩ mô, tư bản siêu vĩ mô gắn với việc sản xuất ra các tạo phẩm vĩ mô và siêu vĩ mô thì tính chất của đấu tranh giai cấp đã khác đi. Cuộc đấu tranh giai cấp mang tính quốc tế và diễn ra khốc liệt. Mơ hồ về các thủ đoạn đấu tranh kinh tế của các thế lực trùm tư bản là điều không thể chấp nhận được. Ai sẽ làm chủ được các loại tư bản đó, giai cấp vô sản hay giai cấp tư sản? Khi có các loại tư bản không còn là của riêng những nhà tư bản cá thể thì có loại tư bản thuộc về xã hội thì cơ cấu giai cấp đã thay đổi. Khi tư bản phát triển lên trình độ mới thì cấu trúc giai cấp đã thay đổi và các phương thức đấu tranh giai cấp đã không còn như trước nữa. Chúng có những phương thức hoàn toàn mới. Tư bản nhà nước là tư bản mang tính quốc gia, còn tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô không những mang tính quốc gia mà còn mang tính quốc tế, và đối với chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của nước Mỹ thì tư bản của nó mang tính toàn cầu, có đẳng cấp toàn cầu.

c. Hình thái giá trị thặng dư hiện đại

Mỗi tầng mức tư bản khác nhau có các giá trị thặng dư khác nhau. Giá trị thặng dư siêu vĩ mô khác với giá trị thặng dư vĩ mô, giá trị thặng dư siêu vĩ mô khác với giá trị thặng dư vi mô, giá trị thặng dư vĩ mô khác với giá trị thặng dư vi mô. Giá trị thặng dư siêu vĩ mô điều phối giá trị thặng dư vĩ mô, điều phối giá trị thặng dư vi mô, và nhận lại các tác động từ những giá trị thặng dư đó. Giá trị thặng dư trong thời đại của Mác nằm trong giới hạn thời gian cụ thể, và ngay từ đó, các giá trị thặng dư đã tạo nên các kết hợp xã hội mới mà các thời đại trước đó chưa từng có. Trong lĩnh vực kinh tế, giá trị thặng dư vi mô gắn với các vật thể, giá trị thặng dư vĩ mô gắn với các vật thể và các phi vật thể trong nội bộ một quốc gia, đặc biệt là các phi vật thể xã hội, giá trị thặng dư siêu vĩ mô gắn với các vật thể và phi vật thể trong nội bộ một quốc gia và với các quốc gia khác.

Giá trị thặng dư siêu vĩ mô được hình thành như thế nào? Khi tập thể các vĩ mô và vi mô xuất hiện một dạng phi vật thể nào đó mà tất cả phải phục tùng. Trong xã hội thì đó là quyền lợi được đứng trên lợi ích nào đó để giải quyết. Quyền lợi chung tạo nên sự gắn kết. Quyền lợi chung thể hiện có dạng giá trị thặng dư nào đó có bước phát triển vượt lên, được tăng cường.

Công việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể là các công việc đòi hỏi sự sáng tạo cao, nên không nhàm chán, do đó, giai cấp tư sản tự làm lấy rất nhiều công việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể riêng. Giai cấp tư sản hiện đại không phải là giai cấp thừa trong xã hội hiện nay khi giai cấp này tạo nên được những kết hợp kinh tế vượt qua các giới hạn địa lý. Hơn nữa, giai cấp tư sản cũng biến những người có khả năng sáng tạo thành những người tư sản mới, ngoài việc thanh toán thù lao bằng tiền còn có cổ phiếu công ty. Các giám đốc được thuê cũng được thanh toán một phần lương bằng cổ phiếu.

Trong thời hiện đại, giá trị thặng dư có các bộ phận cấu thành là giá trị thặng dư công nghiệp và giá trị thặng dư hậu công nghiệp. Giá trị thặng dư hậu công nghiệp có sự gia tăng đặc biệt, khác hẳn những quan niệm truyền thống. Do có được sự vượt trội của giá trị thặng dư hậu công nghiệp so với giá trị thặng dư công nghiệp, giai cấp tư sản có thêm phương tiện để nâng cao đời sống của giai cấp vô sản.

Cuộc đấu tranh của nhân dân lao động trên toàn thế giới, nhất là ở các nước phát triển đã làm cho chủ nghĩa tư bản thay đổi khiến cho các cách thức bảo vệ quyền lợi trở nên tinh vi hơn, và được tiến hành phức tạp hơn và nhiều việc trở nên bí mật hơn, không còn lộ liễu như trước đây. Chủ nghĩa tư bản hiện đại cũng rất vì con người ở những lĩnh vực làm gia tăng được tư bản, vì nếu không có nhu cầu của con người thì hàng hoá không thể tiêu thụ được. Nhưng những lĩnh vực của con người mà làm suy giảm tư bản, tiêu dùng tư bản mà không đem lại sự gia tăng tư bản thì không thấy tư bản vì con người chút nào, mà lúc đó xã hội cần có những thiết chế để giải quyết.

Nhờ biến tiền ảo thành tư bản thật, dân cư ở các nước tư bản phát triển nhất đã có một cuộc sống vật chất hơn là mức họ được hưởng khi hút được các loại sản phẩm vật chất thật từ nước ngoài, từ các nước đang phát triển đổ vào qua hoạt động đầu tư trực tiếp, hay gián tiếp, nhưng khi vật chất có đầy đủ thì người ta phát sinh những nhu cầu mới về các tạo phẩm phi vật thể, mà ở góc độ này những người vô sản thấy rằng mình đã rất thua thiệt. Thành quả phát triển được phân phối không đều. Giai cấp vô sản đứng ngoài lề sự phân phối các đồng tiền ảo, có chăng chỉ được những rơi vãi của nó.

Khi lao động sáng tạo trở thành nhu cầu thiết thân của người lao động, thì không hẳn người ta có thể sáng tạo ra được những cái gì mới, nhất là những tạo phẩm phi vật thể. Hơn nữa xã hội nào cũng phải tạo ra những giới hạn cho việc sáng tạo, nhưng không chấp nhận những sáng tạo gây phương hại cho đời sống xã hội như việc một người mong muốn sáng tạo trong tin học viết và phát tán các chương trình vi rút, hay nhằm những mục đích xấu, hay một người yêu thích sinh học dùng các kỹ thuật gien sáng tạo ra loại siêu vi trùng mới có khả năng giết người hàng loạt. Hơn nữa nếu một người muốn sáng tạo ra những thứ mà có người khác sáng tạo tốt hơn thì có nên dành nguồn lực cho người làm kém hay không?

Vai trò của các giai cấp trong xã hội là tạo ra được các tạo phẩm phi vật thể vận hành được các tiến trình tái sản xuất xã hội về các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, mà tiến trình đó có rất nhiều dạng phi vật thể để nhận biết các nguồn lực, nhận biết các thiếu hụt và tìm cách thu hút các nguồn lực để khắc phục, nhưng quan trọng hơn là tạo ra được các tạo phẩm hoàn toàn mới.

Trong thời hiện đại các công ty sẵn sàng sa thải hàng loạt nhân công khi tiến hành các vụ mua bán, sáp nhập, khiến cho cuộc sống khó khăn đến với những người vô sản bất cứ lúc nào. Giai cấp tư sản làm cho giai cấp vô sản phát triển què quặt, luôn luôn làm cho giai cấp vô sản tự cạnh tranh trong nội bộ với nhau, khi luôn mở ra những lĩnh vực hoạt động mới, khi luôn tìm ra cách giải quyết một công việc nào đó theo cách hoàn toàn mới. Quyền lợi của đại tư bản luôn luôn được bảo vệ bằng cách hy sinh quyền lợi của những người vô sản. Dưới chủ nghĩa tư bản, do địa vị kinh tế của mình, mức sống của giai cấp vô sản ở mức thấp dưới tiềm năng mà xã hội đó có thể đem lại. Do đó cải thiện điều kiện sống của giai cấp vô sản sẽ nâng lên mức sống chung của xã hội.

d. Hình thái hiện đại của chủ nghĩa xã hội khoa học

Phê phán chủ nghĩa tư bản hiện đại phải khác với phê phán chủ nghĩa tư bản trước đây.
Người ta cần phải có cách hiểu mới về sự tất yếu của giai cấp tư sản ở vai trò tạo nên được các kết hợp mới xuyên quốc gia của tư bản trong nền sản xuất hiện đại, đồng thời người ta cũng có cách hiểu mới về giai cấp vô sản hiện nay ở các nước phát triển. Khi phát triển tư bản vi mô hết tầm, tư bản muốn tồn tại với tư cách là tư bản thì phải phát triển sang tư bản vĩ mô, và khi tư bản vĩ mô phát triển hết tầm, tư bản muốn tồn tại với tư cách là tư bản thì phải phát triển thì sang tư bản siêu vĩ mô. Chủ nghĩa tư bản rất biết cách học hỏi, biết cách thoả hiệp, nhân nhượng, và thích nghi với những điều kiện đã biến đổi. Đó là điều mà chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ đã không làm được.

Trong đời sống kinh tế xã hội có rất nhiều mục tiêu mà các nhà xã hội chủ nghĩa của những trường phái khác nhau, của những thế hệ trước đặt ra cho chủ nghĩa xã hội, nhất là mục tiêu về các vật phẩm thiết yếu cho cuộc sống thì các xã hội phát triển đã dễ dàng đạt được. Ra những bãi rác ở các thành phố ở xã hội phát triển Phương Tây, người ta có thể tìm thấy đủ loại sản phẩm đủ dùng cho sinh hoạt của mỗi người như quần áo, xe cộ, bàn ghế, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, lò vi sóng,... còn tốt nguyên, chỉ có điều đã lạc hậu về mốt mà thôi.

Chủ nghĩa tư bản ra sức tuyên truyền rằng trong xã hội hiện đại, ai thất bại là lỗi tại họ. Hiện nay, trong những xã hội tư bản phát triển nhất, người ta không thiếu ăn, không thiếu việc, mà những người vô gia cư không có việc làm trong xã hội đó nhiều khi bị xã hội cho là lỗi tại họ, vì họ không chịu làm những công việc nặng nhọc, bẩn thỉu, lương thấp, không được xã hội coi trọng, mà rất nhiều người dân ở các nước nghèo hơn sẵn sàng mất tiền cho các đường dây buôn người để nhập cư vào nước đó làm các việc đó. Điều mà người vô sản ở các nước phát triển cần là sự khẳng định được mình, sự sáng tạo mà các giới hạn của việc khai thác trí tuệ, khai thác sự sáng tạo theo kiểu tư bản đã tước đi của họ. Những tri thức chuyên ngành không được phổ biến, những gì thực sự giúp cho người ta nắm được thực chất để sáng tạo thì lại không được cung cấp, chỉ trừ khi phục vụ cho lợi ích của tư bản. Vì vậy sự bùng nổ đến mức lạm phát nhiều học vị cao diễn ra ở nhiều nơi vì người ta phải thực sự làm được những cái gì đó để thể hiện sự độc lập suy nghĩ của mình lại là những biểu hiện của tình trạng xa rời thực chất khoa học, công nghệ.

