Bản chất FDI hiện đại
Ngay từ những năm 1871, đầu tư ra nước ngoài của nước Anh năm 1862 là 3,6 tỷ phrăng, năm 1872 là 15 tỷ phrăng, năm 1882 là 22 tỷ phrăng, năm 1893 là 42 tỷ phrăng, 1902 là 62 tỷ phrăng, năm 1914 là 75-100 tỷ phrăng; đầu tư ra nước ngoài của nước Pháp năm 1869 là 10 tỷ phrăng, năm 1880 là 15 tỷ phrăng, năm 1902 là 27-37 tỷ phrăng, năm 1914 là 60 tỷ phrăng; đầu tư ra nước ngoài của nước Đức năm 1902 đạt 12,5 tỷ phrăng, năm 1914 tăng lên 44 tỷ phrăng (V. I. Lênin Toàn tập, Tập 27, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, trang 457).
Sau chiến tranh thế giới thứ hai của thế kỷ hai mươi, luồng FDI của Mỹ vào Châu Âu và Nhật tăng lên. Thậm chí khi hiệp ước Bretton Woods bị xoá bỏ, những rủi ro về tỷ giá hối đoái không làm giảm dòng FDI. Hiện tượng FDI không ngừng tăng lên đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế. Sự gia tăng các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investments - FDI) là một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế hiện đại.
Có nhiều định nghĩa về FDI, song tựu trung lại FDI là hiện tượng một doanh nghiệp đưa các tài sản trực tiếp hoạt động kinh doanh ở nước ngoài và giành quyền định đoạt thành quả đạt được. FDI thể hiện rằng đối với một nhà đầu tư các tạo phẩm phi vật thể do nhà đầu tư đó tạo ra cho các hàng hoá và dịch vụ có vai trò quan trọng khiến họ phải tự thân làm việc đó ở môi trường địa lý khác. Những lợi ích do những tạo phẩm phi vật thể được FDI tạo ra lớn hơn rất nhiều những gì mà hoạt động thương mại đơn thuần đem lại vì giá trị thương hiệu của một hãng lớn hơn nhiều lần tổng giá trị của các tài sản hữu hình của hãng đó. Sở dĩ cần phải đầu tư trực tiếp vì những tạo phẩm phi vật thể được tạo ra phải gắn với tên tuổi của một hãng. Có những hoạt động không thể mua đứt bán đoạn như trong thương mại vì còn liên quan tới những tạo phẩm phi vật thể, mà đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ các quy trình thì mới bảo đảm được các yêu cầu đó, phải bảo đảm được những nền tảng cơ bản để các tạo phẩm phi vật thể mới có thể cài vào được các hàng hoá và dịch vụ. Không phải cứ gắn nhãn mác vào là chuyển tải được các tạo phẩm phi vật thể gắn liền với nó. Một hãng không thể đưa được các tạo phẩm phi vật thể của mình vào những hàng hoá mua đi bán lại được. Sở dĩ người ta dùng đầu tư mà không dùng thương mại để có được những hàng hoá chất lượng tương đương là do buộc phải giữ các tạo phẩm vô hình, và thu được tiền thêm từ các tạo phẩm vô hình của họ. Sự thâm nhập của tư bản hậu công nghiệp khiến cho FDI trở nên hình thức có lợi, thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Sự đa dạng và bất cập của các lý thuyết về FDI hiện nay đã thể hiện rằng cần phải có những quan niệm mới để có thể phản ánh được bản chất của FDI hiện đại. Các học thuyết đó không thể hiện được rằng hiện nay, các xã hội khác nhau chịu sự chi phối ở những trình độ khác nhau của nền kinh tế hậu công nghiệp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những dạng đầu tư quan trọng trong nền kinh tế thế giới hiện nay mà nó thể hiện những hình thái mới, buộc người ta phải tính đến những hiệu quả không bình thường theo những lý giải trước đây. Đó là nhằm thực hiện việc tạo ra các tạo phẩm vật thể một cách chủ động, và tạo ra các tạo phẩm phi vật thể thích ứng được với những môi trường khác nhau theo những nước khác nhau trên thế giới.
Vốn tư bản không còn là một thứ thuần nhất mà có những bước phát triển thành đẳng cấp khác nhau và đã thể hiện các dòng tư bản công nghiệp và các dòng tư bản hậu công nghiệp vận động theo những chiều hướng khác nhau. Việc phát triển những hình thái khác nhau của các dòng vốn buộc người ta phải từ bỏ cách nhìn dòng vốn theo một dạng thuần tuý nào đó mà có thể dẫn đến các hậu quả mâu thuẫn không thể điều hoà được, và dẫn đến những bế tắc không thể được phát triển theo những hướng khác nhau. Có như vậy mới thấy được thực chất FDI là như thế nào mà có thể tìm ra được các cách thức có hiệu quả để đánh giá và nhìn nhận các dòng FDI khác nhau.
Bản chất của FDI là sự lan toả tư bản hậu công nghiệp vượt qua giới hạn không gian và thời gian và tư bản hậu công nghiệp chèn ép các tư bản cũ, buộc chúng phải tìm không gian mới để duy trì sự tồn tại của chúng với tư cách là tư bản. Dòng vốn vào các nước phát triển có tính chất khác hẳn dòng vốn vào các nước đang phát triển. Dòng vốn vào các nước phát triển là dòng vốn hậu công nghiệp nhằm tạo nên các tạo phẩm phi vật thể, hay các sản phẩm vật thể chứa đựng các tạo phẩm phi vật thể ở tầng mức cao, dòng vốn vào các nước đang phát triển là dòng tư bản công nghiệp để tạo nên các tạo phẩm vật thể. Việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể mang tính thương mại là công việc của mỗi doanh nghiệp và doanh nghiệp đó phải tự mình thực hiện phần chủ yếu, không thể giao cho người khác. Vì thế khi một doanh nghiệp muốn tạo phẩm phi vật thể đó hiện diện ở nước nào thì họ phải tiến hành đầu tư trực tiếp vào nước đó. Dưới góc độ này, chúng ta biết được những yếu tố mới của đầu tư trực tiếp của nước ngoài, biết được sự vận động hai chiều của đầu tư.
Thực chất của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước khác là nhằm phục vụ chính quyền lợi của các nước tiến hành đầu tư thông qua hoạt động của các doanh nghiệp tiến hành đầu tư. Các công ty đa quốc gia tiến hành đầu tư cũng thực hiện công việc phổ biến như vậy. Mục đích của đầu tư trực tiếp là để dùng các sức mạnh phi vật thể mới để khống chế, để đạt được quyền chi phối hưởng thụ các thành quả của mình với mức độ cao, được bảo đảm, và dồn những khó khăn, những vấn đề nan giải về môi trường, về sự thiếu thốn các tài nguyên, đặc biệt là đất đai, và sự thiếu thốn nhân lực các ngành nghề nhất định vào những không gian lãnh thổ khác.
Số lượt đọc:
2944
-
Cập nhật lần cuối:
02/12/2008 04:14:38 PM |