Câu chuyện về quỹ đầu tư Việt Nam hy vọng mang lại cho các bạn bức tranh toàn cảnh về một trong những chủ đề sẽ còn được nhắc tới nhiều trong năm mới 2008...
Lược sử quỹ đầu tư trên thế giới
Tư tưởng tập trung các khoản tiền nhỏ thành một nguồn lớn hơn để đầu tư xuất hiện tại châu Âu vào khoảng giữa thế kỷ 19, khởi thủy ở Hà Lan, đến nửa cuối thế kỷ 19 thì được du nhập sang Anh. Mặc dù có gốc gác từ châu Âu, nhưng Hoa Kỳ mới là nơi các quỹ đầu tư phát triển mạnh mẽ nhất.
Năm 1893, các khoản quyên góp và ủng hộ tài chính xây dựng và phát triển Đại học Harvard tại Hoa Kỳ được ghi nhận như sự xuất hiện một quỹ đầu tư. Vào ngày 21/3/1994, quỹ tương hỗ đầu tiên chính thức được thành lập bởi ba nhà kinh doanh chứng khoán tại Boston (Hoa Kỳ) có tên gọi Quỹ Tín thác các nhà đầu tư Massachusetts (Massachusetts Investors Trust-MIT). Có lẽ, chính những người sáng lập cũng không thể dự báo trước tương lai phát triển phổ biến của loại hình này.
Sau một năm thành lập, Massachusetts Investors Trust với 50.000 đô-la Mỹ ban đầu đã sở hữu khối tài sản trị giá 392.000 USD và thu hút gần 200 nhà đầu tư. MIT tập trung và các cổ phiếu lớn, tăng trưởng nhanh và có trả cổ tức. Danh mục đầu tư của Quỹ gồm các loại cổ phiếu của General Electric Co., Standard Oil Of Indiana (ngày nay là một phần của BP PLC) và American Telephone & Telegraph Co. (AT&T Inc.). Không giống nhiều quỹ đầu tư hoạt động trong thời kỳ này, MIT tránh sử dụng các đòn bẩy tài chính để huy động nguồn đầu tư. Khi thị trường chứng khoán Hoa Kỳ chạm đáy vào năm 1932, nhiều quỹ đầu tư đã gục ngã nhưng MIT vẫn trụ vững và tồn tại cho đến hôm nay, với tên gọi được biết đến rộng rãi MFS Investment Management.
|
Quỹ tương hỗ (Mutual Fund) là quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option, hàng hoá hay các chứng khoán trên thị trường tiền tệ, thường phát hành chứng khoán quỹ để huy động vốn. Đây là một loại chứng khoán tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhỏ có khả năng tiếp cận với một danh mục đầu tư đa dạng và có một sự quản lý chuyên môn. Mỗi cổ đông đều có cơ hội được hưởng lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ nhưng đồng thời cũng phải chịu lỗ nếu như đầu tư không thành công. |
Khủng hoảng 1929 làm chậm quá trình tăng trưởng các quỹ đầu tư tương hỗ tại Hoa Kỳ. Luật chứng khoán năm 1933 và Luật Giao dịch chứng khoán năm 1934 được ban hành nhằm khôi phục thị trường. Theo hai đạo luật này, các quỹ đầu tư phải đăng ký hoạt động với Ủy ban SEC (Securities & Exchance Comission) và cung cấp bản báo bạch tới các nhà đầu tư tiềm năng. Tới năm 1940, SEC tiếp tục ban hành Luật Công ty đầu tư với các chỉ dẫn pháp lý bắt buộc các quỹ đầu tư phải tuân theo, được áp dụng tới tận ngày nay.
Niềm tin được phục hồi trên thị trường chứng khoán và các quỹ tương hỗ bắt đầu nở rộ. Tới cuối thập kỷ 60 của thế kỷ trước, Hoa Kỳ có khoảng 270 quỹ với giá trị tài sản nắm giữ ước khoảng 48 tỷ đô-la Mỹ.
