Lời giới thiệu
Cuốn Người trí tuệ được tác giả phân tích, lý giải và hệ thống toàn bộ những gì có liên quan đến tư tưởng con người, một vấn đề “tạo sự vĩ đại của con người” như Pascal đã nói.
Trong cuộc sống, ta vẫn hay dùng tới hai tiếng “tư tưởng”. Nhưng tư tưởng là gì? Cơ sở khoa học của nó như thế nào? Làm sao để luyện tư tưởng và tư tưởng đúng?... đó là những điều mà nhiều người còn mơ hồ. Nội dung sách sẽ giúp người đọc hiểu thêm các vấn đề đó.
Tuy là những vấn đề khoa học nhưng có tính xã hội nhân văn, do đó đòi hỏi người đọc cần có một nhận thức, quan niệm biện chứng mới tránh được những sự ngộ nhận hoặc hiểu lầm khi tiếp xúc với những lý giải của người viết và đó chính là “trí tuệ” của người đọc.
Với ý nghĩa đó, chúng tôi xin giới thiệu cuốn sách trên với bạn đọc, hy vọng giúp bạn tham khảo và tiếp thu những điều bổ ích về một lĩnh vực trừu tượng nhưng rất quan trọng đối với con người. Chắc chắn còn có chỗ chưa làm cho người đọc hài lòng, rất mong độc giả lượng thứ và góp ý trao đổi cùng chúng tôi để việc phục vụ được ngày càng tốt hơn.
Nhà xuất bản Đồng Tháp
Lời nói đầu
Có khả năng phân biệt cái gì thật là thật, cái gì giả là giả: Đó là dấu hiệu và là đặc tính của trí khôn.
Thấy ai nói nhiều, làm ít: bạn ghét. Phải. Bạn có lý vì chính hành động định nghĩa giá trị con người, thúc đẩy xã hội tiến bộ. Phocylide nói: “Bạn hãy làm việc! Bạn phải trả giá đời sống bằng hành động. Kẻ lười biếng ăn cắp xã hội”.
Mà muốn hành động đắc lực thì phải thấy ham thích, hăng say nghĩa là phải có tình cảm. Con người tuy là con vật có lý trí, hớ miệng là đòi lẽ phải, song trong thực tế sống bằng tình nhiều hơn bằng lý. H. Marion nói: “Những bộ óc vĩ đại nhất không phải là những bộ óc lạnh nhạt và phương pháp. Biết bao nhiêu chân lý khoa học được khám phá do niềm hăng say vì chân lý. Lòng yêu thương nhân loại há chẳng thúc đẩy khoa học tiến bộ hay sao, thí dụ trong y học chẳng hạn!”. Chúng ta cười một đứa trẻ ráng thuộc bài để mẹ cho một món quà! Còn người lớn không làm việc vì lòng ham danh lợi đó sao? Trong Luận ngữ, chính Khổng Tử còn bảo biết mà không học không bằng thích và vui mà học.
Hành động được lôi cuốn bằng tình cảm mà còn được thúc đẩy bằng ý chí nữa. Bộ mặt của vũ trụ được như ngày nay bạn không tính công cho nghị lực sao? Ngạn ngữ Đức nói: “Thế giới thuộc về những kẻ anh dũng”. Không nhà phát minh, nhà thám hiểm, nhà chinh phục nào thành công mà không nhờ ý chí dẻo dai. Không nhà tư tưởng, văn hào, thi bá, nghệ sỹ cũng như không bực tu hành nào làm nên nghiệp cả mà không đeo trên lưng thần nhẫn nại.
Bạn nhắc tôi: Hành động cần tình cảm, cần ý chí mà còn cần cả trực giác nữa! Phải. Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề đắc đạo cũng do trực giác. Archimede vọt ra khỏi hố tắm vừa chạy vừa la: Eureka, cũng do trực giác. Rồi định đề của Euclide, máy hơi nước của Denis Papin, bóng đèn của Edison, vô tuyến điện của Branly và kể cả Mỹ châu của Christope Clomb nữa cũng là con đẻ của trực giác! Trong cuộc sống hàng ngày vợ nghi chồng buôn lậu tình chung thủy, chồng ngờ vợ tiêu lòn tiền bạc. Thì ra, thưa bạn, hành động là quý báu, tình cảm, ý chí là động cơ mạnh nhất của hành động và trực giác đắc dụng vừa trong sáng tạo vừa trong xử thế.
