Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tài chính - Ngân hàng  Chứng khoán  Đầu tư  Bảo hiểm  Bất động sản  Lao động  Hàng hóa, Dịch vụ  Pháp luật

Những điểm mới về kinh tế và lạm phát trong nửa đầu năm 2008 và triển vọng

Ts. Nguyễn Minh Phong

Tạp chí Ngân hàng
Gửi email  Bản in 
10:51' AM - Thứ bảy, 13/09/2008

Về các giai đoạn lạm phát ở Việt Nam

Nhìn nhận về lạm phát ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay thì đã thành một quá trình có nhiều giai đoạn với những động thái khác nhau, các nguyên nhân có ít nhiều sự giống và khác nhau, duy có nhận thức và cách thức chống lạm phát của ta hiện nay dường như chưa có sự phát triển bao nhiêu, thậm chí có phần bất cập và bước lùi so với giai đoạn 1992-2000, nhất là về quản lý giá cả và lãi suất . . . Có thể nêu ra những điểm giống và khác nhau giữa lạm phát giai đoạn hiện nay và lạm phát thời kỳ trước chúng ta đã từng trái qua.

Có thể chia diễn biến quá trình chống lạm phát ở Việt Nam từ năm 1976 (năm đầu tiên thống nhất cả nước) đến nay ra làm 4 thời kỳ sau:

Thời kỳ thứ nhất, từ 1976 đến 1980: Thời kỳ lạm phát "ẩn"- được thể hiện ở sự khan hiếm hàng hóa, dịch vụ và sự giám sút chất lượng của chúng; Giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên thị trường xã hội tăng ớ mức trên dưới 20%/ năm.

Thời kỳ thứ hai, từ năm 1981 dến 1988: Thời kỳ lạm phát đã chuyển từ dạng “ẩn” sang dạng “mở”, song vẫn chưa được thừa nhận chính thức. Vấn đề lạm phát chỉ được quy vào xử lý các khía cạnh “giá - lương - tiền” và chủ yếu bằng các giải pháp hành chính, như điều chỉnh giá cả và “bù giá vào lương”, đổi tiền VV đây là thời kỳ xuất hiện siêu lạm phát với 3 chữ số kéo dài suốt 3 năm (1986- 1987-1988) và đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử kinh tế hiện đại nước ta suốt nửa thế kỷ nay.

Thời kỳ thứ ba, từ tháng 5/1988 đến năm 1991 : Lần đầu tiên lạm phát được chính thức thừa nhận bằng Nghị quyết số 11 về đấu tranh với lạm phát của Trung ương ĐCSVN. Các biện pháp chống lạm phát được gắn với quá trình đổi mới, thực hiện các cải cách thị trường ở Việt Nam. Song chúng mới ở dạng thử nghiệm, chưa đồng bộ, ngập ngừng, lúc tiến, tức lùi, với những đợt “sốc” nhỏ, đã thu được thành công đáng kể năm 1989, sau đó bị chững lại do tình hình trong nước và quốc tế có biến động mạnh.

Thời kỳ thứ tư, từ cuối năm 1991 đến nay: Thời kỳ mà chống lạm phát được đưa lên vị trí hàng đầu, gắn quyện hữu cơ với các chính sách vĩ mô khác, đồng thời đặt trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Kết quả thu được là khả quan và khá vững chắc, với 3 biện pháp quan trọng nhất: Thứ nhất, thực hiện giá cả thị trường có sự điều chỉnh một phần của nhà nước ; Thứ hai, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, đi đôi với cải tổ và lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng theo nguyên tắc thị rường; Thứ ba, tụ do hoá nền kinh tế, khuyến khích các đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, đi đôi với cải tổ khu vực kinh tế nhà nước , thực hiện cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Ngoài ra, những thành công về ổn định hoá kinh tế - xã hội và chiến thắng lạm phát ở nước ta còn nhờ vào sức chịu đựng cao và những đặc điểm tâm lý - xã hội truyền thống tốt đẹp khác của nhân dân Việt Nam.