Năm 1976, John C. Bogle mở quỹ đầu tư chỉ số thị trường đầu tiên, có tên First Index Investment Trust. Vào tháng 11 năm 2000, đây là quỹ tương hỗ có giá trị lớn nhất trong lịch sử với 100 tỷ đô-la Mỹ tài sản. Quỹ này ngày nay có tên gọi Vanguard 500 Index. 10 Quỹ tương hỗ tốt nhất năm 2007 theo bình chọn của MorningStar
Thứ tự |
Quỹ |
Tăng trưởng |
1 |
Direxion Commodity Bull 2X Inv |
87,6% |
2 |
Direxion Latin America Bull 2X Inv |
83,7% |
3 |
CGM Focus |
79,9% |
4 |
AIM China A |
74,9% |
5 |
Nationwide China Opportunities A |
74,0% |
6 |
Matthews China |
70,1% |
7 |
ProFunds Ultra Emerging Markets |
70,1% |
8 |
T. Rowe Price New Asia |
66,4% |
9 |
Guinness Atkinson China & Hong Kong |
65,1% |
10 |
Matthews India |
64,1% | Quỹ đầu tư ở Việt Nam: hình thành và nở rộ
Những quỹ đầu tư đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng đầu những năm 1990. Trong nửa đầu những thập kỷ 90, có tám quỹ đầu tư tiến hành hoạt động tại Việt Nam với tổng lượng vốn huy động khoảng 700 triệu USD. Những khó khăn trong nỗ lực tìm kiếm cơ hội bỏ vốn cùng tác động của khủng hoảng tài chính-tiền tệ năm 1997 đã khiến các quỹ nản lòng và lần lượt rút lui. Thời điểm sau năm 1997 chỉ còn lại hai quỹ đầu tư là Vietnam Enterprise Investment Fund (VIEL) do công ty Dragon Capital quản lý và Vietnam Frontier Fund (VFF) thuộc tập đoàn Finasa. Bản thân VFF, với qui mô 50 triệu USD, rốt cuộc cũng ra khỏi Việt Nam sau 10 năm hoạt động. Chỉ khi thị trường chứng khoán có những dấu hiệu tăng trưởng tích cực, quỹ này mới trở lại với qui mô khiêm tốn hơn- 15 triệu USD, năm 2005.
Giai đoạn từ 2002 đến 2005, hoạt động của các quỹ đầu tư tương đối trầm lặng. Mặc dù vậy vẫn xuất hiện thêm nhiều quỹ mới thuộc các công ty Mekong Capital, VinaCapital, IDG, VietFund hay PXP Asset Management.
| Quỹ đầu tư chỉ số (Index Fund) Các quỹ tương hỗ đầu tư theo chỉ số được xây dựng nhằm mang lại cùng một mức thu nhập như mức mà bạn mong muốn khi bạn sở hữu tất cả các cổ phiếu trong một bảng chỉ số riêng nào đó - ví dụ như chỉ số S&P500. Trong khi thực hiện được sự đa dạng hoá này là quá khó khăn đối với một cá nhân, thì đối với một quỹ đầu tư theo chỉ số, đây chỉ là công việc có thể thực hiện trong một ngày. |
Cùng với những biến đổi tích cực và mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, từ giữa năm 2006, hệ thống tài chính Việt Nam ghi nhận giai đoạn bùng nổ các quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ. Trong hai năm 2006-2007, khoảng 20 quỹ đầu tư được mở mới. UBCKNN cũng cấp giấy phép hoạt động cho 17 công ty quản lý quỹ. Trong số này, nổi bật có Công ty liên doanh Quản lý quỹ đầu tư BIDV-Vietnam Partners với quỹ VIF có qui mô vốn tối đa 1.600 tỷ đồng và một loạt công ty thành lập vào nửa cuối năm 2007 với qui mô vốn lớn: Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư FPT (vốn điều lệ lớn nhất thị trường- 110 tỷ đồng), Công ty TNHH Quản lý quỹ SSI (vốn điều lệ 30 tỷ đồng), Công ty TNHH Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Đông Á (vốn điều lệ- 30 tỷ đồng) Còn phải kể tới hoạt động của các công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam như Nomura Internetional (Hongkong), Blackhorse Asset Management Pte Ltd. (Singapore) hay Mirae Asset Maps Investment Management Co., Ltd. (Hàn Quốc).
