Nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ thị trường tài chính Mỹ đang được Chính phủ cá nước đặc biệt quan tâm. Dư chấn của nó tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực kinh tế nhạy cảm của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế mở. Việt Nam cũng là một trong những nền kinh tế không nằm ngoài vùng dư chấn này, tuy nhiên mức độ và tầm ảnh hưởng là không lớn.
Từ khủng hoảng Tài chính Mỹ…
Những biến động lớn của nền kinh tế thế giới bắt đầu xảy ra từ quí III/2007, khi thị trường tín dụng BĐS của Mỹ rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nguyên nhân chính của những đổ vỡ này là do chính sách nới lỏng tiền tệ của Chính phủ Mỹ từ năm 2001 (lãi suất hạ xuống mức 1%), tăng trưởng tín dụng BĐS thông qua phát hành các sản phẩm tài chính phái sinh, đặc biệt của các ngân hàng đầu tư Mỹ (không chịu sự kiểm soát và giám sát thường xuyên của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - FED). Các ngân hàng cũng đã hạ thấp các tiêu chuẩn cho vay dẫn đến thị trường tín dụng BĐS phát triển nóng.
Khi Chính phủ Mỹ tăng lãi suất trở lại (từ năm 2005) để đối phó với lạm phát do giá dầu tăng cao từ sau cuộc chiến tranh I-rắc, thị trường BĐS Mỹ có dấu hiệu đổ vỡ, các ngân hàng bắt đầu xiết chặt tín dụng khiến nhiều người vay tiền để mua BĐS đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Do không thu được nợ, các ngân hàng cũng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản, giảm lợi nhuận, thậm chí phá sản. Kể từ tháng 8/2007, khi cuộc khủng hoảng tín dụng BĐS dưới chuẩn (sub-prime crisis) bùng nổ, các thị trường tài chính không chỉ ở Mỹ, Anh, EU, Nhật Bản và Trung Quốc luôn bị biến động mạnh, giá dầu và giá vàng tăng vọt; Đồng USD liên tục mất giá.
Từ giữa Quý IV/2007, thị trường tài chính thế giới vẫn hy vọng nền kinh tế Mỹ nói chung, cũng như hệ thống tài chính của Mỹ nói riêng, sẽ vượt được qua những khó khăn, nhờ các đối sách khắc phục hậu quả cuộc khủng hoảng tín dụng BĐS dưới chuẩn (chính sách tiền tệ nới lỏng của FED - hạ lãi suất, bơm tiền cho hệ thống ngân hàng và chính sách khuyến khích tiêu dùng thông qua giảm thuế). Đặc biệt, niềm tin càng trở nên mạnh mẽ kể từ giữa năm 2008, khi các thị trường tài chính có dấu hiệu ổn định hơn, đồng USD phục hồi, giá dầu và giá vàng giảm. Bộ Tài chính Mỹ và Quỹ tiền tệ Quốc tế đã từng có nhận định cuộc khủng hoảng đang đi đến hồi kết.
Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tín dụng BĐS dưới chuẩn, nguồn tín dụng bị thu hẹp và các nhà đầu tư thận trọng hơn với các sản phẩm tài chính phái sinh dẫn đến nguồn vốn đầu tư vào BĐS tiếp tục giảm sút mạnh. Giá nhà đất tại Mỹ vẫn tiếp tục suy giảm và kéo thị trường chứng khoán đi xuống.
Tình trạng vỡ nợ của nhà đầu tư BĐS tăng vọt khiến thu nhập của các công ty thuộc lĩnh vực tài chính, các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư Mỹ sụt giảm thậm chí gia tăng lỗ từ hoạt động kinh doanh, đồng thời các yêu cầu về tài sản đảm bảo gia tăng đã đẩy nhiều công ty đứng trước bờ vực phá sản. Cuộc khủng hoảng đạt đỉnh điểm khi Chính phủ Mỹ phải chi 200 tỷ USD để tiếp quản 2 tổ chức cho vay BĐS lớn nhất Mỹ là Fannie Mae và Freddie Mac; chi 85 tỷ USD để kiểm soát và đảm báo thanh khoản cho Tập đoàn bảo hiểm AIG.
Chính phủ Mỹ cũng chấp nhận để Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản, Merill Lynch sáp nhập với Bank of America. Hai ngân hàng đầu tư còn lại là Goldman Sachs và Morgan Stanley được Fed cho phép chuyển đổi từ mô hình ngân hàng đầu tư thành ngân hàng thương mại đa năng để có thể thu hút tiền gửi tiết kiệm và tiếp cận tới các khoản vay khẩn cấp của Fed.