Những hành động, tình cảm trực giác mà không sáng suốt, không theo lẽ phải thì nguy hiểm vô cùng. Bạn tưởng tượng được một con tàu vượt biển bão tố mà không có người hoa tiêu không? Tại sao người ta không dám giao một thanh gươm sắc cho một đứa trẻ. Chỉ tại đơn sơ là trong con người bản năng, tình cảm, ý chí và cả trực giác nữa là những sức mạnh tuy phong phú, tối cần mà mù quáng. Nó cần những ý tưởng, phán đoán, lý luận chỉ đường dẫn lối; tức là cần trí tuệ. Chính trí năng này là điều kiện để con người khác thú vật. Aristote định nghĩa con người là con vật có lý trí. Từ chỗ có lý chí nghĩa là có tư tưởng đi đã rồi mới có được những gì làm nên giá trị con người. Vì đó Pascal quả quyết tất cả nhân phẩm nằm trong con người. Thì bạn thử nghĩ coi:
Một cá nhân không biết sở năng, sở thích của mình cùng với hoàn cảnh của mình, chọn nghề sai, kết quả cuộc đời họ ra sao?
Một người cha gia đình ngu dốt trong việc giáo dục con cái, hướng nghiệp chúng lạc đường, đưa chúng vào con đường hôn nhân mù quáng. Kết quả của chúng sẽ ra sao?
Làm nhà giáo, làm văn hóa gieo rắc những tư tưởng sai lầm, những tà thuyết, những món ăn đầu độc tinh thần tuổi trẻ và bao nhiêu thế hệ độc giả. Dân tộc sẽ lãnh hậu quả gì?
Điều binh khiển tướng mà chiến lược vụng, chiến thuật non, sinh mạng quân sĩ sẽ ra sao? Còn chính nghĩa sẽ về đâu?
Lãnh đạo quốc gia, cầm lái nội các mà quan niệm sai lầm về chủ thuyết quốc gia, về chủ trương, đường lối, nhất là về toàn bộ chính sách thì công cuộc cứu quốc, kiến quốc sớm muộn gì cũng thất bại thê thảm không?
Đấy! Tư tưởng quan trọng như vậy, trí tuệ là mẹ đẻ của tư tưởng quan trọng như vậy mà mỗi người chúng ta có luyện chu đáo không?
Dưới mái gia đình ta được chú trọng về thể dục theo nghĩa rộng, về đức dục thông dụng. Cha mẹ mong nhà trường giáo dục hoàn bị cho ta? Phần cha mẹ lo cung cấp.tiền bạc và thỉnh thoảng ban bố những lời khuyên…
Ở trường hệ thống mẫ, tiếu, trung và đại học luyện trí cho ta thế nào? Ta chỉ bàn về luyện trí mà thôi đó. Xưa nay không riêng gì ở Việt Nam mà ở vô số những quốc gia trên thế giới, nền giáo dục cũng mang tiếng là nền giáo dục chủ trí, nghĩa là chỉ biết luyện trí mà cẩu thả rèn luyện các khả năng khác trong con người. Thế mà nếu xét kỹ thì ngay luyện trí người ta cũng khong làm cho ra hồn nữa.
Luyện trí, nhà trường cũ hiểu đơn sơ là nhồi sọ bằng những kiến thức về một số môn học nào đó. Trí nhớ được coi như là được quan tâm nhất. Nhưng nó cũng được sử dụng như cái kho lưu trữ kiến thức chớ chính nó cũng không mấy khi được luyện tập. Phần đông chúng ta cứ lo học thuộc lòng, cứ lo nhớ chớ mấy ai được tập nhớ theo một phương pháp ký ức nào đâu? Rồi nhìn chung các môn học ở trường nhất là trong trung và đại học, thấy có vài ba môn luyện trí một cách gián tiếp thôi.
Mấy năm học toán ta cố tập suy diễn, học vạn vật, lý hóa, ta có học tập quy nạp, thực nghiệm mà chỉ tập qua loa khi nào cần đến chứng minh, thí nghiệm. Vả lại đâu phải ai trong chúng ta đều được dịp may học các môn ấy.