Dù cho có nhiều khuyết tật, chủ nghĩa tư bản hiện đại đang ở trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, với sự gia tăng sức mạnh chưa từng có, và cuốn toàn bộ thế giới vào vòng xoáy của chúng, cuốn toàn bộ các nền kinh tế thế giới vào luật chơi của nó mà việc mọi quốc gia phải tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO, quốc gia nào chưa được tham gia vào tổ chức đó thì tìm mọi cách chấp nhận luật chơi của nó để sớm được gia nhập WTO, càng chậm gia nhập WTO thì càng phải trả giá đắt hơn nữa.

Các nhà tư bản không chỉ còn hoạt động trong nước của mình mà còn đưa hoạt động ra nước ngoài. Vậy ở nước ngoài đó, khi người ta nói đến đấu tranh giai cấp thì có đấu tranh với tư bản nước ngoài hay không, hay chỉ là đấu tranh với các nhà tư bản bản xứ và hình thái đấu tranh phải như thế nào? Mỗi xã hội buộc các nhà tư bản nước ngoài tuân thủ những luật lệ do mình đặt ra, nhưng luật lệ đó lại phải chung với các nước khác, và đó lại là những luật lệ do nhà nước tư bản phát triển ban hành, đã bảo vệ được lợi ích của đại tư bản. Trong lĩnh vực chính trị, về mặt hình thức, các nhà tư bản nước ngoài không thể tham gia trực tiếp chính trường, nhưng họ có vô số cách thức tác động tới chính trường, trong đó có sự liên kết chặt chẽ với những nhà tư bản trong nước, với những người có chức có quyền trong nước.

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô đã làm thay đổi tận gốc mối quan hệ giữa lao động và tư bản. Nhưng vấn đề là sự phân phối không công bằng giữa các nước với nhau, và vì lợi ích của tư bản thì người ta sẵn sàng vi phạm các lợi ích khác.
Chủ nghĩa tư bản không giải quyết được nhiều vấn đề chung của con người như môi trường, hay những hành vi tốn kém. Tác động tai hại đến môi trường của các hành vi ban đầu tưởng là tốt thì có rất nhiều, chẳng hạn như việc đắp đập lấy nước trồng bông ở các nước cộng hoà Trung Á thuộc Liên Xô cũ đã làm biển Aral bị thu hẹp chỉ còn diện tích một phần ba so với trước đây, kèm theo rất nhiều tác hại về môi trường.

Cuộc đấu tranh của nhân dân lao động buộc xã hội tư bản phải hình thành các cơ quan, tổ chức để giải quyết những vấn đề của xã hội, sử dụng các nguồn lực do giá trị thặng dư hậu công nghiệp tạo nên để giải quyết các vấn đề xã hội. Rất nhiều mục đích của xã hội mà xã hội phát triển hiện nay đã đạt được, nhưng những người vô sản ở các nước đó mới hiểu rõ những gì mà cần phải thay đổi chế độ, mà chắc chắn rằng trước mỗi kỳ bầu cử các chính khách hiểu rất rõ cần phải nói những lời gì, hứa hẹn những điều gì để tranh thủ lá phiếu cử tri. Những gì mà cha ông của những người vô sản đấu tranh thì ngày nay con cháu của họ đã có đủ, thậm chí có nhiều thứ mà cha ông họ nằm mơ cũng không thấy. Thậm chí những người vô sản đã nắm chính quyền trong 70 năm ở Liên Xô cũ mà cuối cùng đã phải đi lại con đường phát triển của tư bản. Về mặt chính trị người dân được bày tỏ chính kiến, được quyền bầu cử, nhưng rõ ràng khi mà họ nắm chính quyền thì các phương tiện điều hành kinh tế siêu vĩ mô không nằm trong tay của họ. Họ có thể nắm quyền điều hành kinh tế vĩ mô, nhưng điều đó không có nghĩa là điều hành được nền kinh tế hiện đại. Cử tri sẽ trừng phạt họ bằng lá phiếu. Ý thức tôn trọng pháp luật đã trở thành tài sản chung của mỗi xã hội. Hiện nay ở những nước tư bản phát triển nhất hầu như không có các cuộc biểu tình gây bạo động. Các đạo luật bảo vệ quyền lợi của những người bị thiệt thòi ra đời ngày càng nhiều. Những vấn đề xã hội ở một nước phát triển ở trình độ cao rất khác với những vấn đề xã hội ở các nước trình độ phát triển xã hội còn thấp.

Phê phán chủ nghĩa tư bản hiện đại là để thấy được bước đệm phát triển từ xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại sang xã hội mới như thế nào.
Chủ nghĩa tư bản hiện đại cung cấp các phương tiện để có thể xây dựng ngay chủ nghĩa xã hội, cung cấp lực lượng đủ sức làm cải biến chủ nghĩa tư bản. Vấn đề là phải chỉ được ra những điều đó thể hiện ở những chỗ nào trong thời đại hiện nay. Sản xuất ra tiền ảo đem lại công cụ điều hành sự phát triển của xã hội hướng tới các mục đích mới. Trong điều kiện hiện nay, việc giành được chính quyền nhà nước, giành được quyền điều hành kinh tế vĩ mô hoàn toàn không đủ để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giai cấp vô sản phải giành được quyền điều hành kinh tế siêu vĩ mô, mà đó lại là con đường rất chông gai, chưa có tiền lệ, mà những bí quyết hoạt động có hiệu quả được giấu kín.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại có những khuyết tật mà người ta đề ra nhiều phương cách sửa chữa, và đó là các xu hướng khác nhau để tìm tòi ra những cách xây dựng một xã hội mới nhân bản hơn, vì con người hơn. Có nhiều con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, ở những nước phát triển nhất, phong trào vô sản có con đường khác với các nước đang phát triển nhưng giai cấp vô sản đã giành được chính quyền và sử dụng các công cụ mà chủ nghĩa tư bản đã sử dụng để phát triển kinh tế xã hội để phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của mình. Giai cấp vô sản có những quan niệm mới về các công cụ đó, vì đó là những thành quả của nền văn minh nhân loại.

Trong một nước có nhiều loại tư bản khác nhau hoạt động và do đó có nhiều loại giá trị thặng dư tuỳ thuộc vào loại tư bản mà đang hoạt động trong nước đó. Vì mỗi nước có những tư bản đặc thù riêng nên chủ nghĩa xã hội có sắc thái riêng đối với mỗi nước. Trung Quốc có quan niệm chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc. Việt Nam cũng có quan niệm chủ nghĩa xã hội riêng. Các nước cộng sản chấp nhận luật chơi của giai cấp tư sản. Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc kéo dài mà còn rất lâu mới có đủ phương tiện để tiến hành xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Con đường đó là phải qua sự phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô, mà qua đó chia ra làm nhiều giai đoạn.
Chủ nghĩa xã hội của Liên Xô cũ đã thiếu một cái gì đó khiến cho xã hội không thể tiếp nhận được những cái mới, và cuối cùng dẫn tới sụp đổ. Đó là thể chế của Liên Xô cũ không hiểu được xã hội đã có những phát kiến mới sản xuất ra được các tạo phẩm phi vật thể.

Chủ nghĩa xã hội khoa học có nhiều trình độ, nhiều tầng mức, trong đó tầng mức vi mô, tầng mức vĩ mô, tầng mức vĩ mô. Mỗi tầng mức có môi trường hoạt động khác hẳn nhau, có các mối quan tâm khác nhau, có cách hành xử khác hẳn nhau. Người dân quan niệm xã hội chủ nghĩa khác với nhà nước quan niệm, nhà nước quan niệm xã hội chủ nghĩa khác với chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô quan niệm. Người dân thì muốn rất nhiều, nhưng nhà nước không thể đáp ứng được, lực bất tòng tâm, mà phải thực hiện sự cân đối nào đó giữa các vùng lãnh thổ, giữa các bộ phận dân cư, còn chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải tính tới các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải nắm được các công cụ, các biện pháp, các cách thức mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra trong việc phát triển sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, mà những cái đó có những tác động trực tiếp và gián tiếp như thế nào. Các công cụ xây dựng chủ nghĩa xã hội phải do xã hội cung cấp thì mới trở thành tài sản của toàn xã hội, chứ do một bộ óc, dù vĩ đại nhất, nghĩ ra thì cũng không phải là công cụ của xã hội mà có khi rơi vào không tưởng.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sản xuất ra một tạo phẩm xã hội mà có các mặt vật thể và phi vật thể. Mặt vật thể là các loại cơ sở vật chất có khả năng bảo đảm cung ứng cho xã hội các loại vật phẩm vật chất. Mặt phi vật thể không những là cung ứng cho xã hội các tạo phẩm phi vật thể mà còn bảo đảm cách thức truy nhập của xã hội vào chúng một cách có hiệu quả. Tạo phẩm phi vật thể xã hội này vận hành thường trực trong xã hội mà tiếp nhận, xử lý các nguồn lực, đưa ra được các giải pháp mang tính toàn cục và cục bộ. Xã hội hình thành nên cơ chế xã hội giám sát các cơ quan của xã hội, và cách phân bổ các nguồn lực.

Tạo phẩm phi vật thể tư bản chủ nghĩa tự động xử lý những gì đối với xã hội? Nó xác định sự sở hữu, phân định cách phân phối, phân chia xã hội theo các giai cấp và đẳng cấp theo kiểu của nó là tạo nên những người vô sản và những nhà tư bản. Hình thái sở hữu của chủ nghĩa xã hội là sở hữu mang tính xã hội cao nhất về các tư liệu sản xuất vật thể và phi vật thể chủ yếu nhất trong những giai đoạn nhất định của lịch sử.

Khi xã hội đạt được trình độ tổ chức mới thì có những dạng phi vật thể xã hội mới xuất hiện. Trong các bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, có việc chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô mở rộng việc truy cập và sử dụng miễn phí các tạo phẩm phi vật thể thiết yếu nhất ra toàn xã hội.

Chủ nghĩa xã hội là một xã hội tạo ra được những tạo phẩm phi vật thể vì lợi ích con người mà giới hạn của chủ nghĩa tư bản không tạo ra được. Khi mặt vật thể còn thiếu quá nhiều, còn quá lạc hậu thì trọng tâm là phải xây dựng các cơ sở vật chất. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc kéo dài rất nhiều năm, mà mỗi nước, tuỳ theo truyền thống dân tộc của mình có những cách quan niệm chủ nghĩa xã hội khác nhau. Có nhiều kiểu chủ nghĩa xã hội, mà có quan niệm không giống nhau. Chủ nghĩa xã hội khoa học phải kế thừa từ các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, phát triển lên thành chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại.