Cần nhấn mạnh rằng, trong 2 năm 2007 và 2008, lạm phát ớ nước ta có một số động thái nhân tố mới, phức tạp với tốc độ tăng chung cao hơn và nhiều kịch tính hơn so với hơn mười năm qua.

Tuy nhiên, về tổng thể, sẽ không có lạm phát phi mã tiêu cực hoặc đột biến nguy hiểm lớn, gây đổ vỡ hay ngưng trệ nền kinh tế nước ta.

Diểm mới và triển vọng của kinh tế và lạm phát nửa đầu năm 2008

Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm nay có nhiều điểm nhấn, rất nhiều "cái nhất", so với thời kỳ 15 - 16 năm gần đây (cả những cái nhất về tiêu cực và cái nhất về tích cực):

Biểu hiện tiêu cực thứ nhất là chỉ số lạm phát tăng cao, đủ cơn sốt tăng giá đã có dấu hiệu hạ nhiệt trong những tháng gần đây.

Biểu hiện tiêu cực thứ hainhập siêu cao nhất, trong đó có một số khuynh hướng được cho là rất đáng báo động mà chúng ta ít để ý, đó là nhập siêu cả những mặt hàng đáng lẽ phải xuất khẩu. Ví dụ, sẽ nhập (hay là đang nhập) nguyên liệu thuỷ sản trị giá gần 2 tỷ USD hàng năm để chế biến xuất khẩu lại, hay là nguy cơ nhập than, nhập muối, nhập gạo, nhập gà, lợn, nhập gỗ…Tức là những cái chúng ta tưởng là thế mạnh, thì nay lại bắt đầu trở thành xu hướng nhập. Đây là dấu hiệu rất đáng báo động.

Biểu hiện tiêu cực thứ banhững cơn sốt rất nguy hiểm, không hoàn toàn bắt nguồn từ thực trạng nền kinh tế, mà nhiều hơn là từ chất lượng quản lý kinh tế. Ví dụ, cơn sốt giá gạo, rõ ràng hoàn toàn do quản lý (do điều phối) . Hay cơn sốt đola, cơn sốt nóng - lạnh mạnh của thị trường chứng khoán. Biểu hiện tiêu cực thứ tư là lượng người nghèo tăng gấp đôi năm ngoái. Chính phủ vừa điều chỉnh chỉ tiêu nghèo theo mức mới , nếu xét theo chuẩn nghèo mới này thì lượng người nghèo trên thực tế còn nhiều hơn nữa.

Tuy nhiên, trong nhà đầu năm 2008 có một điểm nhấn tích cực rất căn bản, đó là ý thức phê phán hiệu quả đầu tư công rất mạnh và FDI đang có những dấu hiệu rất tốt, đặc biệt kết quả thu hút FDI đạt mức kỷ lục chưa từng có trong lịch sứ đất nước: Vốn đăng ký trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt 31,6 tỷ USD, gấp 3,7 lần cùng kỳ năm trước, vượt 48% so với mức 21,3 tỷ USD của cả năm 2007... Riêng tháng 7/2008 FDI đăng ký đạt tới ký lục mới 14,1 tỷ USD, tức bằng hơn 43% tổng FDI đăng ký 6 tháng đầu năm 2008 đưa tổng FDI đăng ký 7 tháng đầu năm 2008 sẽ đạt 45,7 tỷ USD, tức gấp hơn 2 lần mức năm 2007 và bằng hơn 80% tổng cộng vốn FDI đăng ký của các năm từ 1988 đến hết 2005 ( là 6.936 dự án với số vốn đăng ký 54.573 triệu USD, số vốn thực hiện 30.425 triệu USD, đạt tỷ lệ 55,8%)…

