Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới đứng trước bờ khủng hoảng, hầu hết các doanh nghiệp đều gặp khó khăn. Riêng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V), khó khăn kéo đến dồn dập, toàn diện và sẽ còn kéo dài. Trong đó, khủng hoảng nguồn vốn là tác nhân đầu tiên trong các nguy cơ kéo đổ toàn bộ hệ thống tổ chức và kinh doanh của DNN&V. Bài viết đề cập về những sai lầm phổ biến trong sử dụng vốn của các NNN&V của Việt Nam.
Những con số đáng lo ngại
Ở Việt Nam, hiện các DNN&V được định nghĩa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Với định nghĩa như trên, đa số các DN trong nền kinh tế nước ta là các DNN&V. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tổng số gần 350.000 doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay, khoảng 95% là nhỏ và vừa.
Chiếm tỷ lệ lớn như vậy trong nền kinh tế, song phần lớn các DNV&N đang gặp khó khăn. Khó khăn tới mức, một số chuyên gia kinh tế đã dự báo, quý IV năm nay và đầu năm tới nền kinh tế có thể tiếp tục chứng kiến sự biến mất của nhiều DN.
Sự biến mất ấy chủ yếu đến từ khó khăn khó giải quyết nhất, đã dồn thành khủng hoảng - khủng hoảng nguồn vốn.
Mới đây, tại Hội thảo Doanh nghiệp nhỏ và vừa - Vai trò, thách thức và triển vọng tại Hà Nội 1, Hiệp hội DNN&V cho biết, hiện nay có tới khoảng 20% DN khó có thể tiếp tục hoạt động. Ngoài nhóm này, 60% thành viên hiệp hội đang chịu tác động của khó khăn kinh tế, nên sản xuất sút kém. Lạm phát đang làm các công ty không kiểm soát được chi phí, mất thị trường và không đủ vốn để duy trì sản xuất. 20% còn lại là các công ty chịu ít ảnh hưởng và vẫn trụ vững do trước nay ít phải nhờ đến nguồn vốn vay và được các lãnh đạo có kinh nghiệm dẫn dắt.
Chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan cũng cảnh báo rằng, nếu không được hỗ trợ kịp thời, nhiều DNN&V sẽ biến mất do không còn khả năng bám trụ trong khó khăn kinh tế. Số liệu điều tra của Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới đây cho thấy, ngay cả trong điều kiện lạm phát, trên 90% DNN&V ngoài quốc doanh vẫn có nhu cầu vay vốn. Tuy nhiên, chỉ hơn 10% được vay 100% theo nhu cầu. Mới đây, một số ngân hàng công bố hạ lãi suất cho vay và ưu tiên các DNN&V song đều có tiêu chí ưu tiên vốn cho từng nhóm doanh nghiệp nhất định. Theo ông Vũ Duy Thái, Chủ tịch Hiệp hội công thương Hà Nội, chỉ khoảng 50% DN ngoài quốc doanh tiếp cận được vốn ngân hàng.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Bích Đạt cũng nhận định khi nền kinh tế đặt ưu tiên cho kiềm chế lạm phát, các DNN&V khó khăn hơn cả bởi DNN&V khó chống đỡ hơn các công ty khác bởi hạn chế về tiềm lực tài chính, năng lực quản lý, kinh nghiệm thương trường, cũng như ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực. Luật sư Vũ Xuân Tiền nhận định, những con số này cho thấy, 80% DNN&V đang đứng trước nguy cơ phá sản(!).
Theo cuốn Khởi nghiệp làm doanh nhân, trên thế giới, số lượng DN mới thành lập hàng năm đều rất lớn. Tuy nhiên, ngay trong năm đầu tiên thì 20% số DN mới thành lập đó
phải đóng cửa. Đến năm thứ 2 thì 15% nữa lại ra đi. Năm thứ 3 là l0%... Theo thống kê, số lượng DN phải đóng cửa trong số DN được thành lập 1 năm được theo dõi sẽ giảm dần. Ở Mỹ, thống kê cho thấy, trong 7 năm đầu, rủi ro thất bại của DN mới thành lập là rất lớn, lên tới 50%. Tuy nhiên, điểm đáng mừng là không phải tất cả các DN phải đóng cửa là các DN bị phá sản. Trong số khoảng 550.000 công ty đóng cửa mỗi năm, chỉ có 15.000 DN bị phá sản2. DN phải đóng cửa bởi rất nhiều nguyên nhân khác nữa mà mỗi nguyên nhân đều ứng với ít nhất là một tính toán sai lầm của chủ DN.