Hình thái chủ nghĩa xã hội không phải là cái nhất thành bất biến mà đó là một xã hội có khả năng tạo nên được những tạo phẩm phi vật thể xã hội đem lại cho con người vượt qua được những giới hạn chật hẹp của sự phát triển kinh tế xã hội theo kiểu tư bản chủ nghĩa. Hình thái này luôn luôn biến đổi theo những tiến triển của thời đại. Xây dựng một xã hội mới là thiết tạo nên các tạo phẩm phi vật thể xã hội mới mà vận hành thường trực, có khả năng phân bổ các nguồn lực trong xã hội nhằm những mục đích phát triển con người, phát triển xã hội, giải quyết được mâu thuẫn giữa quyền sở hữu và khả năng sáng tạo, xoá bỏ những hạn chế về giới hạn sở hữu.

Vấn đề của chủ nghĩa xã hội là cách giải quyết với những người bị thiệt thòi, bị thất bại. Cách giải quyết những cái đó phải có cách riêng, không phải là lại đưa những con người đó vào những cương vị, hay vị trí xã hội mà họ không đủ năng lực làm được. Điều đó gây hại cho họ và gây hại cho xã hội. Cái mà người ta hiện nay cho là tốt thì sẽ gây ra những hậu quả xã hội tai hại khi kéo dài quá hoàn cảnh mà nó là cần thiết.

Thời đại của Lênin, tư bản nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng của những người cộng sản phục vụ cho sự phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình hiện nay, đảng của những người cộng sản hoạt động kinh tế siêu vĩ mô để phát triển tư bản để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô khi xã hội có cách thức phát triển tư bản theo nhiều nhánh khác nhau, liên hiệp lại với nhau theo các cách xã hội hoá. Chủ nghĩa xã hội sản xuất ra được những tạo phẩm phi vật thể xã hội mà những giới hạn của chủ nghĩa tư bản không thể sản xuất ra được. Khi chủ nghĩa tư bản phát triển sang các lĩnh vực mới, mở rộng ngành nghề mới thì đẩy hàng loạt ngành nghề cũ vào chỗ tàn lụi, vào chỗ chết, thì đương nhiên các tài sản đó bị tiêu vong. Vậy thái độ của những người cộng sản đối với sự tiêu vong đó như thế nào, có những cách nào sao chuyển giá trị các tài sản đó sang những cái mới không, hay là thực hiện những bảo đảm xã hội để những điều đó không còn đáng phải quan tâm nữa đối với người dân và đối với xã hội nữa. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có rất nhiều tạo phẩm phi vật thể xã hội mà những người thuộc giai cấp vô sản không nắm được, dù họ là những người ở những nước mà Đảng Cộng sản nắm chính quyền do trình độ phát triển kinh tế thị trường ở những nước đó như Trung Quốc và Việt Nam còn là sơ khai.

Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại là thiết lập được các cơ chế sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể và vật thể vượt qua sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất vật thể và phi vật thể, đưa các sở hữu đó chịu sự điều động của mình, và do đó dần dần biến các sở hữu đó thành sở hữu của toàn xã hội. Đó là cách thức xoá bỏ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất vật thể và phi vật thể một cách hiện thực. Chính sự xã hội hoá ngày càng cao của tư bản đó, chuyển các tư bản đó chịu sự điều phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, tức là nâng tầm xã hội hoá nó.

Trong xã hội chủ nghĩa có khái niệm quyền lợi của nhân dân là một trong những khái niệm trung tâm, vậy đó là nhân dân nào, khi nhân dân gồm rất nhiều thành phần, giai cấp, tầng lớp trong xã hội mà quyền lợi không đồng nhất, có những mâu thuẫn, và các học phái về chủ nghĩa xã hội cố gắng đưa ra những định nghĩa riêng, và do đó học phái nào cũng có lấy một bộ phận nào đó trong nhân dân, những quan điểm và lợi ích của họ là điểm xuất phát của mình. Chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ ra được bộ phận nào trong nhân dân mà có vai trò then chốt không thể thiếu được trong hiện tại, và hơn nữa có vai trò chủ đạo trong tương lai: đó là giai cấp vô sản, những người sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể và vận hành chúng trong điều kiện hiện đại.

Chủ nghĩa xã hội là một mục tiêu di động, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế tới những đẳng cấp tư bản nào, và tuỳ theo khả năng du nhập, sáng tạo và khai thác các loại tư bản nào mà có những quan niệm khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay mang tính đặc thù của mỗi nước xuất phát từ đặc điểm truyền thống, lợi thế so sánh, trình độ phát triển khoa học công nghệ, kinh tế, các nhánh tư bản hậu công nghiệp và đẳng cấp của chúng ở của nước đó.

Những gì thuộc về phúc lợi xã hội ở nước ngoài rất đắt tiền thì chủ nghĩa xã hội đem lại cho người dân khả năng tiếp cận dễ dàng. Người dân Mỹ không được hưởng chế độ bảo hiểm y tế miễn phí. Đó là mối lo hàng đầu của người dân Mỹ hiện nay. Một người bệnh nằm viện chỉ chữa đau lưng sơ sơ 8 ngày là mất 20.000 đô la. Người dân phải nộp 15% chi phí, còn lại là 85% do hãng bảo hiểm chi trả. Mọi công dân đều phải tự lo bảo hiểm y tế. Với những ca bệnh mà phải nằm viện lâu lâu mà không có bảo hiểm thì người dân phải trả hàng trăm ngàn đô la, đó là số tiền mà người ta phải mất cả đời mà trả không hết nợ. Người độc thân mua bảo hiểm mức trung bình là 400 đô la/ tháng. Người dân không biết cách tính của công ty bảo hiểm vì hợp đồng bảo hiểm dài vài ba trang với chữ nhỏ li ti, trong đó có rất nhiều điều khoản và những sự phân tích mà chỉ có những người làm trong nghề mới hiểu được, người Mỹ cũng không hiểu nữa là người dân tộc khác sống nhập cư ở Mỹ. Nhiều đời chính phủ Mỹ muốn cải cách thay đổi chế độ bảo hiểm y tế dân tự mua này, nhưng đã không thành công.

Cuộc chiến tranh tư bản khi các loại tư bản ở các đẳng cấp khác nhau loại trừ nhau, bổ sung cho nhau, và trong một nước, các loại tư bản vươn lên đạt đẳng cấp cao hơn để ngăn chặn sự thâm nhập của tư bản nước ngoài đẳng cấp cao hơn thâm nhập vào đã trở thành cuộc chiến tranh tư bản rất khốc liệt giữa các nước, giữa các khối nước với nhau, trong đó các loại tư bản đẳng cấp cao tìm mọi cách khuất phục các loại tư bản đẳng cấp thấp hơn. Chỉ có rất ít người ở các chiến tuyến là hiểu được điều gì đã xảy ra, thực chất điều gì đã xảy ra. Giai cấp vô sản cũng bị cuốn vào cuộc cạnh tranh kinh tế, tài chính, tiền tệ và tư bản giữa các nước. Cuộc đấu tranh giành giật những giá trị, để chúng đúng vào vị trí của nó trong xã hội tư bản chủ nghĩa mở đường cho sự hình thành những giá trị mới của chủ nghĩa xã hội. Người vô sản tạo dựng lên các tổ chức để bảo vệ các quyền lợi xã hội riêng biệt của mình. Họ sử dụng các hội từ thiện, các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng để phát triển đấu tranh. Hình thức đấu tranh rất phong phú. Họ sử dụng các công cụ của chủ nghĩa tư bản mà thiết lập lên để phát triển tư bản nhằm giải quyết các công việc của mình. So với thời của Mác, có những hình thức xã hội hoá mới, và sự xã hội hoá này phục vụ cho sự phát triển của tư bản, đồng thời chỉ ra được các cách thức đến một xã hội mới cao hơn xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay khi hình thành nên những tạo phẩm phi vật thể xã hội mới mà giải quyết được những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Vấn đề là phải hiểu được toàn diện kinh tế thị trường là gì thì mới có thể thấy được các phương hướng, xu thế vận động của chúng, còn nếu chỉ thấy một mảng nhỏ của nền kinh tế thị trường rồi đưa ra những lập luận nào đó thì không đúng với cách xem xét vấn đề một cách biện chứng, không theo cách mà Mác-Lênin nghiên cứu, nếu không muốn nói là đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin.

Những vấn đề về việc làm, về thất nghiệp mà được đặt ra là trên quan điểm của kinh tế vĩ mô. Nhìn nhận vấn đề dưới góc độ của kinh tế vĩ mô rất khác với nhìn nhận vấn đề dưới góc độ của kinh tế vi mô. Hiện nay nhìn nhận vấn đề dưới góc độ của kinh tế siêu vĩ mô thì còn thấy nhiều điều khác nữa. Cái gì sử dụng lao động hiện nay? Tư bản vi mô, tư bản vĩ mô, và đặc biệt là tư bản siêu vĩ mô. Vấn đề được đặt ra đúng đắn trong mỗi thời đại là phải nêu được những quan niệm mới để thấy được các sức mạnh mới chi phối như thế nào và vai trò của các chủ thể ở mỗi tầng mức ra sao.

Vấn đề đấu tranh giai cấp liên quan tới những hình thức đấu tranh. Việc tuyệt đối hoá phương pháp đấu tranh bạo lực là phương pháp duy nhất là đi ngược lại chủ nghĩa Mác-Lênin. Lênin đã nói: "Thi đua, đua tài đọ sứcvấn đề mà chúng ta đã ghi vào chương trình nghị sự trong khi tuyên bố chính sách kinh tế mớilà một cuộc thi đua rất nghiêm túc. Hình như tất cả các cơ quan nhà nước thường có sự thi đua ấy: nhưng thật ra, đó còn là một hình thức đấu tranh giữa hai giai cấp đối địch không thể điều hoà được. Đó còn là một hình thức đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản; cuộc đấu tranh này vẫn chưa kết thúc, và ngay cả trong những cơ quan trung ương ở Mát-xcơ-va, đứng về mặt văn hoá mà xét, cuộc đấu tranh này vẫn chưa được giải quyết xong hẳn. Vì rất nhiều khi, bọn tư sản lại giỏi hơn những người cộng sản ưu tú nhất của chúng ta là những người hiện có trong tay toàn bộ chính quyền và có đủ mọi khả năng, nhưng với tất cả quyền hành và toàn bộ chính quyền của mình, họ lại không biết làm sao mà tiến lên được lấy một bước" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 115-116).

Chủ nghĩa tư bản hiện đại ra sức tuyên truyền rằng làm hàng nhái, làm hàng giả, xâm phạm sở hữu trí tuệ là điều xấu xa tồi tệ, vô đạo đức, phi pháp không gì biện minh nổi. Trong khi đó, làm ra tiền ảo để nô dịch, cướp bóc các xã hội, nhất là các nước khác thì là điều xấu xa tồi tệ, vô đạo đức, phi pháp gấp bội phần. Vì vậy việc sản xuất tiền ảo phải được che giấu, coi đó là điều tuyệt mật với mỗi chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Do việc sản xuất ra tiền ảo, hiện nay các nhóm tư bản lại đóng vai trò trung tâm của cuộc đấu tranh, tranh giành ảnh hưởng trên các vùng địa lý và lãnh thổ toàn cầu. Cuộc đấu tranh mà không ai dám tuyên bố mục đích của mình vì thực sự đó là những việc phi pháp và là những việc trái với đạo đức hiện hành.