Dòng đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng có dấu hiệu gia tăng trở lại, nhất là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng (tỷ trọng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng đang chiếm khoảng 20% thị phần ttck Việt Nam). Hơn nữa, cần nhấn mạnh rằng, thực tế cho thấy đang và sẽ xuất hiện ngày càng nhiều dự án FDI siêu lớn tới hàng chục tỷ USD, cũng như sẽ có sự gia tăng các dự án phát triển công nghiệp phụ trợ và phát triển khu vực dịch vụ, nhất là dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao, tạo sự thay đổi về chất trong quá trình mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cũng như thể hiện hùng hồn nhất sự tin tưởng vào triển vọng tốt đẹp của nền kinh tế Việt Nam từ cộng đồng doanh nhân thế giới.

Trong bức tranh tổng quát kinh tế và lạm phát ở nước ta trước mắt có một số điểm đáng chú ý lớn như sau:

Một là, kinh tế sẽ chậm lại, ít nhất trong vòng 1 đến 2 năm nữa, thậm chí không loại trừ những yếu tố và biểu hiện có sự đình trệ nhất định, nếu không biết và không tập trung khai thác phát triển theo chiều rộng, gia tăng đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, nhất là FDI...

Hai là, lạm phát của năm 2008 sẽ tiếp tục tăng, thậm chí tăng gấp hơn 2 lần so với 2007, và sẽ còn tiếp diễn…

Về các lát cắt giá cả thị trường sẽ có 2 xu hướng: Xu hướng tăng ở những hàng ngoại nhập, mang tính chất nguyên liệu không tái sinh (dầu) và những nguyên liệu mang tính chất độc quyền hay sản phẩm độc quyền (thuố). Xu hướng giảm ở những mặt hàng cạnh tranh tự do và đầy đủ, những mặt hàng giảm thuế theo WTO, những mặt hàng giảm theo xu hướng phát triển ngành, như công nghệ thông tin, sản phẩm điện tử…

Ở một số thị trường, như thị trường bất động sản, không đình trệ, không suy sụp, mà ổn định nhẹ và có tăng trưởng mạnh ở những thị trường tiềm năng, ví dụ thị trường văn phòng cho thuê và nhà cho người thu có nhập thấp. Thị trường dịch vụ cũng sẽ phát triển, vì đây là nơi đầu tư ít, phát triển nhanh và phù hợp xu hướng phát triển chung của thế giới và chuyển đồi cơ cấu của Việt Nam. Còn các thị trường, các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao thì chuyển đối rất lâu, đầu tư rất lớn nên chậm điều chỉnh hơn. Thị trường chứng khoán có sự nhúc nhích chứ không tăng vọt, nếu không có 2 yếu tố sau: một là, những động thái mới về hàng mới, hàng chất lượng cao, hai là, gia tăng mức độ tự do hóa tài chính, vốn nước ngoài đổ vào mạnh mẽ hơn. Nếu không, các động thái trên thị trường này chỉ là sự du di cân đối nội bộ thôi.

Cuối cùng, điểm cần nhấn mạnh là khó khăn tới đây sẽ nặng nề hơn đối với khu vực doanh nghiệp và các ngân hàng, có liên quan trước hết đến các quá trình huy động vốn vay và trả nợ vốn vay.

Kiềm chế lạm phát từ góc độ quản trị doanh nghiệp

Từ góc độ quản trị doanh nghiệp, để kiềm chế lạm phát hiệu quả, cần chú ý:

Thứ nhất, về mặt tài chính:

- Giảm phí, chi phí trung gian và chi phí không chính thức , giúp giảm chi phí đầu vào của doanh nghiệp (bằng những quy định cứng, rõ ràng, minh bạch và có kiểm tra thường xuyên).

