90 tỉ đô la Mỹ để xây dựng cơ sở hạ tầng thủ đô theo đồ án quy hoạch chung Hà Nội mở rộng; hơn 55 tỉ đô la để xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam. Đó là số vốn đầu tư khổng lồ dự kiến cho hai siêu dự án này trong một số năm tới, trong khi GDP của Việt Nam hiện tại chỉ vào khoảng 100 tỉ đô la.
Còn bao nhiêu dự án, bao nhiêu công trình khác, có cái hết sức cấp bách và hiệu quả thì đã thấy rõ, đang cần vốn đầu tư mà chưa tìm được nguồn vốn, như hệ thống metro ở Hà Nội và TPHCM, đường bộ cao tốc Bắc - Nam, sân bay quốc tế Long Thành, cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong…
Thế nhưng không hiểu vì lý do gì, dường như đang có một sự vận động ráo riết, quyết liệt từ các bộ ngành liên quan để hai siêu dự án trên sớm được thông qua.
Và nhằm mục đích ấy, người ta đưa ra đủ thứ lập luận, kiểu như: hãy cứ thống nhất với nhau về sự cần thiết cấp bách của dự án, còn hiệu quả của dự án, thực hiện như thế nào, lấy vốn ở đâu ra sẽ bàn sau, trong khi quy trình đầu tư lẽ ra phải ngược lại.
Bởi vì thực hiện hay không thực hiện những siêu dự án như vậy hoàn toàn không giống như việc người ta mua một mớ rau, ký cá. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính khả thi cả về mặt hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn vốn lẫn khả năng làm chủ công nghệ, và trên hết là khả năng chi trả, là sự đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.
Bởi ai cũng biết, muốn thực hiện những siêu dự án như trên không thể không vay nợ nước ngoài vì năng lực tài chính quốc gia vẫn còn rất hạn chế khi nợ nước ngoài của chính phủ đã gần vượt ngưỡng an toàn, khi thâm hụt ngân sách ngày càng tăng mạnh.
Trong điều kiện năng lực tài chính quốc gia có hạn như vậy, ai cũng hiểu cần ưu tiên đầu tư cho những công trình mang lại hiệu quả kinh tế nhanh nhất, có khả năng hoàn vốn nhanh nhất, nếu không gánh nặng nợ quốc gia để lại cho thế hệ sau sẽ hết sức nặng nề.
Xét theo tiêu chí ấy, hai siêu dự án nói trên trước mắt đặt ra nhiều vấn đề về tính hiệu quả, tính khả thi. Nhiều đại biểu Quốc hội cũng đã nói thẳng những lo ngại của họ về gánh nặng đối với nền kinh tế, về an ninh tài chính quốc gia nếu thực hiện hai siêu dự án trên.
Vậy tại sao hai siêu dự án trên vẫn được giải thích như là những dự án thực sự cấp bách đối với nền kinh tế? Câu trả lời không nằm đâu khác ngoài sự khát vốn đầu tư, lợi ích cục bộ của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và có thể của một số nhóm lợi ích nào đó. Các tập đoàn luôn khát đầu tư để nuôi chính nó, nhiều khi bất kể lợi ích toàn cục của nền kinh tế quốc gia ra sao.
Tuy nhiên, việc đưa các dự án này ra bàn tại Quốc hội khiến người ta có quyền hy vọng các đại biểu thực sự vì lợi ích chung của nền kinh tế xét như một tổng thể, vì lợi ích của toàn thể nhân dân không chỉ hiện tại mà còn là trong tương lai, sẽ biết cách từ chối cơn khát đầu tư của các tập đoàn, các nhóm lợi ích. Bằng không, chịu thiệt sẽ là toàn bộ nền kinh tế trong khi được lợi chỉ là một số ít tập đoàn, bất chấp nguy cơ cho nền tài chính quốc gia. Số lượt đọc:
104
-
Cập nhật lần cuối:
21/05/2010 10:48:13 AM |