Vận hành quỹ đầu tư ở Việt Nam: phẩm chất và hiệu quả
Với nguồn lực tài chính dồi dào và hình ảnh hấp dẫn, các quỹ đầu tư tại Việt Nam (cả nội địa và quốc tế) không gặp trở ngại nào trong việc tập hợp và xây dựng đội ngũ chuyên môn sáng giá nhất trên thị trường. Cho dù vấn đề nhân lực có thể khiến các công ty chứng khoán hay ngân hàng đau đầu tìm kiếm giải pháp “tìm và giữ” trong hiện tại và nhiều năm tiếp theo, các cổ đông quỹ đầu tư cũng chẳng phải bận tâm nhiều.
Khi đã có đầy đủ nội lực, hiệu quả vận hành nằm trọn ở địa chỉ gửi gắm đồng vốn của cổ đông. Cơ bản có thể chia các quỹ đầu tư thành hai loại: quỹ đầu tư theo chỉ số chung của thị trường hướng tới các đối tượng như chứng khoán niêm yết, cổ phiếu doanh nghiệp cổ phần hóa.. và quỹ đầu tư riêng lẻ theo các dự án, chuyển nhượng cổ phần riêng với chủ sở hữu hay sáng lập doanh nghiệp… Các quỹ đầu tư với sức mạnh về tiềm lực tài chính, năng lực chuyên môn trong thu thập và phân tích thông tin, dữ liệu có lợi thế với hoạt động đầu tư theo chiến lược “mô phỏng cấu trúc thị trường.” Diễn biến trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm qua chứng tỏ rõ điều này.
Với hoạt động đầu tư có tính chất riêng lẻ và dự án, câu chuyện khác hơn. Thành công của các quỹ đầu tư tùy thuộc vào hai nhân tố quyết định: “know-how” và “know-who”. Biết làm (know-how) thể hiện qua năng lực kỹ thuật nghiệp vụ tài chính-đầu tư trong từng bước triển khai từ xác định dự án, nghiên cứu khả thi, xây dựng cấu trúc vốn dự án, tới vận hành và rút vốn. Biết đúng người (know-who) thể hiện ở khả năng đưa ra các đánh giá thẩm định đáng tin cậy về năng lực sinh lợi của hoạt động kinh doanh, về nhân thân chủ dự án (thường là người sáng lập và có sở hữu lớn tại công ty nhận đầu tư) và khả năng xử lý, vượt qua khó khăn kinh doanh của họ. Hội tụ đủ cả hai yếu tố này, các quỹ đầu tư mới có thể đảm bảo cam kết những dự án chất lượng với cổ đông.
Lựa chọn đội ngũ quản lý tốt có đầy đủ phẩm chất cần thiết luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông quỹ. Với qui mô vốn huy động lớn, phần phí huy động (thường chiếm 2-4% tổng qui mô huy động) và các chi phí vận hành liên quan là những con số không nhỏ, tiềm ẩn phát sinh xung đột về lợi ích đại diện giữa những người sở hữu (cổ đông quỹ) và những người điều hành (quản lý quỹ).