Đó là sự bóc lột tàn ác nhất, đáng bị lên án nhất. Vì thế mâu thuẫn này được che đậy, được xao dịu bằng vô số thủ đoạn, dưới tầng tầng lớp lớp thông tin và tư tưởng. Nếu một người đưa ra cho anh một tờ giấy ghi lên bất kỳ con số nào đó mà bảo anh là hãy đưa tài sản của anh để lấy tờ giấy đó thì anh sẽ làm gì? Con số đó có thể thay đổi đến bất cứ giá trị nào. Như vậy cuối cùng thì người sẵn sàng nhận tờ giấy vẫn là người bị lừa đảo, và bị trả giá. Bất động sản lên giá gấp bội là một điều chứng tỏ rằng ai là người bị lừa. Đối với các nước phát triển, ăn mặc không thành vấn đề nhưng cái ở và đi lại đã trở thành vấn đề không nhỏ. Ăn và mặc là những thứ mà nước nghèo hơn có thể cung cấp cho các nước phát triển, nhưng chỗ ở và nhiều thứ phục vụ cho sự đi lại lại là những thứ mà chính nước phát triển đó phải cung cấp bằng đất đai và các công trình hạ tầng. Điều này luôn luôn là khó khăn với những người vô sản. Ô tô có thể mua được những không dễ được sử dụng có hiệu quả vì tìm được chỗ đỗ xe không phải là dễ. Vấn đề chỗ ở cũng vậy.

Khi mà nền sản xuất còn đói kém, sự bóc lột còn dựa trên sự cùng khổ thì đấu tranh giai cấp là bạo lực tàn bạo. Nhưng khi xã hội phát triển hơn thì hình thức đấu tranh giai cấp đã thay đổi. Bạo lực cũng không phải là các thủ đoạn tiêu diệt nhau một mất một còn. Khi nền sản xuất phát triển hơn và người dân không còn bị đe doạ bởi đói kém thì hình thức đấu tranh sẽ khác, và các giai cấp có sự đấu tranh và có cách thức duy trì quyền lực của mình một cách công khai hay bí mật. Một khi người dân có cách trừng phạt chính phủ bằng lá phiếu trong mỗi cuộc bầu cử thì các giai cấp có những cách thức mới để bảo vệ quyền lợi và quyền lực của mình, không còn dựa vào việc nắm được hay không chính quyền nhà nước. Khi chính phủ bất lực trong việc phát triển kinh tế thì xã hội có cách thức phát triển các quyền lực xã hội mới để đạt được các mục tiêu xã hội của mình.

Để tranh giành quyền lợi, tư bản sẵn sàng gây ra hai cuộc chiến tranh thế giới ở thế kỷ hai mươi. Nhưng một khi tư bản tìm được cách thức đạt được quyền lợi, bảo vệ được quyền lợi tăng cường được quyền lợi và quyền lực của mình bằng các biện pháp hoà bình, bằng các biện pháp khiến cho các nước khác, dù với bất kỳ chế độ chính trị nào cũng tự nguyện tham gia vào tiến trình phục vụ cho quyền lợi của tư bản nước ngoài thì tình hình đã hoàn toàn thay đổi. Tính chất bí mật của cuộc đấu tranh rất khốc liệt này khiến cho nó phải dùng những thủ đoạn rất đặc biệt. Có rất nhiều thủ đoạn mà chủ nghĩa tư bản tạo ra để bơm lên các loại tư bản lên một giá trị mới, cao hơn những gì mà nó có một cách bất thường. Các giá trị thương hiệu lớn nhất là do các trùm tư bản nắm giữ. Việc bơm lên đó có bao nhiêu người được hưởng? và khi một đại doanh nghiệp bị đánh sập vì lý do lĩnh vực đó "xế chiều" thì bao nhiêu người chịu ảnh hưởng? Chắc chắn rằng lợi lộc vào tay trùm tư bản, còn thua thiệt lại đến với giai cấp vô sản của xã hội.

Tính chất chật hẹp trong mục đích sử dụng tiền ảo của tư bản là mâu thuẫn chủ yếu của xã hội hiện đại, khi tiền ảo là để phục vụ sự thống trị của đại tư bản đối với toàn bộ đời sống xã hội. Tư bản không tự nguyện dùng tiền ảo mà mình có thể sản xuất ra được để cải thiện cơ bản đời sống nhân dân, những thứ không sinh lời, không tạo ra tư bản, những thứ làm mất thực chất của tiền ảo. Dưới góc độ chật hẹp đó, tư bản vi mô phải gồng mình hết sức để có thể tồn tại được.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã phát triển đến mức mới, đưa ra những tiêu chuẩn mới về sự vận hành của xã hội. Nếu một xã hội không thấy rằng có những bình diện hoạt động rất rộng lớn mới thì xã hội đó khó có thể có những bước phát triển rộng khắp chứ không nói là có cơ may phát triển vượt lên.

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô đem lại cách thức ban thưởng cho thành công về kinh tế của các tổ chức, cá nhân, theo cơ chế thị trường, đưa tham nhũng vào những nơi khuất mắt người dân. Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô bành trướng ra bên ngoài.

Trong "hội chợ toàn cầu hoá", rất nhiều nước mang đến tiền ảo để chi tiêu khiến cho những nước chỉ có tiền thật chịu rất nhiều thiệt thòi. Cuộc đấu tranh sinh tồn của các loại tư bản với nhau diễn ra quyết liệt. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô Mỹ khuyến khích các loại tư bản cá bé ở các nước đang phát triển rỉa rói các loại tư bản cá lớn ở các nước phát triển khác, và khi các loại tư bản cá lớn đó bị suy yếu thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô Mỹ nuốt tất cả các loại tư bản đó, cả bé lẫn lớn. Để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, các loại tư bản nhỏ sáng tạo ra những phương thức đấu tranh mới, tạo ra những rào cản ngăn cản đà tiến của các tư bản lớn hơn, và sáng tạo ra những loại tư bản mới có đẳng cấp cao hơn.

Việc chuyển hoá sang một xã hội mới là việc xoá bỏ những vấn nạn của xã hội cũ mà một vấn nạn nhức nhối là tham nhũng. Trong xã hội hiện đại, tệ tham nhũng nổi bật lên mà có thể xoá bỏ tất cả các thành quả phát triển của xã hội, mà mỗi xã hội cần phải tìm cách bài trừ. Đó là công việc khó khăn vì chính các thế lực tư bản mạnh hơn sử dụng tham nhũng như là một công cụ xâm lăng kinh tế, mở đường cho sự thôn tính các loại tư bản trong một xã hội. Khi làm hủ bại một xã hội bằng tham nhũng, các thế lực tư bản nước ngoài sẽ dễ dàng áp đặt sự thống trị lên xã hội đó.

Tham nhũng là sản phẩm của kinh tế thị trường. Ở các nước phát triển, mọi tài sản đều có chủ và có hệ thống xã hội nhiều tầng nhiều mức quản lý và bảo vệ các tài sản đó. Vì thế tham nhũng ở những nước này thường diễn ra ở những lĩnh vực mà có thể xuất hiện tài sản mới ngoài mức phát triển thông thường. Ở các nước phát triển, tham nhũng có cơ sở vững chắc ở việc sản xuất tiền ảo của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, và do đó nó có thể diễn ra khuất mắt người bình thường được, dù rằng tham nhũng diễn ra với quy mô khủng khiếp. Ở các nước đang phát triển, rất nhiều tài sản, thậm chí có giá trị rất lớn không có chủ đang trong quá trình đi tìm chủ, vì thế ở các nước này tham nhũng lại diễn ra với hình thức trần trụi, bẩn thỉu trước mắt những người bình thường.

Ăn cướp nhỏ thì bị trừng phạt, chiếm đoạt bằng chiến tranh thì lại có những lý do biện hộ. Tham nhũng là một phương cách biến tiền ảo thành các loại tài sản. Các loại tài sản này sẽ bị được các thế lực mạnh hơn mua lại sau này, thậm chí bị những thế lực mạnh hơn tước đoạt lại. Mỗi giai đoạn lịch sử thì có những giai cấp tranh thủ được những biến động vào một thời điểm nào đó của xã hội mà xác lập được địa vị của mình. Sự tham nhũng cũng có mặt tích cực của nó khi nó là công cụ để biến tiền ảo thành tư bản ở các nước đang phát triển vì ở những nơi đó, quyền lực nhà nước là thứ hiển hiện trước mắt hơn hẳn quyền lực của sự giầu có đem lại, xã hội đó chưa quen thuộc với những quyền lực xã hội khác. Tham nhũng là bóc lột của bóc lột, là sự bóc lột siêu ngạch. Tham nhũng những tài sản của xã hội bày ra trước mắt thì bị lên án, nhưng tham nhũng những tài sản để khuất mắt, những tài sản ảo, thì không gây ra phản ứng tiêu cực như vậy.

Tham nhũng là hiện tượng ký sinh trên cơ thể xã hội, và nó không dễ dàng nhận diện dù nó có gây ra những trở lực lớn. Tư tưởng và hành vi tham nhũng xuất hiện ở những nơi mà người ta không làm gì để trừng phạt được vì những kẻ tham nhũng đã thiết lập được một hệ thống bí mật giăng khắp cơ thể xã hội với những luật chơi được xác định rõ ràng, với những mối quan hệ nhằng nhịt không thể bóc tách được. "Nhưng muốn trừng phạt, thì phải tìm ra kẻ phạm lỗi; thế mà tôi cam đoan với các đồng chí rằng những kẻ phạm lỗi lại không thể tìm ra được" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 125).

Sau những biến động chính trị sâu rộng ở các nước thuộc Đông Âu và Liên Xô cũ, sự phát triển kinh tế của các nước đó diễn ra khó khăn, tham nhũng diễn ra tràn lan, đời sống nhân dân đi xuống, các mâu thuẫn mới xuất hiện trong xã hội nhanh chóng trở nên sâu sắc, ngược hẳn lại những gì mà các nhà "dân chủ" hứa hẹn. Những chờ mong sự giúp đỡ từ chính phủ của các nước Phương Tây nhanh chóng trở thành ảo tưởng. Cũng chẳng trách được các chính phủ của các nước Phương Tây vì trong các xã hội đó chính phủ thì làm về chính trị, nhưng đầu tư lại là công việc của tư nhân, nên các chính phủ đó không thúc đẩy được dòng đầu tư của tư nhân vào một nước mà mới được "dân chủ" thuộc Đông Âu và Liên Xô cũ.

Cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa trong thập niên 80 của thế kỷ trước khiến cho các nước đó phải nhận thức lại về kinh tế thị trường và buộc phải tiến hành công cuộc cải tổ, đổi mới phát triển kinh tế thị trường. Về phương diện nào đó thì đó quả thật là một sự rút lui. "Không có gì khó khăn hơn là rút lui với những người đã quen chiến thắng, đã thấm nhuần những quan điểm và lý tưởng cách mạng và trong thâm tâm, lại coi mọi sự rút lui gần như một cái gì sỉ nhục. Nguy cơ lớn nhất là ở chỗ trật tự bị rối loạn, và nhiệm vụ lớn nhất là phải giữ được trật tự" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 132).

