Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tài chính - Ngân hàng  Chứng khoán  Đầu tư  Bảo hiểm  Bất động sản  Lao động  Hàng hóa, Dịch vụ  Pháp luật

Doanh nghiệp Việt trong xu hướng đầu tư ra nước ngoài

Quang HưngGửi email  Bản in 
01:39' PM - Thứ ba, 03/06/2008

Theo các số liệu Cục Đầu tư nước ngoài, tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp đang gia tăng qua các năm và dự báo sẽ tăng mạnh trong thời gian tới bởi những lợi ích của nó với các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, hiện nay, hình thức đầu tư ra nước ngoài vẫn chưa được sự quan tâm chú ý nhiều của các doanh nghiệp có tiềm năng cũng như sự khuyến khích cần thiết của nhà nước.

Trong phương hướng phát triển kinh tế doanh nghiệp và kinh tế đất nước, nhận thức và có những biện pháp thúc đẩy hình thức đầu tư này đang và sẽ là vấn đề nhà nước và các doanh nghiệp cần quan tâm trong thời gian tới.

Đầu tư ra nước ngoài ngày càng tăng mạnh

Theo các số liệu thống kê, xu hướng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đang tăng nhanh về cả quy mô và hình thức. Số vốn đầu tư, số lượng các nước nhận đầu tư cũng ngày một mở rộng. Lĩnh vực đầu tư cũng đa dạng hơn nhưng hướng đến vẫn chủ yếu là nông nghiệp và công nghiệp, trong tương lai là dầu khí và điện lực.

Lượng vốn đầu tư ra nước ngoài trong những năm qua khá lớn và ngày càng tăng. Trong 20 năm qua đã có 249 dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 1,39 tỷ USD. Tính đến hết năm 2007, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang 35 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó chủ yếu ở khu vực châu Á gồm 167 dự án với tổng vốn đầu tư là 751,03 triệu USD, chiếm 67% về số dự án và 54% tổng vốn đầu tư đăng ký. Lào là quốc gia được đầu tư nhiều nhất, có 86 dự án với tổng vốn đầu tư 583,8 triệu USD, chiếm 42% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài.

Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam là nông nghiệp và công nghiệp. Trong năm 2007, lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ đầu tư nhiều nhất với 17 dự án, vốn đầu tư 156,8 triệu USD, chiếm 35,9% về vốn dự án và 40% về vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là lĩnh vực công nghiệp với 23 dự án, vốn đầu tư 147,1 triệu USD chiếm 26% về số dự án và 37,6% về vốn đầu tư đăng ký. Số vốn còn lại đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, dự kiến tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2008 sẽ đạt trên 500 triệu USD, tăng 20% so với năm 2007. Một số lĩnh vực trọng tâm bao gồm dầu khí, điện lực, khai thác khoáng sản, viễn thông, giao thông vận tải, xuất nhập khẩu…

Yếu tố tác động đến doanh nghiệp Việt khi đầu tư ra nước ngoài

Qua thực tế gần 20 năm thực hiện các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Những thuận lợi và khó khăn xuất phát ở cả hai phía trong nước và ngoài nước, không chỉ về phía nhà nước mà còn ở chính bản thân doanh nghiệp Việt Nam.

Về mặt thuận lợi, các doanh nghiệp Việt Nam đang trưởng thành từng bước về năng lực tài chính, trình độ công nghệ-kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, đầu tư. Do đó việc xin phép đầu tư và triển khai các dự án đã bước đầu có hiệu quả. Mặt khác, chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư có những chính sách kêu gọi đầu tư, tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam

Tuy nhiên, việc đầu tư ra nước ngoài vẫn tồn tại khá nhiều khó khăn, trước hết là ở chính khả năng và nguồn lực doanh nghiệp Việt Nam. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam so với các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan… còn yếu, do đó số lượng dự án và quy mô đầu tư nhỏ. Hoạt động của các doanh nghiệp này tại các nước tiếp nhận đầu tư còn lẻ tẻ, manh mún, chưa có tiếng nói chung. Việc cập nhật thông tin về chính sách đầu tư còn kém do đó vẫn vi phạm những quy định của nhà nước.