|
NAVPS-Giá trị tài sản ròng trên chứng chỉ quỹ là một chỉ tiêu được sử dụng phổ biến trong đánh giá hiệu quả vận hành các quỹ đầu tư (tương hỗ, mua bán-trao đổi, quỹ đóng...). Chỉ tiêu này cũng được sử dụng với các công ty có cổ phiếu. NAVPS được tính bằng tỷ số giữa giá trị tài sản ròng của quỹ (hoặc công ty) với tổng số chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu đã phát hành. |
Hiệu quả của quỹ đầu tư được đánh giá qua nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó, phổ biến có chỉ số giá trị tài sản ròng trên chứng chỉ quỹ (Net Asset Value Per Share). Với các quỹ có đối tượng đầu tư tập trung là chứng khoán trên thị trường, xác định giá trị tài sản tương đối dễ dàng và cũng biến động thường xuyên theo vận động của thị trường. Xác định giá trị tài sản dự án phức tạp và ổn định hơn. Trong báo cáo vận hành, các quỹ đầu tư thường đưa ra con số về NAV (Giá trị tài sản ròng) tại thời điểm gần nhất. Thường xuyên theo dõi biến động các chỉ số này trong báo cáo định kỳ giúp cổ đông theo sát hiệu quả vận hành của quĩ.
Quỹ đầu tư thành lập giai đoạn 2002-2005
|
Quỹ |
Công ty |
Thành lập |
Hoạt động |
|
MekongEnterprise Fund |
Mekong Capital |
2002 |
Vốn cổ phẩn riêng lẻ |
|
IDG Vietnam Ventures Fund |
IDG Venture |
2004 |
Đầu tư công nghệ và mạo hiểm |
|
IndochinaLand Holdings |
Indochina Capital |
2005 |
Bất động sản |
|
PXP Vietnam Fund |
PXP Vietnam Asset Management |
2003 |
Cổ phiếu niêm yết, doanh nghiệp cổ phần hóa… |
|
VietnamOpportunity Fund |
Vina Capital |
2003 |
|
Vietnam Securities Investment Fund(VF1) |
Viet Fund Management |
2004 |
|
Vietnam Emerging Equity Fund |
PXP Vietnam Asset Management |
2005 |
|
Vietnam Equity Fund |
Finansa |
2005 |
Thống kê của www.saga.vn
Tín hiệu tăng trưởng khả quan của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây được cộng đồng tài chính quốc tế đánh giá cao. Những tên tuổi tài chính hàng đầu như Merill Lynch, Goldman Sachs, JP Morgan Chase đều dành mối quan tâm lớn hơn cho thị trường Việt Nam với nhiều hoạt động khảo sát. Liên tiếp các báo cáo nghiên cứu của các tổ chức này có chung đánh giá cổ vũ dòng vốn đầu tư tiếp tục chảy vào Việt Nam trong nhiều năm tới. Trên thực tế, kết quả các đợt huy động vốn cả trong và ngoài nước đều vượt kỳ vọng ban đầu.
Thời điểm giữa năm 2006, VinaCapital khai trương quỹ đầu tư bất động sản Vinaland với dự kiến huy động 50 triệu USD nhưng đã nhận được 65 triệu USD từ các nhà đầu tư. Thành công trong lần phát hành và niêm yết trên thị trường chứng khoán London của Indochina Capital Vietnam Holding Limited thể hiện tính sẵn sàng của các dòng vốn cho thị trường Việt Nam và thực sự là một bất ngờ. Trong lần phát hành này, Indochina Capital dự kiến thu hút từ 300-350 triệu USD, kết quả: quỹ này huy động được 500 triệu USD.
Số tiền 50 triệu USD còn lại trong quỹ Vietnam Opportunities Fund (VOF) cũng được VinaCapital nỗ lực giản ngân tập trung trên thị trường địa ốc và các giao dịch OTC. Quĩ đầu tư mạo hiểm DFJ-VinaCapital ra đời trong năm 2006 với tổng vốn đầu tư ban đầu 50 triệu USD. Dragon Capital ngoài VEIL (Vietnam Enterprise Investments Ltd., thành lập 1995, qui mô 190 triệu USD) và VGF (Vietnam Growth Fund Limited, thành lập 2004, qui mô 75 triệu USD) cũng giới thiệu thêm VDF (Vietnam Dragon Fund, thành lập 2005, qui mô 35 triệu USD). Mekong Capital mở rộng qui mô với 50 triệu USD cho MEFII (Mekong Enterprise Fund II). Indochina Capital góp mặt với quỹ địa ốc qui mô 42 triệu USD và quỹ chứng khoán qui mô 50 triệu USD.