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô của đảng độc quyền lãnh đạo buộc nhà nước phải thích ứng nhanh chóng với trình độ của kinh tế thị trường hiện đại, vì đảng biết phải làm gì, làm như thế nào, có nguồn lực bảo đảm để các vấn đề được giải quyết vì quyền lợi của đảng và của xã hội. Một khi xã hội không đem lại cơ hội cho những sáng tạo có ích cho cộng đồng thì người ta tìm ra những cách thức thể hiện cá nhân ở những điểm khác. Trước hết, xã hội chủ nghĩa đem lại cơ hội làm việc cho mọi người, cơ hội học tập và cơ hội sáng tạo.

Trong một xã hội, khi mở ra bình diện hoạt động mới thì không phải ai cũng có thể nhanh chóng thích nghi được với những thay đổi. Có những người thích nghi nhanh hơn, có những người thích nghi chậm hơn. Năng lực làm ăn kinh tế không phải là điều ngày một ngày hai xã hội đạt được và trở thành tài sản chung của xã hội. Có một số người có khả năng vươn lên nhanh hơn những người khác và một xã hội phải biết tận dụng khả năng đó để hướng xã hội phát triển hơn. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ở một nước có Đảng Cộng sản lãnh đạo không còn gay gắt như ở các nước khác. Giữa hai giai cấp đó có sự nương tựa vào nhau để chống lại các thế lực thù địch chung là các đại tư bản bên ngoài, mà có tham vọng đưa tư bản bản địa vào vòng chi phối của mình. Đảng của giai cấp vô sản định hướng các loại tư bản bản địa nhằm giải quyết các nhiệm vụ phát triển, sử dụng năng lực của các nhà tư bản giải quyết nhiệm vụ phát triển kinh tế, thông qua sự làm giầu của họ, vì việc đó không phải làm ngày một ngày hai mà xã hội quen thuộc với hoạt động kinh tế thị trường. Phải phát huy năng lực sáng tạo cá nhân trước khi trình độ nhận thức chung của xã hội về sự phát triển được nâng lên. Đến một giai đoạn nhất định thì có những đặc tính mới, những hiện tượng mới trong nhận thức chung của xã hội.

Bằng điều hành kinh tế siêu vĩ mô sẽ đem lại cơ hội học tập cho quảng đại quần chúng, cơ hội chữa bệnh cho mọi người. Như vậy có "rất nhiều nhà hảo tâm" quyên góp cho các trường đại học danh tiếng ở trong nước để giảm học phí hay cấp học bổng cho những học sinh, sinh viên nghèo có năng lực.
Sự quá tải của các dạng phi vật thể khiến cho rất nhiều dạng phi vật thể không hoạt động được, gây ra cản trở phát triển của xã hội. Trong giới hạn của chủ nghĩa tư bản sự quá tải sẽ dẫn đến những hậu quả làm lãng phí các nguồn lực của xã hội, gây ra các căng thẳng xã hội, gây ra những xung đột xã hội mới, và gây ra những khủng hoảng.

Kinh tế học hiện đại phải giải thích theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về những thành quả đã đạt được về kinh tế thị trường của những thời kỳ sau Lênin, đồng thời phải nghiên cứu giải quyết những vấn đề đang được đặt ra với kinh tế thị trường hiện đại. "Cho tới nay, trong lịch sử nhân loại không một ai đã có thể viết một quyển sách như thế về chủ nghĩa tư bản. Cho tới nay, các sách tương đối có lý lẽ viết về chủ nghĩa tư bản nhà nước thì đều viết trong những điều kiện và trong một tình hình mà chủ nghĩa tư bản nhà nước là chủ nghĩa tư bản. Nhưng ngày nay lại khác rồi, điều đó bất cứ một ông Mác nào cũng như bất cứ một người mác-xít nào trước đây cũng không thể dự kiến được. Vì vậy không nên nhìn lại phía sau. Nếu anh viết sử, thì anh sẽ viết rất hay; nhưng nếu anh bắt tay vào viết một quyển sách giáo khoa, thì anh sẽ nói: chủ nghĩa tư bản nhà nước, đó là thứ chủ nghĩa tư bản hết sức bất ngờ, mà tuyệt đối chẳng có một ai đã dự kiến cả; vì không một ai có thể dự kiến rằng giai cấp vô sản sẽ lên nắm chính quyền ở một nước chậm tiến nhất, rằng giai cấp đó lúc đầu sẽ tìm cách tổ chức nền sản xuất lớn và việc phân phối cho nông dân, nhưng sau đó, do những điều kiện văn hoá nên không thể hoàn thành nhiệm vụ đó, giai cấp vô sản buộc phải để chủ nghĩa tư bản tham gia vào sự nghiệp của mình. Người ta không bao giờ dự kiến được tất cả điều đó, nhưng đó lại là một sự thực không thể chối cãi được" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 140-141). Sau thời đại kiếm tiền độc quyền, chủ nghĩa tư bản phát triển đến hình thái sản xuất ra tiền. Điều đó bộc lộ bản chất thống trị của tư bản đã đạt đến trình độ mới. Bằng việc mở rộng công thức của Mác về tư bản, người ta có thể giải thích được sự phát triển của tư bản của thời kỳ Lênin, những thời kỳ sau Lênin, như thấy được cơ sở khoa học của giải pháp mà Keynes đã đưa ra cho xã hội tư bản, và giải thích được sự phát triển của tư bản trong thời đại ngày nay. Bằng việc mở rộng công thức của Mác về tư bản, người ta có thể vạch ra được chiều hướng phát triển của tương lai.

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô đem lại nguồn vốn khổng lồ cho sự phát triển kinh tế xã hội, cho sự đuổi kịp các nước tiên tiến. Bằng việc tạo ra tiền ảo, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đã có công cụ mạnh mẽ để thực hiện được sự điều hành kinh tế, có công cụ để đưa mọi tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội vào vòng ảnh hưởng của mình. Đó là cơ sở để chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại thể hiện sức sống mãnh liệt của mình. Bằng việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô, đảng của giai cấp vô sản độc quyền lãnh đạo tài trợ cho sự phát triển của các giai cấp khác trong xã hội, buộc các giai cấp đó phục vụ lợi ích của mình. Lênin nói: "Mỗi chế độ xã hội chỉ nảy sinh ra nếu được một giai cấp nhất định nào đó giúp đỡ về tài chính" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 423). Do sản xuất tiền ảo, giai cấp vô sản tài trợ cho chủ nghĩa tư bản ở nước mình, nhưng lại kiểm soát được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nắm điều hành kinh tế siêu vĩ mô, đảng của giai cấp vô sản đưa giai cấp tư sản ở trong nước vào sự chi phối và điều hành của mình. Một khi được giai cấp vô sản ở nước có đảng tiên phong của mình độc quyền lãnh đạo giúp đỡ tài chính, thông qua chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô do đảng tiên phong của mình thiết lập nên, thì giai cấp tư sản ở nước đó phải phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản trong khi theo đuổi mục đích lợi nhuận của mình. Lênin đã nói khi làm một cái mới, một sự nghiệp chưa từng có trong lịch sử, thì phải làm đi làm lại hàng trăm lần, như vậy phải có nguồn tài trợ. Vậy nguồn tài trợ đó ở đâu ra? Tiền ảo đã cung cấp cho các trùm tư bản công cụ mới để thống trị thế giới, tiền ảo cũng cung cấp cho giai cấp vô sản ở các nước có Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo phương tiện để phát triển kinh tế đuổi kịp các nước tiên tiến. Số tiền ảo được tạo ra là hậu phương lớn của các doanh nghiệp của một nước đầu tư ra nước ngoài, thâm nhập thị trường nước ngoài, cạnh tranh với thị trường nước ngoài.

Bằng việc phát triển chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô và có điều kiện nhất để thực hiện quyết liệt sự điều hành kinh tế siêu vĩ mô, các nước do giai cấp vô sản lãnh đạo có rất nhiều thuận lợi để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội, đẩy nhanh tiến trình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. "Cái mấu chốt không phải là chính quyền, mà cái mấu chốt chính là biết lãnh đạo, biết đặt người cho đúng chỗ, biết tránh những cọ xát nhỏ để làm thế nào cho hoạt động kinh tế của nhà nước khỏi bị gián đoạn" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 128-129).
Tính chất phong phú, toàn diện và cập nhật được những thành quả phát triển mới nhất của thực tiễn khoa học công nghệ và đời sống kinh tế xã hội đã thể hiện sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác-Lênin, và niềm tin vào tương lai của xã hội vì con người mà những người cộng sản chủ trương xây dựng.


Định hướng xã hội chủ nghĩa

Khi "Kinh tế thị trường do chính quyền định hướng xã hội chủ nghĩa là không thành công; cả Nhật Bản và Hàn Quốc đã phải trả giá đắt cho điều này. Xu thế không thể đảo ngược của thị trường hoá là sự chuyển đổi từ nền kinh tế do chính quyền dẫn dắt sang nền kinh tế định hướng thị trường" (Chi Fulin. Những vấn đề mới phát sinh trong xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 315, tháng 8-2004, trang 66) có nghĩa là việc nhà nước làm việc đó gây ra những mâu thuẫn mới trong xã hội, làm xuất hiện những hiệu ứng phụ gây tai hại cho nền kinh tế, làm cản trở sự phát triển, gây ra sự bất bình đẳng mới trong xã hội.

Vấn đề cần phải được nhìn nhận và giải quyết ở tầm mức khác, tầm mức siêu vĩ mô. Một nền kinh tế mà các nguồn nguyên liệu và nhiên liệu dựa vào nước ngoài, không thể dùng điều hành kinh tế vĩ mô mà giải quyết được những vấn đề đang được đặt ra cho sự phát triển kinh tế. Khi giá dầu tăng mà nhà nước duy trì giá xăng dầu thấp sẽ làm cho nhiều người lợi dụng buôn lậu xăng dầu qua biên giới, gây ra những bất công mới cho xã hội, làm trầm trọng nhiều mâu thuẫn. Trong khi đó có thể duy trì giá điện ở mức thấp, vì không thể buôn lậu điện được.
Người ta không thể giải quyết chủ động được những vấn đề kinh tế đối ngoại chỉ bằng việc điều hành vĩ mô.