Như vậy, việc DNN&V ra đời rồi phải đóng cửa là hiện tượng phổ biến trên thế giới.
Tuy nhiên, hiện nay một số chuyên gia cảnh báo là 80% DNN&V nước ta đứng trước nguy cơ phá sản thì tình hình lại rất bất thường, nguy cấp. Bài viết cho rằng nguy cơ phá sản của DNN&V Việt Nam lớn như vậy là bởi DNN&V Việt Nam dễ mắc nhiều sai lầm trong hoạt động kinh doanh và không sẵn sàng đóng cửa hoặc chuyển hướng hoạt động kịp thời, khi kinh tế vĩ mô suy thoái, tài chính vĩ mô khủng hoảng thì tất yếu bộ phận này đứng trước nguy cơ phá sản.
Nhiều giải pháp đã được các chuyên gia kinh tế đưa ra trong thời gian này. Hiệp hội DNN&V kêu gọi sự trợ giúp của Chính phủ. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng, bản thân DNN&V còn có nhiều hạn chế mà đến khi nền kinh tế hội nhập sâu hơn mới lộ diện như lối kinh doanh thiếu minh bạch, "gia đình trị" và quản lý thiếu nguyên tắc là hạn chế chủ quan của DNN&V cần khắc phục. Chính các doanh nghiệp cần rà soát lại hoạt động để tạo ra sự minh bạch trong điều hành và giữ cho được chữ tín. Trong điều kiện hiện nay, Hợp tác với nhau và với nhà đầu tư nước ngoài là một cách tốt để doanh nghiệp tồn tại và có khả năng cạnh tranh. Về khách quan, DNN&V sẽ thuận lợi hơn rất nhiều nếu có được sự điều chỉnh và từng bước nới lỏng hạn mức tín dụng, nhằm khắc phục tình trạng mất cân đối dòng tiền tại DN. Mặt khác, DN nên được giảm thuế để còn có nguồn tái đầu tư phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh.
Đối với những sai lầm về vốn rất cần có những số liệu thống kê hệ thống và cụ thể về tình hình kinh doanh và tài chính của loại DN này để làm rõ thực trạng và nguyên nhân. Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu vẫn luôn là điểm yếu. Trong bối cảnh số liệu thống kê còn hạn chế, nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý chính sách cũng như chính bản thân các DNN&V, bài viết xin đưa ra một số nhận định riêng về những sai lầm trong sử dụng và quản lý nguồn vốn của các DNN&V dựa vào quan sát thực tế cũng như lý thuyết cơ bản về quản lý tài chính DN.
Sai lầm cần cảnh báo
Sai lầm trong định hướng đầu tư nguồn vốn
Đầu tư thành lập DNN&V đa số xuất phát từ định hướng của một hay một vài cá nhân.
Định hướng đầu tư sai ngay từ đầu thường có nguyên nhân rất đơn giản, xuất phát từ quan niệm nhầm lẫn giữa ý tưởng kinh doanh và sở thích, thú vui của chủ DN. Không ít cá nhân ngay từ khi khởi sự khiến DN của họ đã chết yểu tại khâu ý tưởng kinh doanh, khi chưa bước vào hoạt động.
Sai lầm có thể nói là rất sơ đẳng này lại xảy ra khá phổ biến trên thực tế. Ví dụ, khá nhiều người tưởng rằng biết nấu một vài món ngon đã cho rằng mình hoàn toàn có thể mở nhà hàng. Thậm chí, có người lạc quan hơn, chỉ cần thích ẩm thực thôi, cũng cho rằng mình đã đủ cơ sở mở nhà hàng. Suy rộng ra đối với lĩnh vực DN, một hoặc một nhóm người khởi sự DN nếu chung một sở thích chơi golf thì cũng không có nghĩa là sẽ đảm bảo đầu tư kinh doanh sân golf thành công. Đối với một DN đang hoạt động, nếu lĩnh vực kinh doanh chính là sản xuất và phân phối thức ăn gia súc mà các ông chủ yêu thích và quan tâm tới chứng khoán, không có nghĩa là DN ấy đem vốn đi đầu tư chứng khoán sẽ hiệu quả.
