Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tài chính - Ngân hàng  Chứng khoán  Đầu tư  Bảo hiểm  Bất động sản  Lao động  Hàng hóa, Dịch vụ  Pháp luật

Nỗi lòng chứng chỉ quỹ

Thanh Lâm

Báo Nhịp cầu đầu tư
Gửi email  Bản in 
05:32' PM - Thứ năm, 05/11/2009

Nhà đầu tư vẫn chưa có cái nhìn công tâm về cá chứng chỉ quỹ, trong khi đây là một hình thức đầu tư hiệu quả xét về lâu dài.

Với mức tăng trưởng lần lượt hơn 60% và 50% kể từ đầu năm đến nay, VFMVF1 và VFMVF4 đã chứng tỏ là những chứng chỉ quỹ có sức bật tốt. Tuy nhiên, sức tăng này lại khá lép vế khi so sánh với mức tăng trưởng chung của thị trường. Đó là lý do khiến nhà đầu tư cá nhân, vốn thích kiếm lời nhanh, không mấy mặn mà với chứng chỉ quỹ. Trong khi xét về đường dài, đây là hình thức đầu tư hiệu quả và an toàn.

Ngậm ngùi nhà quản lý quỹ

Theo ông Lê Tiến Đông, Trưởng phòng Quản lý Quỹ Đầu tư An Bình, trong giai đoạn thị trường rơi từ đỉnh 1.100 điểm (cuối năm 2007) xuống đáy 235 điểm (24.2.2009), khoảng 60% giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ đầu tư ở Việt Nam đã "bốc hơi”. Thị trường xuống giá, thanh khoản không còn, các nhà quản lý không có cách nào để thoát khỏi vị thế hiện tại. Trong khi đó, cơ chế hoạt động và các quy định pháp luật không cho phép các quỹ có thể kiếm lời trong giai đoạn thị trường đi xuống. Trong hoàn cảnh đó, nhà quản lý quỹ lại vẫn phải tuân thủ các yêu cầu trong chiến lược, kế hoạch đầu tư đã được đại hội nhà đầu tư thông qua. "Chính cơ chế cứng nhắc này là trở ngại lớn đối với các quỹ muốn cơ cấu lại danh mục hay chuyển hướng đầu tư vào các loại tài sản ít rủi ro hơn một cách nhanh chóng và ít tốn kém nhất”, ông Đông cho biết.

Mặc dù vấp phải trở ngại trên, năm 2008, NAV của các quỹ trung bình chỉ giảm 60%, trong khi thị trường giảm tới 80%. Đây là kết quả đáng khích lệ. Thế nhưng, thực tế, không phải nhà đầu tư cá nhân nào cũng có cái nhìn công tâm. Họ cho rằng, VN-Index tăng 123% từ đầu tháng 4 đến giữa tháng 6.2009 và tăng 43% từ giữa tháng 7 đến đầu tháng 10.2009, nhưng NAV của các quỹ bình quân chỉ tăng lần lượt 30% và 40%. Với cách so sánh này, nhà đầu tư không đánh giá cao hiệu quả của quỹ.

Vì sao mức tăng trưởng của quỹ lại thấp hơn mức tăng trưởng của thị trường? Ông Đông lý giải, các quỹ đầu tư có cái nhìn dài hạn đối với cơ hội và rủi ro trên thị trường và chiến lược đầu tư được xây dựng dựa trên nguyên tắc an toàn. Bên cạnh đó, luật pháp cũng có những yêu cầu khá khắt khe trong lĩnh vực quản lý tài sản và ủy thác đầu tư. Chẳng hạn, chuyện mượn cổ phiếu bán lúc thị trường lên để lấy lời và mua trả lại lúc thị trường giảm hay việc dùng đòn bẩy tài chính có thể phổ biến đối với nhà đầu tư cá nhân, nhưng lại không thể đối với quỹ đầu tư.

Mặt khác, nhà đầu tư, khi tham gia vào quỹ, đã đưa ra những yêu cầu cụ thể về chiến lược, tiêu chí đầu tư cơ cấu phân bổ tài sản...,thậm chí cả kế hoạch hoạt động hằng năm của quỹ. Điều này là nhằm kiểm soát rủi ro và bảo vệ tài sản của nhà đầu tư, nhưng cũng chính các quy định này khiến nhà quản lý quỹ không thể linh hoạt thay đổi chiến lược theo thị trường và mạo hiểm tìm kiếm lợi nhuận bằng cách lao vào một cổ phiếu "nóng" nào đó trong một thời điểm cụ thể. Trong khi đó trong kinh doanh chứng khoán, không chấp nhận rủi ro cao thì khó có lợi nhuận cao.