Không chỉ có nguồn vốn từ bên ngoài, con số gần 20 công ty quản lý quỹ trong nước mới thành lập hứa hẹn nhiều quỹ đầu tư tiếp tục ra đời trong năm 2008. Tiếp sau “sự vụ” phát hành tăng vốn VF1, các quỹ VF2 và VF 3 đang hình thành, VietFund Management đang tích cực giới thiệu và chuẩn bị VF4, VF5 và theo như ông Trần Thanh Tân, Tổng giám đốc VFM, thì có thể còn có VF10 trong tương lai. Công ty quản lý quỹ được sáng lập bởi các tên tuổi lớn như SSI, FPT, Sabeco hẳn sẽ không chịu kém trong cuộc đua mở quỹ và huy động vốn.
|
Công ty quản lý quỹ |
Cấp phép |
Quỹ |
Vốn điều lệ |
|
Cty liên doanh quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam |
15/07/2003 |
|
100 tỷ |
|
|
|
VF1 |
500 tỷ |
|
|
|
VF2 |
33,35 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư Thành Việt |
10/11/2004 |
|
88 tỷ |
|
|
|
SFA1 |
|
|
Cty TNHH quản lý quỹ đầu tư Prudential Việt Nam |
26/5/2005 |
|
23 tỷ |
|
|
|
PRUBF1 |
500 tỷ |
|
Cty TNHH quản lý quỹ Manulife Việt Nam |
14/6/2005 |
|
26 tỷ |
|
|
|
ManulifeF |
214 tỷ |
|
Cty TNHH quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Bảo Việt |
08/11/2005 |
|
25 tỷ |
|
Cty liên doanh quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Vietcombank |
02/12/2005 |
|
8 tỷ |
|
|
|
VPF1 |
200 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Hà Nội |
16/11/2007 |
|
25 tỷ |
|
Cty Cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Bản Việt |
25/10/2006 |
|
94 tỷ |
|
Cty liên doanh quản lý quỹ đầu tư BIDV - VIETNAM PARTNERS |
06/01/2006 |
|
32 tỷ |
|
|
|
VIF |
1600 tỷ |
|
Cty TNHH liên doanh quản lý quỹ đầu tư chứng khoánAGRIBANK – VGFM |
21/12/2006 |
|
16 tỷ |
|
Cty Cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Long |
22/12/2006 |
|
40 tỷ |
|
Cty TNHH quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Bông Sen |
27/12/2006 |
|
5 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Bình |
28/12/2006 |
|
30 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư Anpha |
28/12/2006 |
|
10 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Phương Đông |
28/12/2006 |
|
6,8 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Phúc |
28/12/2006 |
|
8,1 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Hải Phòng |
29/12/2006 |
|
11 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Phú |
29/12/2006 |
|
8 tỷ |
|
Cty TNHH quản lý quỹ SSI |
03/8/2007 |
|
30 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư FPT |
25/7/2007 |
|
110 tỷ |
|
Cty TNHH quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Đông Á |
24/9/2007 |
|
30 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ Lộc Việt |
06/11/2007 |
|
25 tỷ |
|
Cty cổ phần quản lý quỹ Sabeco |
16/11/2007 |
|
25 tỷ |
Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Con số các quỹ đầu tư và qui mô vốn (dù mới chỉ là vốn điều lệ) cho thấy một thực tế: huy động vốn, trước giờ vẫn được xem như mấu chốt của các khó khăn, hóa ra không thực sự là vấn đề. Trong lúc đang chuẩn bị triển khai hoạt động tại Việt Nam của Vietnam Holding Asset Management, chúng tôi có dịp trao đổi với ông Juerg Vontobel- chủ tịch và sáng lập VNHAM. Huy động thành công 112,5 triệu USD tại châu Âu, vị chủ tịch đã từng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam từ năm 1992 chia sẻ, những nỗ lực trong hoạt động kêu gọi vốn sẽ không thấm vào đâu so với việc tìm kiếm những địa chỉ tin cậy và khả thi thương mại để đầu tư, đảm bảo cam kết lợi nhuận với các cổ đông. GS. Junichi Mori (ĐHTH Kyoto) cũng đồng tình với quan điểm này. Ở Nhật Bản hay châu Âu, cơ hội đầu tư mang lại mức lợi suất đột phá hầu như không còn, đặc biệt với khoản đầu tư từ vài chục tới trăm ngàn USD. Mức lãi suất thấp và lạm phát cũng là nhân tố thúc đẩy nhà đầu tư tại các nền kinh tế phát triển tìm kiếm cơ hội từ những nền kinh tế đang trỗi dậy như Việt Nam.
