Hai năm sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sự xuất hiện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nước ngoài và đặc biệt của ba ngân hàng 100% vốn nước ngoài trong năm 2008 cho thấy sức hấp dẫn của thị trường vốn Việt Nam. Sức nóng cạnh tranh trên lĩnh vực tài chính-ngân hàng dự báo sẽ ngày càng tăng lên trong năm 2009.
Tăng sự hiện diện
Hiện đã có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, được đối xử bình đẳng như ngân hàng trong nước theo cam kết WTO. HSBC là ngân hàng đầu tiên đi vào hoạt động ngày trong những ngày đầu tiên của năm mới 2009.
Trong 5 ngân hàng này, thì ngân hàng TNHH một thành viên Shinhan Việt Nam (Hàn Quốc) và Hong Leong Bank Việt Nam (Malaysia) còn khá mới lạ với người dân Việt Nam, còn ba cái tên HSBC, ANZ và Standard Chartered đã được khá nhiều người biết tới.
Theo Ngân hàng Nhà nước, trong năm 2008, tỷ lệ nợ xấu nói chung của cả khối ngân hàng ngoại tăng so với năm 2007, tuy nhiên mức tăng không đáng kể. Về tổng thu nhập trước thuế, mặc dù có một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài và công ty tài chính bị lỗ nhưng lợi nhuận trước thuế của cả khối là 1.418 tỷ đồng.
Nếu nhìn vào con số lãi hơn 1.400 tỷ đồng so với số lượng các tổ chức tín dụng nước ngoài có mặt tại Việt Nam thì không có gì đáng nói, nhưng điều đáng nói ở đây là hầu hết các tổ chức tín dụng này đều mới có mặt ở Việt Nam sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/1/2007.
Thông thường, một ngân hàng mới thành lập phải bỏ chi phí lớn đầu tư, mở rộng mạng lưới kinh doanh, quảng bá hình ảnh mà đã có lãi ngay như các ngân hàng ngoại là điều đáng chú ý.
Trong năm 2008, các ngân hàng nước ngoài cũng tích cực mở rộng kinh doanh tại Việt Nam, chỉ trong 10 tháng đầu năm 2008, tổng mức huy động vốn của họ đã tăng gấp rưỡi so với năm 2007.
Tuy nhiên, con số lợi nhuận của các ngân hàng nội và ngoại trong năm qua chỉ nói lên một phần nhỏ về sức nóng cạnh tranh đang ngày càng tăng lên trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam. Đặc biệt là trong năm tới, khi các ngân hàng ngoại có thể cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng nội, thay vì hoạt động bó hẹp khi còn là một chi nhánh của ngân hàng mẹ ở nước ngoài.
Đối đầu trực tiếp-mối lo dài hạn
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy mô vốn của các ngân hàng Việt Nam hiện vẫn còn nhỏ, ngay cả ngân hàng có quy mô vốn lớn nhất Việt Nam là Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) cũng mới chỉ là 650 triệu USD (11.000 tỷ đồng), vẫn thấp so với các nước trong khu vực. Còn trong số gần 40 ngân hàng thương mại cổ phần, số có vốn trên 200 triệu USD (3.400 tỷ đồng) cũng mới đếm trên đầu ngón tay và không nhiều trong số này có trang bị hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking).
Trong khi đó, đơn cử ngân hàng con của HSBC tại Việt Nam đã có vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng, đủ cho họ hoạt động đến hết năm 2010 mà không phải lo tăng vốn theo như quy định của Ngân hàng Nhà nước (có vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010). Đó là chưa kể tới tiềm lực tài chính rất mạnh từ ngân hàng mẹ ở nước ngoài.
Bên cạnh đó, tâm lý chuộng ngoại của người Việt Nam cũng là một trong những khó khăn của ngân hàng nội. Chi nhánh của Ngân hàng ANZ tại phố Lý Thái Tổ (Hà Nội), mặc dù là điểm giao dịch nhỏ nhưng vẫn có rất nhiều khách hàng người Việt giao dịch. Bởi nhu cầu của nhiều người Việt Nam hiện nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi sử dụng các dịch vụ thanh toán tại Việt Nam mà còn sử dụng những dịch vụ thanh toán quốc tế, điều này thì những ngân hàng Việt Nam chưa thực sự thuận tiện.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia nói như vậy không có nghĩa là các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ bị mất ngay thị phần trong năm tới. Để đối mặt với những nguy cơ từ bên ngoài, trong năm qua, các ngân hàng Việt Nam cũng đã tự nâng cao nội lực bằng cách liên kết lại với nhau. Cụ thể nhất là các ngân hàng thương mại đã thống nhất kết nối hệ thống thanh toán thẻ ATM.
Mặt khác, mặc dù gặp nhiều khó khăn do bị ảnh hưởng từ tình hình kinh tế trong và ngoài nước, nhưng các ngân hàng nội cũng liên tục mở rộng thị phần, mở thêm chi nhánh. Ngân hàng Á Châu (ACB) đã mở thêm 185 chi nhánh và phòng giao dịch trong năm 2008; Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (Sacombank) đã mở thêm hàng chục chi nhánh và hiện có 244 chi nhánh, phòng giao dịch tại Việt Nam, Sacombank còn mở thêm cả chi nhánh bên Lào và văn phòng đại diện tại Trung Quốc.
Các ngân hàng nội cũng tích cực tăng vốn điều lệ, đến nay Ngân hàng Á Châu (ACB) đã tăng vốn lên 6.000 tỷ đồng, Eximbank 7.000 tỷ đồng, Sacombank trên 5.000 tỷ đồng.
Theo nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sỹ Kiêm cạnh tranh giữa ngân hàng nội và ngoại là xu thế tất yếu. Có thể, trong năm 2009 các ngân hàng ngoại chưa thể áp đảo ngay được các ngân hàng Việt Nam vì họ chưa quen khách hàng, hệ thống pháp luật Việt Nam nhưng nếu trong tương lai dài hạn, các ngân hàng nội không tự củng cố tiềm lực hoặc tìm ra cho mình những hướng phát triển riêng thì có thể phải chịu cảnh thua trên sân nhà. Đặc biệt là những ngân hàng hoạt động ở các thành phố lớn, cho vay những khoản lên tới hàng trăm triệu USD mà không có đủ tiềm lực thì khó có thể đáp ứng kịp.
Đến nay, đã có 22 quốc gia và vùng lãnh thổ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép hiện diện thương mại hoặc đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam với 33 ngân hàng được cấp phép mở chi nhánh; 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 5 ngân hàng liên doanh với 19 chi nhánh trực thuộc; 9 tổ chức tín dụng phi ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài và 54 văn phòng đại diện.
Số lượt đọc:
733
-
Cập nhật lần cuối:
13/01/2009 11:00:01 AM |