Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tài chính - Ngân hàng  Chứng khoán  Đầu tư  Bảo hiểm  Bất động sản  Lao động  Hàng hóa, Dịch vụ  Pháp luật

Làm ăn với doanh nghiệp Hoa Kỳ: Những điều cần biết

GS.TS Lê Hồng Hạnh

Doanh nhân & Pháp luật
Gửi email  Bản in 
01:28' PM - Thứ tư, 05/11/2008

GS.TS Lê Hồng Hạnh tốt nghiệp Luật ở Đại học Harward, từng là học giả thỉnh mời của Đại học Harward chia sẻ một số điều mà doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý khi làm ăn với các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Đi từ những điều chung nhất, đến những điều chi tiết cụ thể, Giáo sư sẽ cung cấp cho các doanh nghiệp những thông tin hữu ích. Trong số này, Giáo sư chia sẻ những quan tâm chung mà doanh nghiệp Việt Nam cần biết.

Hoa Kỳ là một thị trường đầy tiềm năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam xét từ nhiều phương diện, đặc biệt là sự có mặt cả gần triệu Việt Kiều tại đất nước này. Các trở ngại chủ yếu trong quan hệ thương mại Việt Nam Hoa Kỳ đã được dỡ bỏ bởi việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO và Quốc Hội Mỹ thông qua đạo Luật về quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (NTR) với Việt Nam. Hiện tại, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đang tăng mạnh. Hoa Kỳ đang vươn lên một trong những vị trí đầu trong danh sách các nước đầu tư vào Việt Nam. Để duy trì các quan hệ thương mại ổn định với các doanh nghiệp Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý rất nhiều khía cạnh pháp lý. Dưới đây là những lưu ý chung nhất.


Những điều cần biết

Thứ nhất, các doanh nghiệp Hoa Kỳ rất chú trọng đến các khía cạnh pháp luật khi xây dựng các mối quan hệ thương mại. Các công ty của Hoa Kỳ khi tham gia các quan hệ mua bán hàng hóa, đầu tư, chuyển giao công nghệ... đều soạn thảo và ký kết những hợp đồng chi tiết và chặt chẽ. Các doanh nghiệp Hoa Kỳ rất coi trọng cơ hội, song không thiết lập các mối quan hệ đối tác nếu thiếu những nền tảng pháp luật chắc chắn. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam nên chú ý đến thực tế này và từ đó chuẩn bị cho mình những đối sách pháp lý tương ướng khi đàm phán k‎ý kết các hợp đồng với doanh nghiệp Hoa Kỳ.

Thứ hai, Doanh nghiệp Việt Nam cần biết rằng Hoa Kỳ là quốc gia có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng rất hoàn thiện và việc thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng khá hiệu quả. Án lệ về bảo vệ người tiêu dùng cho thấy nhiều doanh nghiệp đã phải bồi thường cho người tiêu dùng những khoản tiền khổng lồ do chất lượng hàng hóa kém, gây tổn hại đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của người tiêu dùng. Việc khối lượng lớn đồ chơi sản xuất ở Trung Quốc nhập và Mỹ bị thu hồi, các công ty thuốc lá phải bồi thường cho nhiều bệnh nhân ung thư là một vài minh chứng. Bảo vệ người tiêu dùng ở Hoa Kỳ tồn tại dưới chế định pháp lý trách nhiệm sản phẩm (product liability) và ở mức cao hơn là trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability). Các quy định về trách nhiệm sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải đảm bảo độ an toàn của sản phẩm khi đưa vào lưu thông và phải cảnh báo cho người tiêu dùng những tác động xấu của việc sử dụng sản phẩm mà họ buộc phải thấy tại thời điểm thiết kế, sản xuất hoặc đưa sản phẩm vào thị trường. Vi phạm nghĩa vụ này, doanh nghiệp, người sản xuất phải bồi thường những tổn hại gây cho người tiêu dùng. Trách nhiệm nghiêm ngặt còn bảo vệ người tiêu dùng ở mức độ cao hơn. Trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu bồi thường những tổn hại gây cho người tiêu dùng được áp dụng ngay cả khi không có lỗi của người sản xuất hay nhà nhập khẩu.

Khi nhập khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam phải đặc biệt chú ‎ý đến chất lượng và độ an toàn của sản phẩm. Doanh nghiệp Việt Nam đừng nghĩ rằng xuất được sản phẩm sang và tiêu thụ hết ở thị trường Hoa Kỳ là thành công. Thành công này chỉ có khi chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp tốt, không gây tổn hại sức khỏe cho người tiêu dùng. Ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam sẽ đối mặt với những vụ kiện bồi thường thiệt hại do hiệu lực pháp luật về trách nhiệm của sản phẩm. Sự tốn kém thời gian và tiền bạc khi phải rơi vào dù chỉ một vụ kiện Hoa Kỳ thì doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những chi phí lớn.

Thứ ba, Hoa Kỳ có rất nhiều hiệp hội doanh nghiệp và nhóm lợi ích. Những hiệp hội và nhóm lợi ích này có ảnh hưởng lớn đối với các chính khách Hoa Kỳ, đặc biệt khi họ sử dụng vận động hành lang (lobby). Vì phải phân định thắng thua trong các cuộc bầu cử dân chủ nên các nghị sỹ và nhiều chính khách Hoa Kỳ không thể không tính đến sự ủng hộ của các hiệp hội hoặc nhóm lợi ích. Khi các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường với thị phần trong một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó có khả năng ảnh hưởng tới lợi ích của các nhà sản xuất Hoa Kỳ thì hiệp hội của họ sẽ hành động để bảo vệ các thành viên. Công cụ thường dùng là những vụ kiện chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp. Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu cá ba sa, tôm, sản phẩm dệt may đã từng phải đối mặt với các vụ kiện như vậy. Để tự bảo vệ mình, doanh nghiệp Việt Nam cần phải biết những trợ cấp nào không được phép sử dụng để tránh đối mặt với các vụ kiện. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải biết lưu giữ những chứng từ để chứng minh cho tình trạng sản phẩm của mình có giá rẻ là do những thuận lợi về chi phí sản xuất chứ không phải do bán phá giá. Nhiều khi, dù thực tế có những lợi thế nhất định về chi phí sản xuất song các doanh nghiệp Việt Nam không chứng minh được do thiếu những bằng chứng cần thiết. Lưu giữ chứng từ một cách khoa học không chỉ giúp cho doanh nghiệp có được những số liệu chính xác về tài chính mà còn rất hữu ích trong việc vượt qua các vụ kiện từ phía các doanh nghiệp Hoa Kỳ.

Số lượt đọc:  219  -  Cập nhật lần cuối:  21/11/2008 02:04:01 PM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