Vào và Ra: Cái gì sẽ ở lại?
Quỹ đầu tư có một đặc tính rất cần lưu ý: thời gian hoạt động hữu hạn, thông thường từ 7 đến 10 năm. Trước khi kết thúc hoạt động, đội ngũ điều hành quỹ có trách nhiệm chuyển các tài sản thành tiền cho cổ đông. Đó là cách làm bình thường của quỹ đầu tư. Như vậy, các công ty tiếp nhận đầu tư, hay rộng hơn là toàn bộ nền kinh tế, cần nhận thức rõ ràng: nguồn vốn từ các quỹ vào rồi sẽ đi ra, đặc biệt với dòng vốn huy động từ nước ngoài. Vậy cái gì sẽ ở lại?
Với vị thế một nền kinh tế thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sức ép cạnh tranh không ngừng gia tăng với cộng đồng kinh doanh Việt Nam. Cùng với việc chia sẻ sở hữu với các quỹ đầu tư, các nhà điều hành doanh nghiệp đều đặt kỳ vọng vào cơ hội mở rộng quan hệ kinh doanh, tiếp cận công nghệ quản lý và sản xuất tiến bộ, phát triển kinh doanh trong lĩnh vực mới…
Nguồn tài chính dồi dào từ các quỹ đầu tư, trực tiếp qua các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hay gián tiếp qua giao dịch cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán, đang khẳng định vai trò một kênh huy động vốn hiệu quả của doanh nghiệp nhưng rõ ràng, khi thực hiện các hợp tác chiến lược, doanh nghiệp không chỉ trông đợi vào đồng vốn. Tính chuyên nghiệp thấp tại phần đông các doanh nghiệp Việt Nam chính là điều các quỹ đầu tư lo ngại nhất. Nhiều chuẩn mực vận hành thông thường vẫn còn xa lại tại các đơn vị sản xuất kinh doanh. Các yêu cầu cung cấp thông tin và đòi hỏi khá khắt khe về qui trình vận hành từ phía người có vốn phần nào thúc ép doanh nghiệp thay đổi và hoàn thiện. Tuy vậy, năng lực thực sự cần được duy trì và bồi đắp liên tục theo thời gian.
Hoạt động quỹ đầu tư tại Việt Nam đang trong giai đoạn khởi động và bắt đầu quá trình tìm kiếm cơ hội giải ngân. Khoảng 5 đến 7 năm tới sẽ là quãng thời gian để cả người thực hiện đầu tư và người nhận đầu tư tập trung cho mục tiêu cải thiện năng lực cạnh tranh. Các hoạt động hợp tác nguồn vốn đầu tư không được xây dựng trên nguyên lý này sẽ khó đảm bảo lợi ích lâu dài cho các bên tham gia. Những “mối lương duyên” sớm kết thúc giữa TPG và FPT hay Indochina Capital và Vinamit đều là bài học còn mới. Với qui mô nền kinh tế cũng vậy, xây dựng và củng cố các giá trị cốt lõi phục vụ tăng trưởng bền vững luôn là đích đến cuối cùng! Số lượt đọc:
1026
-
Cập nhật lần cuối:
01/12/2008 04:24:24 PM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|