Ủy ban Chứng khoán Mỹ phải hạn chế việc bán khống đối với 799 cổ phiếu ngành tài chính. Ngay sau khi Hạ viện Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính của Chính phủ Mỹ cho phép Bộ Tài chính dùng ngân sách mua lại các khoản nợ xấu của thị trường thế chấp với trị giá 700 tỷ USD nhằm hỗ trợ thanh khoản và tránh đổ vỡ hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán Mỹ đã mất điểm thảm hại trong ngày thứ hai đen tối (29/9/2008). Sự sụt giảm của thị trường Mỹ đã kéo theo sự sụt giảm của cả thị trường chứng khoán châu Âu và châu Á.
Kể từ sau phiên giảm điểm ngày 29/9/2008 cho đến 28/10/2008, bất chấp những nỗ lực của thị trường Mỹ (Quốc hội Mỹ cuối cùng đã thông qua kế hoạch giải cứu trị giá 700 tỷ đôla) và các nỗ lực của các thị trường chứng khoán Châu Âu và Châu Á để cùng đưa ra những giải pháp và cam kết hỗ trợ thị trường tài chính và chứng khoán, khủng hoảng đang dường như ngày càng lấn sâu và chưa có dấu hiệu dừng lại.
Chỉ riêng trong tuần thứ hai của tháng 10/2008, chỉ số Down Jones đã giảm 19,51%, S&P 500 giảm 19,52%, Nasdaq giảm 16,17%, TSE 100 (Anh) giảm 22.,4%, AX (Đức) giảm 23,61%, CAC 40 (Pháp) giảm 24,08%, Nikkei 225 (Nhật) giảm 26,78%, Hangseng (Hongkong) giảm 23,64%.
... Ảnh hưởng đến thị trường tài chính thế giới
Ngay khi thị trường tài chính của quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới có dấu hiệu rơi vào vòng xoáy khủng hoảng, ngay lập tức hiệu ứng khủng hoảng của nó đã lan nhanh và ảnh hưởng đến hầu hết đến các quốc gia trên thế giới:
Thứ nhất, những đổ vỡ trên thị trường tài chính Mỹ đã làm cho giới đầu tư trên toàn thế giới hoảng loạn. Nguyên nhân sâu xa là tình trạng phát triển bong bóng của thị trường tài chính, trong đó tập trung chính là thị trường tín dụng BĐS và chứng khoán hóa các khoản tín dụng BĐS. Khi nền kinh tế bước vào thời kỳ suy thoái, kinh tế khó khăn, giá BĐS giảm mạnh, các tổ chức tài chính dần rơi vào tình trạng khó khăn về tính thanh khoản, con số thua lỗ ngày càng tăng lên.
Các tổ chức tài chính không còn chịu đựng được sức ép của tính thanh khoản và các khoản thua lỗ, nên đã buộc phải tìm sự cứu trợ từ tất cả các nguồn và thậm chí giải pháp cuối cùng là đệ đơn phá sản. Do sự liên quan giữa các nền kin tế, đặc biệt là sự đầu tư qua lại thông qua hình thức chứng khoán hóa dẫn đến tình trạng sụp đổ domino trên toàn cầu, khiến nhà đầu tư toàn cầu trở nên mất phương hướng.
Thứ hai, khủng hoảng sẽ khiến các hoạt động cho vay gặp nhiều rủi ro, lãi suất cho vay sẽ được nâng lên (lãi suất liên ngân hàng ở Mỹ đã tăng gấp 3-4 lần so với lãi suất của FED là 2%) và hạn chế việc đầu tư cũng như tăng trưởng kinh tế tại Mỹ. Việc nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại sẽ khiến xuất khẩu của các nền kinh tế khác giảm và do đó làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trên toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ, các nước EU và Nhật Bản theo dự báo sẽ tăng trưởng chỉ ở mức 1% trong giai đoạn 2008-2009, thậm chí còn có dự báo ở mức thấp hơn.
Thứ ba, để ứng phó với khủng hoảng, NHTW nhiều nước trên thế giới đã phải bơm tiền vào nền kinh tế, làm gia tăng áp lực lạm phát.
Thứ tư, cuộc khủng hoảng đã làm giảm giá trị tài sản đầu tư tại Mỹ của nhiều quốc gia đặc biệt là Nga, các nước xuất khẩu dầu , Trung Quốc.
Thứ năm, cuộc khủng hoảng tài chính trên thị trường Mỹ nhấn mạnh yêu cầu phải nâng cao tính công khai, minh bạch của các sản phẩm tài chính và thị trường tài chính; vấn đề giám sát các hoạt động đầu cơ trên thị trường và yêu cầu phối hợp chính sách quản lý giám sát, cưỡng chế thực thi của các cơ quan quản lý giám sát thị trường tài chính trong một quốc gia và trên toàn cầu.