Sau nội chiến, nước Nga xô viết bị tàn phá, thiếu nguyên vật liệu, thiếu lương thực, nhà máy đóng cửa, giai cấp công nhân thất nghiệp kiếm sống bằng đủ mọi cách, nền kinh tế quay về kinh tế tiểu nông. Lênin đề ra chính sách kinh tế mới, phát triển kinh tế tư bản vì đó là công cụ để xây dựng lại giai cấp công nhân, phát triển kinh tế. Lênin thấy rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua phát triển kinh tế tư bản nhà nước. Thời đại của Lênin, người ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua sự phát triển tư bản nhà nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội qua con đường phát triển tư bản nhà nước. Nền kinh tế siêu vĩ mô đã đặt ra vai trò mới của Đảng Cộng sản đã giành được độc quyền lãnh đạo. Bước xuyên qua tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Là một nước đang phát triển kinh tế còn lạc hậu, việc phát triển theo con đường tư bản đối với chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là con đường để hình thành nên đội ngũ giai cấp vô sản, tính kỷ luật của giai cấp vô sản, đồng thời đó là cách thức để phát triển các phương tiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bước quá độ phát triển lên xã hội mới thời Lênin là phát triển kinh tế nhà nước. Bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay là phát triển tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, mà xã hội phải tìm ra được các cách thức phát triển tư bản mới và kiểm soát, định hướng được các loại tư bản cũ. Vậy một xã hội như thế nào mới có thể làm được điều này? Một quốc gia đất không rộng, người lại đông, có trình độ phát triển kinh tế không cao có thể làm được những việc này không?
Những lời dạy của Lênin rất quý giá, còn nguyên giá trị đối với những người cộng sản:
"Rõ ràng, cái còn thiếu chính là trình độ văn hoá của những người cộng sản lãnh đạo" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 114).
"Người ta đã dạy chúng ta rằng: khi một dân tộc này đi chinh phục một dân tộc khác, thì lúc đó dân tộc chinh phục được là dân tộc thắng trận, còn dân tộc bị chinh phục là dân tộc thua trận. Đó là điều đơn giản và ai cũng có thể hiểu được. Nhưng nền văn hoá của các dân tộc ấy thì sẽ ra sao? Điều đó không phải giản đơn đâu. Nếu dân tộc đi chinh phục có trình độ văn hoá cao hơn dân tộc thua trận, thì nó bắt dân tộc thua trận phải theo văn hoá của nó. Trong trường hợp ngược lại, cũng có khi chính dân tộc thua trận lại buộc dân tộc đi chinh phục phải theo văn hoá của mình" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 114).

"Văn hoá của họ là một thứ văn hoá thấp kém, không đáng kể. Nhưng dù sao, văn hoá đó cũng cao hơn văn hoá của chúng ta. Dù nó thảm hại và thấp kém thế nào đi nữa, nó cũng còn cao hơn trình độ văn hoá của những người cộng sản phụ trách của chúng ta, vì những người cộng sản này không đủ khả năng lãnh đạo. Những người cộng sản đứng đầu các công sở,đôi khi những kẻ phá hoại ngầm đẩy họ lên địa vị đó một cách khôn khéo có dụng ý, để làm một cái chiêu bài cho chúng,những người cộng sản đó thường bị người ta đánh lừa" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 114-115), và "họ cứ tưởng là mình lãnh đạo người khác, nhưng thật ra, họ có biết chính họ bị người khác lãnh đạo không? Nếu họ hiểu được điều đó, thì chắc chắn họ sẽ học lãnh đạo được, vì có thể học lãnh đạo được. Nhưng muốn thế, phải học tập, mà ở nước ta, người ta lại không chịu học tập" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 115).

"Chỉ trông vào bàn tay của những người cộng sản để xây dựng xã hội cộng sản, đó là một tư tưởng hết sức ngây thơ. Những người cộng sản chỉ là một giọt nước trong đại dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân. Họ chỉ có thể lãnh đạo nhân dân đi theo con đường của mình với điều kiện là họ vạch ra được con đường đó cho đúng, không những chỉ đúng theo hướng đi của lịch sử thế giới mà thôi (...), ở chính nước ta, chúng ta cũng phải vạch con đường đó một cách đúng đắn" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 117). "Chỉ khi nào những người cộng sản biết dùng bàn tay của người khác để xây dựng nền kinh tế ấy, và bản thân mình học tập giai cấp tư sản ấy và hướng giai cấp ấy theo con đường mình muốn, khi đó chúng ta mới có thể lãnh đạo được nền kinh tế" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 117). "Nhưng muốn thoát khỏi cảnh thiếu thốn, cảnh bần cùng cực độ, thì phải có suy nghĩ, có văn hoá, phải có nền nếp. Thế mà điều đó họ lại không có" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, trang 124).

Phát triển tư bản là cách thức để phát triển đội ngũ những người vô sản, để cho lối làm ăn lớn, đại công nghiệp và hậu công nghiệp lan toả khắp xã hội, và từ đó giai cấp vô sản có tầm ảnh hưởng rất quan trọng về thực chất trong toàn xã hội. Đây là trường học đào tạo giai cấp vô sản về tác phong kỷ luật của nền sản xuất đại công nghiệp hiện đại, của nền sản xuất hậu công nghiệp, là học phí phải trả. Giai cấp vô sản phải nắm được các bí quyết, chuyên môn và nghiệp vụ phát triển kinh tế trong kinh tế thị trường, vì kinh tế thị trường hàng ngày hàng giờ tạo ra tư bản mới. Qua hoạt động phát triển tư bản, đảng của giai cấp vô sản hiểu được những gì đang thực sự diễn ra trong nền kinh tế thị trường, cách khai thác các nguồn lực của chúng.

Mỗi trình độ phát triển kinh tế xã hội thì xã hội đó chấp nhận quan niệm về chủ nghĩa xã hội phù hợp với trình độ đó, và điều đó tạo nên một tạo phẩm phi vật thể đặc thù có sức mạnh xã hội mới trong những giai đoạn cụ thể để có thể giải quyết những vấn đề phát triển xã hội có tầm nhìn lâu dài mà không bị ảnh hưởng bởi những quyết định trước mắt. Mỗi xã hội có những mục tiêu trước mắt và lâu dài cần phải giải quyết mà tiến trình giải quyết cần phải làm thành từng bước, có những biện pháp tạm thời, có những biện pháp lâu dài, cơ bản, trong đó có việc phát triển các công cụ mới, đặc biệt là các công cụ của kinh tế thị trường và có những cách thức áp dụng các công cụ đó vào cuộc sống và phối hợp các biện pháp lại với nhau để đạt được hiệu quả chung. Mỗi xã hội có những vấn đề bức xúc nổi lên mà không dễ dàng tìm được cách giải quyết và phải chấp nhận các biện pháp thử nghiệm theo nhiều phương án rồi mới làm nổi bật được cách thức lâu dài và hiệu quả, như giáo dục bậc cao thì đòi hỏi cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, cơ chế tài chính cho các trường đại học,... Những vấn đề bức xúc phải được giải quyết rõ rệt, nhanh hơn bình thường. Cần phải tìm ra được các cách thức để tự xã hội giải quyết được các vấn đề nảy sinh nội tại.

Trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, giá trị thặng dư vĩ mô và siêu vĩ mô là có thể thực hiện được những vấn đề xã hội một cách chủ động. Còn những giá trị thặng dư vi mô thuộc nhiều chủ sở hữu khác nhau thực hiện được những công việc xã hội tuỳ theo sự từ thiện của các chủ sở hữu. Mỗi giai đoạn phát triển cần phải phát triển hết tầm những loại tư bản mà xã hội đang có để tạo nên được những giá trị thặng dư đủ lớn để thực hiện được sự phân phối trong xã hội. Người dân không thể tiếp cận được các loại tạo phẩm mà tư bản trong nước không thể cung ứng được với giá cả chấp nhận được. Trước mắt, đối với một nước nghèo, chủ nghĩa xã hội có nghĩa là người dân được hưởng những tiến bộ phúc lợi xã hội mà các nước phát triển phải phát triển rất lâu mới được, mà chỉ có tránh được các mặt tiêu cực của sự chạy theo lợi nhuận của toàn xã hội thì mới làm được như vậy. Việc chạy theo lợi nhuận làm cho người ta bất chấp những gì gọi là đạo đức, những gì gọi là lẽ phải như tình trạng y đức xuống cấp, giáo đức xuống cấp như hiện nay, và hiện tượng tham nhũng tràn lan trong xã hội như hiện nay. Phải có cách thức không để cho việc khai thác theo lối tư bản chủ nghĩa các dịch vụ thiết yếu đối với người dân có đất phát triển.

Người ta luôn luôn có những nhận thức mới về những vấn đề vẫn tồn tại trong xã hội mà xã hội chưa giải quyết được. Những nhu cầu thiết yếu với quảng đại quần chúng trong các xã hội khác nhau là khác nhau, và với những nước mà có trình độ phát triển tư bản còn thấp, người dân cần đáp ứng các nhu cầu như nhà ở, các dịch vụ y tế, giáo dục mà xã hội có thể giải quyết được thông qua các biện pháp tổng hợp như kinh tế, tài chính, hành chính, từ thiện... mà sẽ làm cho việc quan tâm tới những tầng lớp thua thiệt nhất của xã hội và tìm cách giải quyết là một tiến trình tự động. Không giải quyết được những vấn đề với những người bị thua thiệt trong xã hội thì sẽ dẫn đến những bất ổn với xã hội. Công bằng xã hội là cái giá mà xã hội phải trả để tránh cho xã hội có những bất ổn.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là sản xuất ra được một hệ tạo phẩm phi vật thể xã hội mà có khả năng chi phối các hoạt động của nền kinh tế xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội tốt nhất trong những giai đoạn phát triển kinh tế thị trường. Hệ tạo phẩm phi vật thể này hoạt động ở ba tầng mức siêu vĩ mô, vĩ mô và vi mô. Hệ tạo phẩm này có biện pháp điều phối các tài sản của các chủ sở hữu khác nhau phục vụ mục đích xã hội theo từng giai đoạn, tình hình cụ thể.
Định hướng xã hội chủ nghĩa là phải giải quyết được vấn đề phát triển trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại với những cạnh tranh rất gay gắt hiện nay. Những chương trình xã hội như xoá đói giảm nghèo, chống thất nghiệp,... phải trở thành những tiến trình tự động trong xã hội.

Có những bình diện của kinh tế thị trường hiện đại mà không hoạt động thì không có thực tiễn, mà bình diện đó đóng vai trò thiết yếu trong việc phát triển kinh tế và phát triển xã hội hiện nay. Vấn đề hiện nay là cần phải thấy được xã hội tận dụng những bước phát triển mới để đem lại những cái mới cho xã hội, giải quyết được những vấn đề xã hội tốt hơn, đem lại những thứ tốt hơn cho con người, đem lại cơ hội mới cho người dân thoát khỏi đói nghèo, được tiếp cận với những dịch vụ xã hội. Với trình độ phát triển thị trường còn thấp thì chủ nghĩa xã hội còn phải đánh giá trên phương diện vật chất, và cung ứng các dịch vụ cơ bản cho người dân. Nếu trình độ phát triển thị trường cao hơn, chủ nghĩa xã hội đem lại khả năng mới cho quảng đại quần chúng, đem lại cho họ những cơ hội phát triển mới.

Phát triển kinh tế có nhiều giai đoạn, mà định hướng xã hội chủ nghĩa với mỗi giai đoạn lại khác nhau. Quan niệm về chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn xã hội còn thiếu nhiều sản phẩm vật thể sẽ khác với quan niệm về chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn xã hội phát triển. Quan niệm về nguồn lực phát triển kinh tế cũng thay đổi, chẳng hạn hiện nay việc các nước ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO là cách tài trợ tốt nhất cho Việt Nam.