- Thắt chặt hơn nữa đầu tư công, trong đó phải làm rõ được 3 yếu tố: tiêu chí, cơ chế thực hiện, chế tài và kiểm soát lợi ích gắn liền việc cắt giảm, giãn tiến độ các dự án đầu tư từ NSNN . . . Hiện mới có chủ trương, chưa có tiêu chí rõ ràng, chế tài cũng chưa có hoặc chưa đủ hiệu lực . . . Cần sớm triển khai bước chuyển chiến lược trọng tâm đầu tư phát triển từ khu vực nhà nước bấy lâu nay (vốn kém hiệu quả) sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Các doanh nghiệp Nhà nước đã, đang và tiếp tục trực tiếp và gián tiếp gây xung lực gia tăng lạm phát ở nước ta, cả lạm phát tiền tệ, lạm phát chi phí đẩy và lạm phát cơ cấu (hiện nay, chúng chiếm hơn 50% tổng đầu tư tín dụng Nhà nước, hơn 70% đầu tư phát triển xã hội, hơn 80% tổng dư nợ tín dụng ngân hàng thương mại, cỡ khoảng 500.000 tỷ đồng, bằng 1,5 lần tổng dự trữ ngoại tệ mà chúng ta tự hào tuyên bố là đủ sức đề giữ vững tỷ giá nếu có biến động. Ở Thái Lan, khi biến động tỷ giá hồi năm 1998 thì 1 ngày là Ngân hàng Trung ương Thái Lan phải tung ra mất 20 tỷ USD để duy trì mức tỷ giá mong muốn, cuối cùng không chịu nổi, phải buông tỷ giá đồng Bát trôi nổi theo thị trường).

- Phát triển một thị trường vốn đa dạng hơn và có tính thị trường thực chất hơn, bao gồm các loại công ty và quỹ đầu tư trong đó có 1 nhiều loại quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ bảo lãnh, kể cả quỹ tư nhân.

Thứ hai, về mặt tiền tệ:

- Cơ chế quản lý tỷ giá VND phải mềm hơn, theo hướng trả đồng tiền về đúng giá trị thực. 20 năm nay, ta định giá đồng tiềncủa mình quá cao. Không như Trung Quốc, bị ép bằng chết mà vẫn không nâng giá đồng tiền lên, còn chúng ta "tự nguyện" định giá đồng tiền cao, như một niềm tự hào dân tộc thầm lặng và cả do vì một số lợi ích (về trả nợ, về giảm giá nhập thiết bị, vật tư. . .).

Một ví dụ về tỷ giá cố định và chính sách tỷ giá làm đồng tiền tăng lên, 2 năm vừa rồi lạm phát ở Việt Nam xấp xỉ 30% thì ở Mỹ chỉ lạm phát chưa đến 7%, trừ chênh lệch đi đồng tiền của chúng ta bị đắt lên ít nhất 20% do tỷ giá VND gắn chặt và hầu như không đổi so với USD. Rõ ràng, xu hướng cố định tỷ giá và ngày càng tăng giá trị đồng bản tệ đã, đang và sẽ tiếp tục khiến chi phí sản xuất của doanh nghiệp đắt đỏ, sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu kém đi và nhập siêu kéo dài.

Năm nay, đặc biệt khi ngân hàng vào cuộc chống lạm phát, lại có chính sách 2 tỷ giá, lặp lại thời kỳ 1986-1990. Chính sách áp đặt tỷ giá có 2 mặt của nó: có thể tạo ra ổn định hình thức giá trị VND và một số lợi ích khác, nhưng lại làm lệch giá, tái tạo lại tình trạng chợ đen và đầu cơ tiền tệ, đặc biệt là làm tăng rủi ro tỷ giá cho doanh nghiệp.Ví dụ, một doanh nghiệp vay 100.000 USD, khi trả, ngân hàng không nhận bằng USD, bắt phải bán USD theo tỷ giá thấp, rồi mua theo tỷ giá cao, lỗ mấy trăm triệu đồng. Đấy là ví dụ khá điển hình cho việc ngân hàng độc quyền, gây sức ép cho doanh nghiệp.