Bà Nguyễn Thị Hồng Mai,Trưởng phòng Đầu tư Quỹ Bảo hiểm Bưu điện, cho rằng, so sánh mức tăng trưởng của quỹ với mức tăng trưởng của thị trường là khập khiễng. Hoạt động của quỹ không thể linh hoạt như các nhà đầu tư cá nhân, do phải xử lý hài hòa những yêu cầu vô cùng mâu thuẫn của cổ đông: vừa muốn NAV của quỹ tăng trưởng cao, vừa muốn đảm bảo an toàn vốn!?. Vì bị chi phối bởi nguyên tắc an toàn, nên chiến lược đầu tư của quỹ không thể mạo hiểm như nhà đầu tư cá nhân. Nhà đầu tư cá nhân thì có thể đầu tư theo tin đồn, nhưng quỹ thì không thể. Thậm chí ngay cả khi biết đó là tin thật, các quỹ cũng khó nắm lấy cơ hội, vì các vụ đầu tư phải tuân thủ theo quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình đầu tư vốn mất nhiều thời gian. Vì những hạn chế trên, hiệu quả của quỹ không thể bằng các nhà đầu tư cá nhân, đặc biệt trong bối cảnh thị trường giá lên.

Đồng quan điểm trên, ông Đông, cho rằng, khi đánh giá hiệu quả quỹ đầu tư, không nên đánh giá chỉ sau 1-2 mùa vụ, mà phải nhìn tổng thể trong thời hạn 5-7 năm. Có như vậy, mới đảm bảo tính khách quan. Ví dụ, một quỹ chuyên đầu tư vào doanh nghiệp IPO thì không thể nào lướt sóng như đối với cổ phiếu niêm yết. Bù lại nếu lựa chọn tốt, đầu tư đúng thời điểm thì lợi nhuận sau khi thoái vốn không hề thua kém so với đầu cơ ngắn hạn trong cùng khoảng thời gian như nhau.

Áo gấm sao vẫn đi đêm?

Ông Đông cho rằng, thời gian qua, các nhà đầu tư đã bỏ qua cơ hội sở hữu một loại cổ phiếu tốt trên thị trường, đó là các chứng chỉ quỹ. Đa số các quỹ hoạt động từ đầu năm 2008 đều có tỉ suất lợi nhuận không hề thua kém so với các hình thức đầu tư khác. Ví dụ, quỹ VF4 do VFM quản lý khi thành lập vào đầu năm 2008 có NAV là 10.000 đồng. Đến ngày 9.10.2009, NAV của VF4 đạt 14.500 đồng/chứng chỉ quỹ. Như vậy, sau hơn 15 tháng, NAV tăng 45%. Đây là mức tăng khá ấn tượng.

Năm 2008, giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư chỉ giảm trung bình 60%, trong khi thị trường giảm tới 80%. Đó là nhờ các quỹ áp dụng chiến lược đầu tư phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn vốn.

Hiện tại, giá chứng chỉ quỹ niêm yết chỉ vào khoảng 50% so với NAV. Về lý thuyết, điều đó có nghĩa là mua chứng chỉ quỹ hiện tại nếu quỹ giải thể ngay thì nhà đầu tư lãi 100%. Tuy nhiên, điều này không xảy ra trên thực tế. Vì vậy, nhà đầu tư phải xem xét khía cạnh thứ hai là tăng trưởng NAV của chứng chỉ quỹ. Từ năm 2007 đến cuối quý I/2009, NAV của các chứng chỉ quỹ giảm trung bình 60%, thấp hơn tốc độ giảm của VN-lndex. Tuy nhiên khi thị trường tăng trưởng hơn 100% trong quý II/2009 thì NAV chỉ tăng tương ứng có 30%. Như vậy NAV tăng trưởng không mấy ấn tượng và do đó, không thuyết phục được nhà đầu tư.

Mặc dù NAV là chỉ số quan trọng nhất nhưng không phải chứng chỉ quỹ còn phải xét đến
tiềm năng tăng trưởng của các chứng chỉ quỹ. Mỗi quỹ có chiến lược hoạt động, cơ cấu phân bổ tài sản riêng. Do đó, một quỹ có tỉ trọng nhiều tài sản mang tính phòng thủ trong giai đoạn thị trường tăng trưởng mạnh sẽ bị đánh giá thấp so với một quỹ có tỉ lệ cổ phiếu niêm yết chiếm tỉ trọng lớn, dù cả hai có NAV bằng nhau.

* Tác giả hiện không sở hữu những cổ phiếu được nêu trong bài viết này. Nội dung bài viết chỉ mang tính tham khảo, NCĐT không khuyến khích cũng như không chịu trách nhiệm đối với những quyết định mua bán chứng khoán do tham khảo bài viết này.

Số lượt đọc:  509  -  Cập nhật lần cuối:  05/11/2009 05:32:48 PM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