Còn môn luân lý học, khi chuẩn bị thi tú tài toàn phần, đáng lẽ phải được dạy vừa lý thuyết vừa thực hành thì hỡi ôi, óc ta được coi như cái gối để người ta dồn vào đó cái biết về khoa luận lý hơn là suy tưởng, phán đoán, lý luận. Ta biết rành về triết gia nàysuy tửng cái gì, ta trả bài vanh vách nhà tư tưởng kia phán đoán đúng, lý luận ngụy biện ở đâu mà chính ta không được tập suy tưởng, không được phán đoán đúng, lý luận chặt chẽ.
Đến khi lên đại học, chỉ khác ở chỗ thay vì học nhiều môn, cái gì cũng biết qua loa mà không cái gì biết cụ thể cả thì người ta mới đào sâu một môn. Khác là chỗ chuyên môn chứ phương pháp thì vẫn là phương pháp nhồi sọ. Còn ra đời thì sao?
Có hai lớp.ngưới đáng ta lưu ý về phương diện tư tưởng. Lớp thứ nhất là lớp có bằng cấp trung hay đại học. Lớpnày dĩ nhiên là có vốn văn hóa, trí nhớ đầy kiến thức chuyên môn, chỉ tiếc một điều là được dạy học chứ không được dạy cách học, được dạy cho biết nhiều chứ không được dạy cách dùng, cách sống điều mình học và điều tai hại nhất là chỉ được luyện trí theo cách nói trên mà không được luyện nhiều các phương diện khác như ý chí, lương tâm, lương tri, tình cảm, xã giao, nói trước công chúng, tổ chức lãnh đạo, dùng người, hôn nhân, hướng nghiệp…
Lớp thứ hai là lớp thi rớt hay là lớp thất học. Lớp này chiếm đa số. Họ có thể thua lớp trên về sở học chuyên môn nhưng đại khái cũng là nạn nhân như lớp trên về các khoa học thành công và về óc phán đoán, óc lý luận.
Chung quy ở trường ra, người ta ngơ ngác trước thềm cuộc đời đòi hỏi đủ thứ chuẩn bị. Trong công sở, lúc thi hành bổn phận, lúc làm ăn hay xử thế, người ta vận dụng trực giác và tình cảm thường hơn là lý trí.
Dụng nhân chẳng hạn, người ta dùng trực giác đoán mờ, dựa trên vài ba dấu hiệu nào đó rồi kết luận người này tốt, kẻ kia có tài.Mà tâm tính với đức tài có phải dễ bắt mạch như vậy đâu.
Khi đối xử với các hạng người xung quanh, ta bị dục tình chi phối.Ta muốn sự việc thế này thế nọ, chớ không khách quan nhận nó xảy ra như nó xảy ra. Ta sống và hành động theo lý của con tim nhiều hơn là lý của lý trí.
Đó là chưa nói đến số nguyên nhân ảnh hưởng bao vây ta, khiến ta lười tư tưởng, ỷ lại kẻ khác phán đoán thế cho mình, bị đạo này dạo nọ, chủ nghĩa kia bóp méo đầu óc nên lý luậnchủ quan, lý luận một chiều, lý luận ngụy biện, có khi biết phải quấy mà nghẹt cỏ vì sợ bị tai bay vạ gởi.
Trí tuệ cần được đào luyện: mà phải làm sao? Ở nước mình, không phải không có sách nhắm mục đích đó. Có điều sách viết về luận lý học dạy ở nhà trường thì nặng lý thuyết quá, đọc để thi cử thì hữu hiệu mà để có bộ óc suy nghĩ sâu sắc, phán đoán chính chắn, lý luận bén nhọn thì hơi ngờ. Cũng có đôi ba cuốn nặng về thực hành nhưng lại lỏng lẻo về phương diện triết học.
Tập sách này đến tay bạn không có cao vọng đầy đủ hơn các cuốn cùng loại đã ra mà chỉ mong tối thiểu giúp cho người cần tư tưởng một toát yếu vừa chú trọng lý thuyết vừa chú trọng thực hành, nhất là thực hành về khoa tư tưởng.
Trong phần lý thuyết bạn sẽ thấy tư tưởng được đề cập nhiều chỗ rất chuyên môn, thuộc trình độ đại học về triết.
Trong phần thực hành bạn sẽ thấy những cách luyện tư tưởng vừa thể theo những định luật phán đoán, lý luận vừa thể theo những thể cách ngoại lai căn cứ trên kinh ngiệm sống thực.