- Kiên trì chính sách lãi suất nhằm phục vụ trước hết là mục tiêu giảm lạm phát nhưng không quá cao, đặc biệt cần giảm chi phí trung gian của khu vực ngân hàng để tăng tính chia sẻ trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp. Trong thời gian vừa qua, ngân hàng thương mại "ăn" rất "dày",... Đọc báo cáo tài chính thấy ngân hàng thương mại nào cũng có lãi, thậm chí hàng ngàn tỷ đồng. Không phải vô cớ mà năm 2007 có phong trào thành lập ngân hàng mới.

Thứ ba, về cạnh tranh, quản lý thị trường và các vấn đề khác:

- Thông tin cần đa dạng hơn, nhiều chiều, đảm bảo dân chủ và tăng thêm vai trò phản biện xã hội của các hiệp hội và tổ chức xã hội. Tăng số và chất lượng thông tin phát ngôn chính thức, thông tin của doanh nghiệp, nhất là của doanh nghiệp Nhà nước . Hiện nay, nhiều DNNN và các công ty niêm yết trên TTCK thích sử dụng nghiệp vụ kế toán chuyển hoặc treo lỗ, nên báo cáo tài chính rất đẹp và ảo. Nếu khu vực doanh nghiệp và các số liệu thống kê nhà nước đưa thông tin sai thì điều hành Chính phủ sai , dễ tạo ra sự hỗn loạn và đổ vỡ bất ngờ nào đó, chí ít cũng làm giảm hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế và chống lạm phát. Thông tin phải minh bạch và chính sách phải ổn định, được hoàn thiện dần theo hướng có thể dự báo được. Tăng chất lượng và vai trò dự báo về tác động 2 mặt của chính sách, được đưa ra bởi đội ngũ chuyên nghiệp, có phản biện khoa học …

Khu vực doanh nghiệp cần được tăng cường tái cấu trúc theo hướng đa sở hữu, đồng thời khuyến khích phát triển tập đoàn theo nguyên tắc thị trường, đủ sức cạnh tranh quốc gia và thế giới. Thời gian gần đây, ít nhiều ta ủng hộ tư nhân. Nhưng trong tư tưởng chỉ đạo chiến lược , dường như vẫn chưa bật đèn xanh cho các tập đoàn tư nhân phát triển, mà vẫn nặng về tập đoàn Nhà nước. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ lớn một chút thì được, lớn nữa là sẽ gặp nhiều cái khó. Cần có "điều chỉnh" trong tư duy, khuyến khích tạo ra tập đoàn tư nhân lớn, đủ sức cạnh tranh tầm quốc gia và thế giới. Với doanh nghiệp nhỏ, nên có sự đổi mới công nghệ, định hướng phát triển và tiêu chuẩn hóa quản trị doanh nghiệp. Đặc biệt, cần đảm bảo tính ổn định hệ thống, nhất là trong tái cấu trúc liên quan đến khu vực tài chính - ngân hàng v.v . . . Ngoài ra, còn cần chú ý xử lý tốt các vấn đề liên quan đến mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, bảo hiểm thắt nghiệp, an sinh xã hội.

- Tự do hóa và phát triển cạnh tranh thị trường, thúc đẩy sớm hơn nếu có thể quá trình tự do hóa theo khuôn khổ WTO. Những lĩnh vực không cần độc quyền vì không nhạy cám thì nên mở sớm và nhanh hơn nữa, ngay cả kinh doanh xăng, dầu, điện , thuốc, . . . Bài học phát triển ngành viễn thông và công nghiệp mô vẫn còn nóng lắm cho các lĩnh vực đang có mức độc quyền cao ở nước ta. Nên mở cửa mạnh hơn nữa về tài chính, để nước ngoài họ vào. Khi luồng vốn trong nước đã hạn hẹp và không được sử dụng hiệu quả, thì càng phải mở cửa cho nước ngoài, nếu không sẽ có đình trệ, ách tắc không cần thiết.

- Tăng phạt hành chính những vi phạm về giá cả, chống đầu cơ và lũng đoạn chống lobby mang tính chất ngành và doanh nghiệp.