Trong giai đoạn nền kinh tế còn lạc hậu, trình độ khoa học công nghệ còn thấp kém, cần phải giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ là phát triển các công cụ của chủ nghĩa tư bản để hiểu được thực chất các thứ do các công cụ đó làm việc được và làm được những việc gì, thử nghiệm các xu hướng, và xây dựng tính kỷ luật của đội ngũ vô sản với những phong cách làm việc công nghiệp và hậu công nghiệp, hiểu được những vấn đề cần giải quyết với họ, những quan niệm sống của xã hội. Trong các bước phát triển kinh tế thị trường sẽ xuất hiện nhiều phương tiện mới giải quyết những vấn đề của họ. Mỗi bước tiến trên con đường đó không khỏi có sai lầm, có những biện pháp tưởng là tốt lại có hiệu quả xấu không mong muốn làm mất giá trị các bước trước.

Nếu như trong thời đại của Lênin, những người cộng sản phải học tập buôn bán để phát triển kinh tế, thì ngày nay các người cộng sản phải học tập và sử dụng thành thạo các công cụ của tư bản, thậm chí phát minh ra các công cụ tư bản mới, để phát triển kinh tế. Chính sách đổi mới đã mở đường cho sự phát triển lực lượng sản xuất, gia tăng tư bản trong xã hội, thể hiện về mặt pháp luật sự bảo vệ tư bản và tạo hành lang cho sự tăng trưởng tư bản. Luật Doanh nghiệp mở ra hàng loạt doanh nghiệp mới, giải phóng tư bản, các luật khác của nền kinh tế thị trường làm cho vòng quay của tư bản gia tăng mạnh mẽ hơn, tạo nên được những hình thái tư bản mới.

Khi người ta phải hy sinh rất nhiều thứ cho phát triển kinh tế thì cần có những cách nhìn mới. Khi nhìn nhận những vấn đề về con người thì người ta phải nhìn nhận về con người hiện tại và tương lai, có những thứ vì con người hiện tại nhưng lại tước đi các cơ hội của các thế hệ tương lai khi con người hiện tại tiêu dùng những tài nguyên không tái sinh của các thế hệ sau, khi không có những nguồn lực để giải quyết những vấn đề xã hội. Trong hoàn cảnh các nguồn lực khan hiếm, những nguyện vọng đạo đức tốt đẹp nhất cũng không giúp cho tình hình được cải tiến thêm. Con người cần được nhìn nhận theo nhiều chiều khác nhau. Điều quan trọng là đem lại cho người ta cần câu chứ không phải là đưa cho con cá.

Kinh tế là biện pháp chống lãng phí tài nguyên thiên nhiên, là cách thức sử dụng các nguồn lực khan hiếm sao cho hữu hiệu, nhưng kinh tế thị trường hiện đại lại không ngừng mở rộng việc tiêu tốn tài nguyên hơn nữa để đáp ứng những nhu cầu ảo. Nhìn bề ngoài, nền sản xuất hậu công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm mà không sử dụng các tài nguyên, nhưng trong rất nhiều lĩnh vực chúng lại kích thích sự sử dụng tài nguyên vật chất nhiều gấp bội. Chẳng hạn khi sử dụng máy vi tính, ban đầu người ta hy vọng rằng sẽ làm giảm đi lượng giấy tiêu thụ trong các văn phòng, nhưng thực tế đã ngược lại, lượng giấy dùng trong văn phòng đã tăng vọt hẳn lên. Do sự lo ngại mất mát dữ liệu với nhiều nguyên nhân khác nhau mà người ta phải sao lưu trên "bản sao cứng", tức là giấy về những dữ liệu quan trọng nhất, của cá nhân, của tổ chức và của những người khác nữa. Còn trong lĩnh vực sản phẩm tiêu dùng, nhất là trong lĩnh vực liên quan tới thời trang thì người ta sẵn sàng loại vứt luôn những sản phẩm khi hết mốt, dù rằng nó còn tốt nguyên, thậm chí chưa được dùng bao giờ, và sẵn sàng mua các thứ mới hợp mốt hơn.

Tiến trình thiết tạo điều hành kinh tế siêu vĩ mô cần phải thực hiện qua nhiều giai đoạn, trong đó có những công việc chủ yếu như tuyên truyền tri thức về kinh tế siêu vĩ mô thâm nhập được vào xã hội, ban lãnh đạo đất nước thông suốt với điều đó, và quyết định bắt tay vào việc xây dựng kế hoạch thiết lập chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, đặt kế hoạch hàng năm thiết lập cơ chế quản lý mới, chuẩn bị những phương án cổ phần hoá các đại doanh nghiệp nhà nước để chúng có thể tiếp nhận các nguồn tiền ảo của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô có nhiều giai đoạn. Giai đoạn sơ khai là sản xuất ra tiền ảo, nhưng ở giai đoạn cao hơn là nâng cao vòng quay của các phương tiện tài chính tiền tệ, bằng việc bắt buộc các loại tài sản tài chính nào đó phải tham gia vào tiến trình trao đổi với những số lượng nhất định vào những thời điểm nào đó. Khi thiếu tiền thì người ta luôn nghĩ là có tiền thì sẽ giải quyết được nhiều vấn đề, nhưng khi thừa tiền, người ta mới thấy rằng có nhiều thứ mà tiền không làm được, như khả năng sáng tạo ra cái mới.

Hoạt động điều hành kinh tế siêu vĩ mô có thể được định hướng theo nhiều mục đích khác nhau. Tư bản hậu công nghiệp đem lại cho xã hội cách hành xử mới, buộc các quyền lực xã hội khác phục tùng nó. Tư bản chiếm ưu thế về thời gian. Tư bản hậu công nghiệp và kinh tế học siêu vĩ mô thể hiện vai trò to lớn của lý luận trong việc tạo nên nguồn lực mới trong sự phát triển kinh tế, thể hiện tính mở lối dẫn đường của lý luận đối với các hoạt động thực tiễn. Thực tiễn buộc người ta phải đổi mới tư duy chứ không có chuyện tư duy buộc thực tiễn theo các mô thức của nó. Trong xã hội, người ta phải sống với rất nhiều người có tư duy khác, rất nhiều người có mục đích khác nhau, và có nguồn lực khác nhau để tác động đến những thứ gì đó. Với những sức mạnh đó tác động làm cho một người nào đó, một nước nào đó muốn sống cách ly cũng không được mà phải tích cực hội nhập với thế giới, giải quyết được những vấn đề phát triển kinh tế, phát triển xã hội của mình trong hoàn cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng. Thực tiễn cần phải được nhìn nhận không phải là những gì đã đạt được mà là theo góc độ nỗ lực tìm ra con đường phát triển của đất nước lên tầm hiện đại. Thực tiễn cần phải được nhìn nhận theo nhiều kiểu, trong khi đó một đối tác nước ngoài có thể quan niệm thực tiễn khác với những người Việt Nam về những gì đất nước đang trải qua. Thực tiễn này có tạo được đà rút ngắn khoảng cách phát triển trong tương lai hay không? Thực tiễn phải được xem xét theo góc độ những tạo phẩm phi vật thể nào đã, đang được hình thành mà sẽ chi phối hoạt động trong tương lai.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là thiết lập cách thức vượt qua sự phân cắt do các loại sở hữu đưa lại bằng cách điều hành kinh tế siêu vĩ mô ở trình độ cao, nhạy bén, đủ sức giải quyết các vấn đề chi tiết trong quan hệ toàn cục, chuyển các sở hữu thành hình thức sở hữu xã hội cao hơn, và có cách khai thác chúng. Định hướng xã hội chủ nghĩa có cách giải quyết những vấn đề sở hữu, duy trì sở hữu ở những điểm có lợi cho sự phát triển, và ngăn chặn những sự sở hữu tràn lan vô lối, như sở hữu tên riêng. Vấn đề không phải xoá bỏ sở hữu mà là xã hội phát triển các phương tiện buộc các chủ sở hữu phải phục vụ, chịu sự chi phối của xã hội trong những hoàn cảnh lợi ích của chủ sở hữu đó và của xã hội có xung đột. Xã hội chủ nghĩa là xã hội chi phối được các loại sở hữu, không để cho các loại sở hữu gây ra các tác động có hiệu quả xấu đối với xã hội. Ngay từ vấn đề sản xuất, chủ nghĩa xã hội phải có những ngành sản xuất không phải nhằm mục đích trao đổi.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là thiết lập được một thiết chế buộc các sở hữu tư nhân phục tùng sự chỉ đạo để tham gia hoạt động nào đó, thậm chí giải quyết các vấn đề xã hội. Việc sản xuất tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản đã cho phép chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô làm được điều đó. Định hướng xã hội chủ nghĩa là thiết lập được các loại tư bản đẳng cấp cao mới, và đưa các loại tư bản đó phục vụ cho lợi ích chung của xã hội. Chẳng hạn thiết lập được những tư bản đẳng cấp cao, từ đó thu hút được lượng tiền lớn của xã hội để giải quyết được một số việc phúc lợi xã hội, từ những việc như tạo nên những ngôi sao ca nhạc, thể thao hay điện ảnh, và bán những kỷ vật có giá của các ngôi sao đó để gây quỹ từ thiện đến những việc xây dựng các thương hiệu mạnh cho các đại công ty mà từ đó đem lại khả năng mới cho việc biến tiền ảo thành tư bản và có khả năng thu được lợi nhuận lớn để có tiền tài trợ cho các mục đích xã hội.

Trong nền tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa, các vấn đề sẽ được xem xét toàn diện, có nhiều cái mới, chấp nhận được những sai lầm.
Chủ nghĩa xã hội là làm cho người dân kiếm tiền không quá khó khăn, nhưng để làm giầu được thì đòi hỏi phải có tính kỷ luật. Chủ nghĩa xã hội được xây dựng bởi những người giác ngộ, có kỷ luật tự giác. Kỷ luật tự giác được thúc đẩy và trừng phạt bằng lợi ích.
Chủ nghĩa xã hội của Liên Xô cũ là chủ nghĩa xã hội "cộng sản ấu trĩ". Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ đã thua tuyệt đối chủ nghĩa tư bản do nó đã không tạo ra được phương tiện để xã hội có khả năng phát triển đột biến. Việc sản xuất ra tiền ảo đem lại khả năng phát triển đột biến cho xã hội, làm gia tăng sự phát triển của xã hội. Vấn đề quyền lực xã hội lại được đặt ra với những khía cạnh mới. Quyền lực siêu vĩ mô có thể phát triển kinh tế, xây dựng các đại doanh nghiệp, nâng mức sống của xã hội hơn mức bình thường, thực hiện sự mở rộng công bằng trong xã hội, nhưng cũng có sức mạnh để gây ra các cuộc khủng hoảng cho xã hội, đánh sập các đại doanh nghiệp. Sự dũng cảm trong quan niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là ở chỗ quyết tâm chính trị của đảng trong việc chinh phục một thế lực ghê gớm vốn quen bắt các sức mạnh xã hội khác phải phục tùng nó, và trong trường hợp bị áp đặt thì nó có biện pháp trả đũa khủng khiếp là gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội. Sự dũng cảm đó có thể ví như cưỡi lên lưng cọp.