Tuần tự trong 10 chương sau chúng ta sẽ thảo luận về: Bản chất của tư tưởng, tại sao phải luyện tư tưởng, đối chiếu với ngôn ngữ và chân lý, khí cụ để tư tưởng tức Trí tuệ hay là Lý trí, tư tưởng do lối thường nghiệm, do lối suy luận, một số bệnh của tư tưởng, sau hết là cách tổ chức và củng cố tư tưởng.
Loại sách bạn đang cầm đây có thể viết thành những quyển 300 hay vài ngàn trang. Chẳng hạn như Guitton nói, người ta có thể duyệt qua “Phản ứng của Socrate, biện chứng của Platon, luận lý của Aristote, hướng thượng của Augustin, phương pháp của Descartes, hệ thống của Kant, tam đề của Hegel hay của Comte, ẩn dụ của Bergson, phân tâm học của Freud hay những dọ dẫm của những nhà hiện sinh”.
Ở đây tôi không nuôi cao vọng làm nhà tư tưởng và sách mà chỉ mong sao bạn đọc nó mà từ đây bạn tư tưởng bớt sai lầm. Chỉ mong có vậy.
Tôi nói bớt sai lầm là bạn biết tại sao rồi. Ngay Einstein mà còn tự thú trong 100 lần tư tưởng có gần trăm lần sai.
Sau hết vì tha thiết nghĩ đến tương lai bạn cùng tiền đồ dân tộc. tôi muốn gửi tập sách mỏng này riêng cho chính bạn. Ngày xưa Aristote viết cho Nicomaque, Séneque viết cho Helvia, Francois de Sales viết cho Philothee và gần đây Guillon viết cho Irene. Tôi không dám sánh mình với các bậc lỗi lạc ấy. Nhưng tôi bắt chước họ ở chỗ tôi muốn chân thành nói chuyện với những người đọc của mình. Người đọc đó, tôi lặp lại là bạn. Bây giờ xin thành khẩn mời bạn lật tiếp các trang sau. Thân ái.
HOÀNG XUÂN VIỆT
Mục lục
Lời nói đầu
Tựa
Chương I: Định nghĩa tư tưởng
Chương II: Tại sao phải luyện tư tưởng?
-
Tư tưởng tạo sự vĩ đại cho con người
-
Tư tương sâu sắc là chìa khóa của thành công và hạnh phúc
-
Tư tưởng không được huấn luyện dễ bị sai lầm
-
Tư tưởng vững thì vốn học, sự nghiệp vững
-
Luyện tư tưởng cũng là tạo tư cách
-
Luyện tư tưởng để phục vụ chân, thiện, mỹ
-
Luyện tư tưởng vì bản tính con người lười suy nghĩ, ưa tin vội và phán đoán vô căn cứ
-
Trí tuệ cũng cần luyện như bao nhiên quan năng khác
Chương III: Tư tưởng và ngôn ngữ
I. Ký hiệu
-
Định nghĩa
-
Tâm lý của ký hiệu
II. Ngôn ngữ
-
Định nghĩa
-
Phân loại
-
Nguồn gốc
-
Quá trình ngôn ngữ nơi con người
III. Tương quan giữa tư tưởng và ngôn ngữ
-
Tư tưởng tạo ngôn ngữ
-
Ngôn ngữ tạo tư tưởng
Chương IV: Tư tưởng và chân lý
-
Định nghĩa chân lý
-
Phân loại chân lý
-
Chân nghĩa của tư tưởng
-
Chân lý trong phán đoán
-
Vai trò của hữu. thể trong chân lý
-
Tư tưởng và sai lầm
-
Siêu việt tính của chân lý
-
Chân lý và đời sống tinh thần
Vài quan niệm về chân lý
-
Duy dụng thuyết Mỹ
-
Duy dụng thuyết Pháp
-
Biện chứng pháp
-
Hiện sinh thuyết
Chương V: Khí cụ để tư tưởng: Trí tuệ hay lý trí.
-
Định nghĩa vài danh từ: Linh hồn - Tinh thần - Tâm hồn - ý thức
-
Trí tuệ
-
Vấn đề trí tuệ nơi thú vật
-
Trí tuệ con người
-
Mấy tiếng đồng nghĩa: Lĩnh hội – Phán đoán – Lý trí
Chương VI: Luyện tư tưởng do lối thường nghiệm
1. Trí giác
-
Khả cảm tính
-
Cảm giác
-
Giác quan
-
Định nghĩa tri giác
-
Sai lầm của giác quan
I2. Trí nhớ
-
Định nghĩa
-
Vài chủ trương về hồi sinh của dĩ vãng
-
Năm giai đoạn của hoài niệm
-
Mấy hình thức của ký ức
-
Bệnh của trí nhớ
-
Mấy vấn đề triết về trí nhớ
-
Luyện trí nhớ là luyện tư tưởng
3. Trí tưởng tượng
-
Định nghĩa
-
Hình thức hạ đẳng của tưởng tượng
-
Hình thức thượng đẳng của tưởng tượng
-
Tưởng tượng sáng tạo là gì?