Về phía chính phủ và nhà nước ta, hệ thống pháp luật, chính sách và công tác quản lý còn tồn tại những bất cập, chưa tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Ngay tại các nước tiếp nhận đầu tư cũng tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến pháp luật, thủ tục quy định gây khó khăn cho công tác đầu tư. Lực lượng lao động tại chỗ trình độ yếu kém, cùng với sự khác biệt về ngôn ngữ cũng là một trong những cản trở hoạt động đầu tư sang nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.

Đánh giá lợi ích thu được của việc đầu tư ra nước ngoài

Việc đầu tư ra nước ngoài mang lại nhiều lợi ích to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Nó không chỉ giúp các doanh nghiệp khai thác được thế mạnh sản xuất, giảm thuế xuất … mà còn khai thác được thị trường tiềm năng tại chính các nước đó.

Thứ nhất, việc trực tiếp đầu tư giúp doanh nghiệp chủ động tiếp cận thị trường tại chính nước đó. Nhà đầu tư chủ động xây dựng kênh phân phối hàng hóa, nắm rõ tình hình tiêu thụ và chủ động trong khâu sản xuất. Mặt khác, việc nắm bắt nhanh, kịp thời và chính xác hơn các động thái, nhu cầu của thị trường bản địa cùng giúp họ có các đối sách thích hợp và kịp thời.

Thứ hai, việc đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn bởi có thể tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại.

Thứ ba, việc đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp Việt tìm kiếm thêm nguồn lực: mở rộng thị trường, đa dạng hóa đối tác, thị trường nguyên liệu, vận động trực tiếp đầu tư của đối tác nước ngoài, nguồn cung cấp máy móc, công nghệ kỹ thuật để giúp cho quá trình đầu trong nước.

Thứ tư, việc đầu tư vào thị trường các nước như SNG, châu Âu, Mỹ, Úc…những nơi có cộng đồng người Việt định cư đông khiến cho việc tận dụng dễ dàng các nguồn vốn tài chính, chất xám, thị trường tiêu thụ và các mối quan hệ đa dạng và hữu ích.

Giải pháp giúp doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài hiệu quả

Để thúc đẩy hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài, không chỉ cần những chính sách khuyến khích, tạo môi trường đầu tư trong nước và nước sở tại mà cần chính nhận thức, nỗ lực trong bản thân mỗi doanh nghiệp về vấn đề này. Đó là sự nhanh nhạy trong việc cập nhật thông tin, chọn lựa nước đầu tư và ngành đầu tư hiệu quả với thế mạnh của doanh nghiệp, tăng cường trình độ quản lý. tích lũy nguồn lực và sử dụng hiệu quả đội ngũ lao động.

Doanh nghiệp cần nhanh nhạy nắm bắt thông tin về các chính sách thu hút đầu tư, luật pháp, chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tình hình kinh tế ở các nước sở tại. Ngoài ra thông tin về các tiềm năng, cơ hội đầu tư trong một số ngành, lĩnh vực; các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài của các nước; các dự án đầu tư đã được chính phủ 2 nước kí thỏa thuận...Các chỉ số kinh tế vĩ mô tại các nước sở tại, thông tin về thị trường tiêu thụ cũng là các yếu tố doanh nghiệp cần quan tâm trước khi quyết định thực hiện dự án đầu tư. Trong thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp nên tận dụng cơ hội khi một số nền kinh tế bị ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới, sự tăng giá nguyên nhiên liệu để đẩy mạnh đầu tư sang một số thị trường như Hoa Kỳ, Nga, Lào...

Để nâng cao khả năng cạnh tranh và đầu tư hiệu quả, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao trình độ về vốn, trình độ công nghệ kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý. Do đó, các doanh nghiệp cần có kế hoạch tích lũy vốn, vay vốn, tiết kiệm chi phi như chi phí đầu tư, vận tải. Sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước tại nước sở tại sẽ tạo thêm thế và lực cho các doanh nghiệp.

Công tác quản lý, sử dụng lao động cần được đặc biệt chú trọng với các nước có trình độ lao động hạn chế, thiếu tay nghề cao như Lào, Campuchia. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần có quan tâm đặc biệt đến vấn đề này, có chính sách đào tạo lao động hoặc đưa người Việt sang làm việc.

Số lượt đọc:  1424  -  Cập nhật lần cuối:  03/12/2008 03:25:53 PM
Ý kiến của bạn:
Hợp tác Việt Nam - Lào
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