|
“Chủ DNN&V thường rất quyết tâm để có được vốn, nhưng quá trình sử dụng và hoàn vốn lại không được theo sát.” |
Sự gọn nhẹ trong bộ máy quản lý đem lại sự năng động cho điều hành sản xuất kinh doanh cho DNN&V nhưng cũng đưa DN tới rủi ro của sự lệ thuộc vào sở thích riêng và cá tính riêng của ông chủ. Đối với các DN lớn, rủi ro này được hạn chế rất nhiều nhờ vào cơ cấu quản lý khoa học mà quy mô và hình thức DN (thường là công ty cổ phần) đem lại. Sự tách bạch giữa quản lý điều hành và quản lý chiến lược của Ban giám đốc và Hội đồng quản trị khiến bộ phận điều hành không thể tùy tiện định hướng dòng chảy của luồng vốn đầu tư trong DN. Nhưng nếu không có sự tách bạch tương đối nói trên (thường xảy ra với hình thức khác với công ty cổ phần), ngay cả khi DN có quy mô lớn thì việc sử dụng nguồn vốn đầu tư phụ thuộc vào ý thích cá nhân của một vài cá nhân lãnh đạo vốn có thể xảy ra. Sự nhầm lẫn giữa ý tưởng kinh doanh và sở thích của lãnh đạo nếu xảy ra với DNN&V thì DN ấy sẽ nhanh chóng phá sản, xâm hại trực tiếp tới quyền lợi của chính người chủ DN, họ buộc phải trả giá, còn với DN lớn hệ luỵ của sai lầm này lớn hơn nhiều.
Cũng trong định hướng luồng vốn, một sai lầm cũng được nhìn nhận là sơ đẳng song diễn ra khá phổ biến khác là DNN&V cũng có xu hướng đầu tư đa ngành, ngay cả khi thế mạnh của họ là một hoặc hai lĩnh vực hoặc sản phẩm. Tồi tệ hơn, xu hướng này vẫn phát sinh cả khi năng lực vốn của DN đang rất yếu. Thường thì các DN lớn và vừa có xu hướng đầu tư đa ngành nhằm mở rộng quy mô phát triển hạn chế rủi ro và họ cũng đủ tiềm lực để triển khai bài bản định hướng mới.
Vậy, căn nguyên của việc DNN&V đầu tư đa ngành là do đâu? Chính là do chủ DNN&V khá hạn chế trong hiểu biết về thị trường. Họ thường cho rằng việc đáp ứng các nhu cầu của tất cả các khách hàng mới đảm bảo sự chắc chắn của thành công trong kinh doanh. Việc chia nhỏ nguồn vốn vốn đã nhỏ bé của mình ra nhiều hướng đầu tư đáp ứng càng nhiều loại khách hàng khác nhau càng tốt, không những không đảm bảo độ chắc chắn của thành công mà còn tăng thêm nguy cơ đổ vỡ cho DNN&V.
Giải pháp ở đây là cần phải xác định ngược lại các định hướng sai lầm trên. Nghĩa là, cần phân biệt rạch ròi ý tưởng kinh doanh và sở thích, thị hiếu cá nhân ông chủ. Ý tưởng kinh doanh khai thác sở thích, thị hiếu của thị trường tương lai - nơi DN sẽ chào bán hàng hoá, dịch vụ mà DN cung cấp còn sở thích, thị hiếu cá nhân ông chủ chỉ hữu ích trong phục vụ chính họ mà thôi. Nếu may mắn hai loại sở thích, thị hiếu trên trùng làm một, chủ DN có cơ sở chủ quan để thời nhiệt huyết và sở thích của mình cho bộ máy nhân sự của DN. Sở thích, lòng ham mê là cơ hội vàng cho DN tạo nền móng với ý nghĩa là một phụ gia cho thành công nhưng cũng cần xác định rằng, thành công trong kinh doanh của DN còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nữa. Ngoài sở thích, thị hiếu cá nhân, ý tưởng kinh doanh cần được nuôi dưỡng bằng nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác thì DN mới đứng vững và phát triển được.
Bên cạnh đó, quy mô của DNN&V đòi hỏi DN phải thu hẹp diện đầu tư hướng vào một đoạn thị trường cụ thể. Cần hiểu rõ là DNN&V không thể đáp ứng được toàn bộ thị trường mà chỉ đáp ứng một đoạn thị trường nhất định DNN&V có thể mở rộng hướng đầu tư nhưng khi mở rộng phải theo tiêu điểm rất cụ thể và phải tuân thủ trình tự mở rộng quy mô đầu tư chặt chẽ. Trình tự tiêu biểu là: thu hẹp dần tiêu điểm thêu điểm theo nguồn hàng, dịch vụ; kiểu bán hàng, cung cấp dịch vụ; loại thị trường...)---> Nhận diện một đoạn thì trường cụ thể ---> Bố trí nguồn lực cần thiết để thực hiện.
Nguồn:
Tạp chí Tài Chính Số lượt đọc:
238
-
Cập nhật lần cuối:
27/11/2008 02:16:34 PM |