Đối với thị trường tài chính Việt Nam
Thị trường bảo hiểm
Hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 46 doanh nghiệp bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và tái bảo hiểm đang hoạt động, trong đó có 02 doanh nghiệp bảo hiểm là công ty con của Tập đoàn bảo hiểm AIG (Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIG hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ - AIG nhân thọ và Công ty TNHH bảo hiểm phi nhân thọ AIG hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ AIG phi nhân thọ). Hiện tại, cả hai công ty này đều đáp ứng các quy định về vốn và khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật, cụ thể:
- Mức vốn điều lệ đã góp đến thời điểm hiện tại của các Công ty bảo hiểm AIG đều cao hơn mức vốn pháp định tối thiểu (AIG nhân thọ là 920 tỷ đồng so với yêu cầu tối thiểu là 600 tỷ đồng, AIG phi nhân thọ là 320 tỷ đồng so với yêu cầu tối thiểu là 300 tỷ đồng).
- AIG nhân thọ và AIG phi nhân thọ đều trích lập Quỹ dự phòng nghiệp vụ cao hơn mức trích dự phòng theo quy định hiện hành và ở mức rất thận trọng nếu so với thông lệ thế giới (AIG nhân thọ là 1.900 tỷ đồng, AIG phi nhân thọ là 57 tỷ đồng).
- Về hoạt động đầu tư, hiện tại, các công ty con của AIG tại Việt Nam đều đầu tư thận trọng so với quy định hiện hành. AIG nhân thọ đầu tư 70% vào trái phiếu Chính phủ, 16% tiền gửi vào các tổ chức tín dụng, 8% trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh; Chỉ có 2% giá trị đầu tư vào tài sản tương đối rủi ro là trái phiếu doanh nghiệp không bảo lãnh. Đối với AIG phi nhân thọ, toàn bộ số tiền đầu tư vào tiền gửi tại các tổ chức tín dụng.
- Về khả năng thanh toán: Tính đến hết tháng 8/2008, biên khả năng thanh toán của AIG nhân thọ cao gấp 2,29 lần so với biên khả năng thanh toán tối thiểu theo qui định hiện hành; AIG phi nhân thọ cao gấp 28 lần so với với biên khả năng thanh toán tối thiểu.
Bên cạnh việc đảm bảo năng lực tài chính và tính an toàn của các doanh nghiệp bảo hiểm, qui định hiện hành cũng đảm bảo có các biện pháp, nhằm bảo vệ khách hàng trong các trường hợp xấu nhất có thể xảy ra đối với hoạt động của DNBH. Riêng đối với trường hợp 2 công ty AIG nhân thọ và AIG phi nhân thọ, khả năng này chỉ có thể xảy ra trong trường hợp Tập đoàn AIG bị phá sản và phải rút toàn bộ vốn đầu tư từ các công ty con (nhưng trên thực tế, trường hợp này khó có khả năng xảy ra khi Chính phủ Mỹ đã rót tiền để cứu Tập đoàn, đồng thời đang xây dựng các kế hoạch bổ sung để hỗ trợ thị trường tài chính Mỹ).
Ngay sau khi xẩy ra sự kiện tại Tập đoàn bảo hiểm AIG tại Mỹ, Công ty AIG nhân thọ và AIG phi nhân thọ đã tổ chức họp báo tuyên bố chính thức về tình hình tài chính và khẳng định các công ty vẫn tiếp tục duy trì hoạt động bình thường và đảm bảo đầy đủ yêu cầu về vốn khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật Việt Nam; Bộ Tài chính đã có thông báo chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc cả hai công ty con thuộc AIG tại Việt Nam vẫn đảm bảo khả năng thanh toán theo quy định.
Như vậy, biến động của hoạt động tài chính tiền tệ ở Mỹ và của Tập đoàn bảo hiểm AIG không ảnh hưởng nhiều đến thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhưng cũng phần nào tác động đến tâm lý của người tham gia bảo hiểm, đặc biệt đối với những khách hàng của hai công ty AIG nhân thọ và AIG phi nhân thọ. Bộ Tài chính đã tổ chức công tác theo dõi, giám sát và thông tin để kịp thời có các biện pháp chấn chỉnh nếu có tình huống phức tạp phát sinh.
Nguồn:
Tạp chí Tài chính Số lượt đọc:
840
-
Cập nhật lần cuối:
27/11/2008 02:08:49 PM |