- Thực hiện nghiêm việc đấu thầu thực chất các dự án, đặc biệt là được tài trợ bằng các nguồn lực công, cũng như các hoạt động mua sắm chi từ nguồn đầu tư công; Cho các khu vực doanh nghiệp tham gia rộng rãi, bình đăng, chứ không phải chỉ khép kín trong khu vực Nhà nước với nhau. Cơ quan chủ quản và chủ đầu tư không thể vừa lập dự án , vừa “tuýt còi” cho các doanh nghiệp nào đó vào. Dự án vì lợi ích công, thì tất cả ai có đủ năng lực và tiêu chuẩn phù hợp đều có quyền cạnh tranh thực hiện.

- Trong vấn đề kiểm soát thị trường, chú ý đến liều lượng, thời lượng, chính sách bổ trợ khi xây dựng và thực thi những giải pháp đã, đang và sẽ triền khai . Bất kỳ chính sách nào cũng có 2 mặt của nó, vì vậy phải lưu ý dự báo trước, chuẩn bị trước phương án, xác định cơ chế phản hồi, phán biện, tiếp thu và không ngừng hoàn chỉnh, để phát huy mặt tích cực, giảm tiêu cực của các chính sách được lựa chọn.

Coi trọng hơn nữa việc chống tham nhũng, sử dụng người tài, xây dựng và thống nhất một hệ giá trị chuẩn quốc gia, cả về chính trị, kinh tế, xã hội, để tăng cường lòng tin và sự đồng thuận xã hội, đảm bảo tất cả chính sách, tất cả những gì chúng ta phân biệt đúng- sai phải theo chuẩn mực chung, tránh bị ngộ nhận hoặc bị nhiễu về chân giá trị. Có mối liên hệ trực tiếp giữa tham nhũng và lạm phát ở Việt Nam. Ví dụ, khu vực doanh nghiệp Nhà nước, khu vực ngân hàng thương mại Nhà nước và khu vực quan chức gắn kết thành một tam giác. Tam giác này định hướng rất lớn phần vốn xã hội, 80% tín dụng thương mại ngân hàng ở Việt Nam bị định hướng bởi khu vực này. Nếu có sự tham nhũng tập thể trong tam giác này, sẽ tạo ra sự lệch hướng rất lớn những nguồn vốn cần thiết cua quốc gia không vào nơi cần thiết, tạo ra thất thoát lớn. Đây chính là một nguồn gốc chủ yếu của lạm phát, trước hết là lạm phát chi phí đẩy và lạm phát cơ cấu v.v . . .

Tham nhũng liên quan đến lạm phát vì còn làm tăng chi phí của doanh nghiệp, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, làm lệch các nguồn lực cần thiết vào những nơi cần thiết, giảm hiệu quả đầu tư công, giảm hiệu quả của chính sách, tăng áp lực của lạm phát và phát triển thiếu bền vững. Tham nhũng trong công tác tổ chức-cán bộ còn mang lại sự nguy hại to lớn và lâu dài hơn nữa cho đất nước, vì chúng không chỉ tạo ra và dung dưỡng những kẻ ăn bám, phá hoại, làm giảm năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước trong phát triển KT-XH và chống lạm phát, mà còn làm xói mòn lòng tin, hủy hoại các nguồn lực quốc gia, làm bạn bè thế giới xa lánh và đổ vỡ khối đại đoàn kết dân tộc...Vì vậy, Nhà nước cần xây dựng một cơ chế chống tham nhũng thực chất hơn, dân chủ hơn, kiên quyết và hiệu quả hơn. Trong lạm phát, mọi người càng cảm nhận được tính cấp thiết của điều này. Đó cũng là một cơ hội mới tích cực mà lạm phát tạo ra nên được tận dụng .

Số lượt đọc:  717  -  Cập nhật lần cuối:  10/12/2008 03:01:00 PM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