Trong thời đại ngày nay, không thiết lập được điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì không thể xây dựng một xã hội phát triển chứ đừng nói đến được điều cao xa hơn là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề là không phải ngày một ngày hai mà tiến hành được hoạt động bí mật nhằm xây dựng được chủ nghĩa xã hội trên đất nước mình.

Người ta có thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô để phục vụ đại tư bản, nhưng cũng có thể sử dụng kinh tế học siêu vĩ mô phục vụ cho chủ nghĩa xã hội. Cùng một công cụ phục vụ cho sự phát triển của tư bản, đem lại sự giầu có khổng lồ cho các đại tư bản thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thấy được đó là công cụ để mình giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế xã hội, đem lại sự phồn vinh chung của xã hội, và đem lại tiềm lực mới cho đất nước. Là công cụ để đạt được mục tiêu xã hội chủ nghĩa, điều hành kinh tế siêu vĩ mô có hiệu quả sẽ làm giảm đi xung đột xã hội gay gắt, sẽ chống lại các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính loại mới. Việc ổn định chính trị được giải quyết bằng việc nắm vững và điều hành có hiệu quả kinh tế siêu vĩ mô. Đảng Cộng sản điều hành kinh tế siêu vĩ mô là việc chưa từng có tiền lệ nên đòi hỏi phải có sự sáng tạo rất lớn.


Điều hành trong thực tiễn

Cần phải biết cách lợi dụng sự cạnh tranh với nhau giữa các chủ thể điều hành siêu vĩ mô của các nước. "Về mặt chính trị, chúng ta phải biết lợi dụng những sự bất đồng giữa những kẻ thù của chúng ta và chỉ những sự bất đồng sâu sắc do các nguyên nhân kinh tế sâu sắc nhất mà ra. Nếu chúng ta định lợi dụng những sự bất đồng nhỏ nhặt, ngẫu nhiên, chúng ta sẽ chỉ là những nhà chính trị tầm thường và những nhà ngoại giao rất tồi. Làm như vậy thì chẳng có tác dụng gì to lớn cả. Nhiều nhà ngoại giao đã hành động như thế, họ hành động như thế trong vài tháng, đạt được địa vị và rút cuộc bị đổ"(V. I. Lê-nin. Toàn tập, Tập 42, nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1979, trang 72). Trong thời đại ngày nay, nguyên nhân kinh tế sâu sắc nhất của những bất đồng giữa các nước là sự sản xuất ra tiền ảo của nhau, và trận địa chủ yếu nhất để điều này được thực hiện là ở các nước đang phát triển. Có thể nói các nước đang phát triển là lò luyện để biến tiền ảo thành tư bản.

Các hoạt động kinh tế siêu vĩ mô phục vụ sự phát triển đuổi kịp gồm có mở rộng hết tầm các loại tư bản hiện có và sản xuất ra các loại tư bản mới, phát huy được sự sáng tạo mới trong toàn xã hội.

Đảng Cộng sản nắm được chính quyền thì nhiều vấn đề đã được đặt ra khác với trước đây là đảng có thể xây dựng được nền kinh tế thị trường kiểu khác với kiểu thị trường tư bản chủ nghĩa, là thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với Việt Nam và thị trường xã hội chủ nghĩa với Trung Quốc. Để điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng xã hội chủ nghĩa thì trước hết cần phải có chủ thể để tiến hành công việc đó. Chủ thể này cần có năng lực học hỏi, đúc rút kinh nghiệm từ các sai lầm, tổng kết thực tiễn và đề ra được các lý luận mới để điều hành kinh tế siêu vĩ mô.

Do tính chất có nhiều bí mật trong hoạt động của kinh tế siêu vĩ mô nên tiến trình hoạt động thực tiễn là có thể coi như là một công việc chưa có tiền lệ đối với mỗi xã hội, trong đó phải tạo nên được những tạo phẩm phi vật thể chi phối hành động của các nhóm chủ thể ở cả ba tầng mức siêu vĩ mô, vĩ mô, vi mô, mà làm được những việc phối hợp với nhau hành động vì mục đích chung nào đó trong nền kinh tế xã hội.

Những điều không mong muốn diễn ra trong thực tế, nhịp độ phát triển, sự tác động và phân phối các nguồn lực trong xã hội luôn luôn làm nảy sinh những vấn đề mới, và khi phát triển sang trạng thái mới luôn đòi hỏi phải nhanh chóng nhận diện ra và có đối sách phù hợp.

Phải thiết lập được sự điều hành kinh tế siêu vĩ mô, phải nắm được và sử dụng thành thạo các công cụ hiện có của nó, phát minh ra các công cụ mới thì mới có thể điều hành định hướng theo mục đích nào đó. Bằng sự hiểu biết hơn sự vận hành của nền kinh tế hiện đại và tìm được cách đi riêng của mình, trong thời gian tới, sự phát triển kinh tế đất nước sẽ có những bước phát triển đột biến, mà có niềm tin cho nhân dân về sự phát triển bền vững. Phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô, Đảng có cách bơm tiền vào để giải quyết những vấn đề xã hội như lập các quỹ hưu trí, các quỹ này có những nguồn tiền từ những nguồn gốc chính đáng mà khi hoạt động thì được bơm tiền vào từ các kênh khác. Một quỹ lương làm ăn có hiệu quả thì việc cải thiện thêm cho người về hưu là điều đương nhiên. Cần phải tổ chức hoạt động và phát triển vai trò điều hành kinh tế siêu vĩ mô của đảng của giai cấp vô sản, qua đó có các công cụ mới mạnh mẽ tác động tới kinh tế xã hội, tạo ra được các nguồn lực mới, huy động được các nguồn lực còn tiềm ẩn trong xã hội phục vụ các mục tiêu xã hội. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô là tận dụng được sự phân công lao động quốc tế để làm cho đời sống nhân dân giầu lên. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có trọng trách cảnh báo và bảo vệ xã hội chống lại các cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ, năng lượng... do bên ngoài gây ra.

Do bản chất quốc tế của mình, những người vô sản san xẻ cho nhau kinh nghiệm điều hành kinh tế vĩ mô, và phối hợp hành động để có được sự điều hành chung tốt hơn, vì điều đó đem lại sự ổn định làm tiền đề phát triển kinh tế. Nhưng việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô lại mang đặc thù của mỗi nước, mà lại có những bí mật không dễ gì san xẻ.
Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể đạt được khi các nhánh của tư bản hậu công nghiệp đã đạt được đến những đỉnh cao, và điều này chỉ có thể đạt được khi chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có tầm hoạt động quốc tế rộng lớn.

Thiếu tiền, thiếu vốn, lúc nào cũng căng thẳng về vốn cho sự phát triển, vậy vốn đó ở đâu? Chỉ có bình diện điều hành kinh tế siêu vĩ mô mới cho được câu trả lời: hoạt động điều hành kinh tế siêu vĩ mô sẽ đem lại vốn đó, không những cho sự phát triển hiện tại mà còn cho sự phát triển tương lai. Nếu như chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ cho giai cấp vô sản con đường tự giải phóng mình, thì một xã hội cũng cần phải biết cách tự phát triển mình. Sự phát triển các công cụ kiểm soát, thông tin liên lạc, xử lý dữ liệu đã đem lại khả năng mới cho chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô để mở rộng tầm hoạt động, giải quyết được sự phân cắt về nguồn vốn, về thông tin, về trình độ phát triển.

Trong nền kinh tế thị trường, người giầu hôm nay có thể là người trắng tay ngày mai khi cổ phiếu họ đang nắm giữ bị mất giá. Khi người ta có tài sản, mà những tài sản đó bị mất một cách trắng trợn thì điều đó gây ra những xáo động xã hội vì người dân cho rằng chính phủ đã bất lực để cho họ bị ăn cướp trắng trợn đến như vậy. Khi một xã hội nào đó giầu lên đến mức nhất định thì xã hội đó là một miếng mồi mà các thế lực điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước khác tính chuyện thôn tính, vì như thế mới bõ công sức của họ. Lúc đó người dân của xã hội đó có những tài sản mà dễ sang tên đổi chủ cho những người khác, có những tài sản dễ bị đánh cướp nhất bằng những thủ đoạn và phương tiện của kinh tế thị trường. Người ta thấy rằng khi một xã hội có thu nhập bình quân đầu người là khoảng 3000 đô la Mỹ/năm thì tình hình dễ có xung đột xã hội. Đó là thời điểm mà các cuộc tấn công kinh tế từ bên ngoài vào một nước được triển khai, vì đó là điều đáng bõ công làm đối với các trùm tư bản.

Đảng phải có cách bảo vệ các tài sản của nhân dân, bảo vệ các giá trị cổ phiếu cho nhân dân, bảo vệ các tài sản quốc gia, sao chuyển các giá trị tài sản từ các khu vực bị suy thoái sang những khu vực mới nhằm cứu vãn giá trị của các doanh nghiệp trước khi bị xế chiều. Những việc làm này của Đảng là vì quyền lợi của nhân dân, vì quyền lợi của quốc gia.

Trong mọi việc, công cuộc giáo dục toàn xã hội về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua sự phát triển tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là một công việc trung tâm, và cần có những hình thức phù hợp. Vấn đề là phải có bước tiến về bình diện hoạt động mới của xã hội, chiếm được các trận địa đó, rồi lùi lại hoặc thoái lui trên vấn đề cục bộ nào đó mà không sợ bị ảnh hưởng đến toàn cục, vẫn giữ được các thành quả chủ yếu của mình. Sự phát triển lý luận của Lênin đã làm được như vậy khi nhà nước của giai cấp vô sản đã đứng vững qua cuộc đấu tranh hết sức ác liệt với thù trong giặc ngoài thì nhà nước đó chủ động phát triển các hình thái của tư bản mà không sợ định hướng xã hội chủ nghĩa bị ảnh hưởng về lâu dài. Việc đảng độc quyền lãnh đạo phát triển chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô cũng vậy.

Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, đảng cách mạng phối hợp các hoạt động bí mật và công khai một cách nhuần nhuyễn, và thậm chí khi cần thiết, hay khi tình thế bắt buộc, sẵn sàng rút toàn bộ hoạt động của mình vào vòng bí mật. Trong cuộc đấu tranh giành thắng lợi về kinh tế, đảng cách mạng cũng phải phối hợp các hoạt động bí mật và công khai một cách nhuần nhuyễn. Không làm như vậy thì không thể thành công được, thậm chí không có phương tiện chống đỡ được các cuộc khủng hoảng do các thế lực thù địch bên ngoài gây ra, không có phương tiện chống đỡ các cuộc tấn công ăn cướp tài sản quốc gia, tài sản của các công dân nước mình do các thế lực tư bản gây ra.

Số lượt đọc:  397  -  Cập nhật lần cuối:  20/11/2008 09:37:58 AM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