Cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng toàn cầu tiếp tục có những diễn biến phức tạp, ngoài tầm kiểm soát của nhiều quốc gia. Để giảm thiểu những tác động xấu từ cuộc khủng hoảng này, bên cạnh sự liên kết toàn cầu, mỗi quốc gia cũng đều đã có những động thái riêng để tự bảo vệ mình. Đối với Việt Nam, mặc dù chưa có những tác động trực tiếp tới hệ thống tài chính - tín dụng, nhưng những ảnh hưởng đến TTCK, xuất khẩu, hoạt động của doanh nghiệp... đã khá rõ nét. Lượng hoá và tìm ra giải pháp đương đầu với cuộc khủng hoảng này là những vấn đề mà PGS.TS Quách Đức Pháp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tài chính, Bộ Tài chính trao đổi với ĐTCK.
Ông đánh giá như thế nào về nguồn gốc và quy mô cuộc khủng hoảng này, cũng như những tác động của nó đến Việt Nam?
Sự suy thoái dẫn tới khủng hoảng tài chính của một nước, khu vực hay toàn cầu thường có hai nguyên nhân là khủng hoảng do chu kỳ kinh tế hoặc do yếu tố quản lý kém. Tôi cho rằng, cuộc khủng hoảng hiện nay phần nhiều mang tính chu kỳ. Do đó, chắc chắn nó sẽ có xu hướng dịch chuyển, lan rộng ra nhiều nước, nhiều khu vực, chưa dừng lại và sức tàn phá của nó sẽ rất khốc liệt nếu mỗi quốc gia, khu vực không có những động thái quyết liệt và hợp sức lại để đối phó. Bởi lĩnh vực tài chính - tín dụng, trong đó có chứng khoán là lĩnh vực rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương và cuốn theo yếu tố tâm lý.
Mặc dù hệ thống tài chính - ngân hàng của Việt Nam chưa bị ảnh hưởng trực tiếp, nhưng tác động của cuộc khủng hoảng đã bắt đầu "ngấm" vào nền kinh tế trong nước, gây nên những hệ luỵ như xuất khẩu bắt đầu suy giảm, thu ngân sách nhà nước tăng chậm lại... Bên cạnh đó, tác động thấy rõ là TTCK với mức sụt giảm rất lớn, tính thanh khoản yếu dần, nhà đầu tư thiếu lạc quan vào thị trường.
Một vấn đề khác cần lưu ý là từ đầu năm đến nay, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam liên tục xác lập kỷ lục mới. Xét trong điều điều kiện bình thường thì đây là một yếu tố tốt, thuận lợi cho nền kinh tế, thể hiện môi trường kinh doanh hấp dẫn. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, nếu số vốn này không được hấp thụ tốt, giải ngân có hiệu quả thì sẽ tạo nên một sức ép lớn lên nền kinh tế, trong lúc các yếu tố khách quan và chủ quan tiềm ẩn khá nhiều bất ổn.
Đó là những tác động trên thị trường tài chính - tín dụng, còn đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu?
Tác động đến thị trường tài chính - tín dụng thì chắc chắn sẽ tác động đến doanh nghiệp, nhưng tác động đến đâu cũng còn tuỳ vào từng ngành nghề. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam thường có một số yếu điểm là giá cả, chất lượng, mẫu mã chưa thực sự cạnh tranh tốt, đặc biệt là với hàng hoá của Trung Quốc. Thời gian trước, Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng hoá lớn và không quá khắt khe với hàng Việt Nam thì những tháng tới đây, do nền kinh tế gặp khó khăn, tiêu dùng của họ cũng giảm thiểu. Đó là những tác động tiêu cực trực tiếp tới hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu. Còn đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá trong nước, chắc chắn cũng sẽ chịu ảnh hưởng theo nguyên tắc "bình thông nhau". Bởi đa số doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu lại tiêu dùng các sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất hàng trong nước. Như vậy, nếu thị trường xuất khẩu bị thu hẹp thì hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước cũng sẽ bị tác động. Cộng thêm vào đó, khi TTCK thiếu ổn định thì các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc huy động vốn để đầu tư phát triển.
Vậy theo ông, giải pháp đối phó với thực trạng khó khăn trong giai đoạn này là gì?
Thời gian gần đây, số lượng doanh nghiệp trong nước đã tăng rất nhanh, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa; hệ thống tổ chức tài chính - tín dụng, chứng khoán cũng bùng nổ. Nhưng thực tế quy mô hoạt động của các tổ chức này không lớn, vốn nhỏ, phần lớn lại yếu về kỹ năng quản trị, nên khi "ra biển lớn", các doanh nghiệp của Việt Nam thường lép vế, thậm chí, lẽ ra phải cạnh tranh với những đối thủ lớn từ nước ngoài thì không ít doanh nghiệp Việt Nam lại ra sức cạnh tranh thiếu lành mạnh với nhau. Vì vậy, trong lúc còn chưa quá muộn, các tổ chức tài chính - tín dụng, doanh nghiệp quy mô nhỏ, vốn điều lệ thấp nên chủ động hợp tác, liên kết, thậm chí sáp nhập, nhằm hợp lực, tăng sức mạnh nội lực, cũng như khả năng cạnh tranh và trước mắt là hạn chế được những rủi ro từ nguy cơ khủng hoảng tài chính đang lan rộng. Đó chắc chắn cũng là xu hướng phát triển tất yếu của các doanh nghiệp để trở thành các tập đoàn kinh tế lớn, các công ty xuyên quốc gia trong tương lai. Số lượt đọc:
41
-
Cập nhật lần cuối:
28/11/2008 10:09:09 AM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|