-
Lề luật phân tích và tổng hợp
-
Hình thức của tưởng tượng sáng tạo
-
Vấn đề thiên tài
-
Tưởng tượng và lý tưởng
Chương VII: Luyện tư tưởng do lối suy luận
1. Ý tưởng
-
Ý tưởng và ảnh hưởng
-
Ý tưởng và trừu tượng hóa
-
Ý tưởng và tổng quát hóa
-
Ý tưởng với loại và giống
-
Ý tưởng và ngôn ngữ
-
Hai loại ý tưởng
2. Lý trí
-
Định nghĩa
-
Những nguyên lý sơ thủy
-
Hiện hữu và nguyên lý đồng nhất
-
Chân lý và nguyên lý túc lý
-
Biến đổi và nguyên lý nhân quả
-
Vĩnh cửu và nguyên lý bản thể
-
Cái thiện và nguyên lý cứu cánh
-
Lương tri và các đặc tính của nó
3. Tin tưởng
-
Các giai đoạn tiến đến xác thực tính
-
Những quả quyết tự phát đầu tiên
-
Tư tưởng suy luận
-
Tin tưởng và xác thực tính
-
Hình thức tin tưởng.
4. Óc phán đoán
A. Vấn đề liên tưởng
-
Định nghĩa
-
Vai trò của liên tưởng
-
Hai loại liên tưởng
-
Quy luật của liên tưởng
B. Phán đoán
-
Định nghĩa
-
Vai trò của phán đoán
-
Bản chất của mệnh đề
-
Phân loại mệnh đề
-
Đặc tính luận lý của mệnh đề
a. Đặc tính của thuộc từ
b. Đối lập và chuyển hoán của mệnh đề
-
Làm sao luyện phán đoán
a. Phán đoán bằng óc chớ đừng bằng tim
b. Phải tin mình có thể lầm
c. Đề phòng thành kiến
d. Thiếu tài liệu chứng cớ thì đừng quyết đoán
V. Óc lý luận
A. Bản chất của lý luận
-
Khái niệm lý luận của lý luận
-
Cơ cấu tâm lý của lý luận
-
Chất và mô trong lý luận
-
Lý trí và lý luận
-
Then máy luận lý của lý luận
-
Diễn dịch hay tam đoạn luận
a. Tam đoạn luận tuyệt đối
b. Tam đoạn luận biến thể
c. Phân loại tam đoạn luận.
-
Quy nạp pháp
A. Khái niệm về quy nạp pháp
B. Phân loại quy nạp
C. Nguyên lý tối thượng của quy nạp
D. Định luật của quy nạp
-
Loại suy pháp
Chương VIII. Một số bệnh của tư tưởng
1. Bệnh sái trí
2. Bệnh mê tín
-
Mê tín chuyện huyền bí
-
Mê tín dư luận
-
Mê tín công lý
-
Mê tín quảng cáo
-
Mê tín bằng cấp
-
Mê tín quyền thế
-
Mê tín chủ nghĩa
-
Mê tín danh ngôn.
3. Bệnh thành kiến.
4. Bệnh loạn ngôn
5. Bệnh lạc đề
Chương IX: Tổ chức cơ sở tư tưởng
1. Minh chứng
2. Lý luận cái nhiên
3. Ngụy biện
4. Tập trung tinh thần
5. Quan sát và ngạc nhiên
Chương X: Củng cố tư tưởng
-
Luyện tâm hồn
-
Luyện tâm tính
-
Luyện ý chí
-
Thinh lặng
-
Lò kinh nghiệm
-
Đọc sách
-
Viết sách
-
Nói chuyện và nghe diễn thuyết
-
Du lịch
-
Phê bình
-
Dạy học
-
Ba định luật của Guitton:
-
Luật A: Lựa chọn
-
Luật B: Phân biệt
-
Luật C: Nói nghịch
Kết
Tia sáng Nguồn:
NXB Tổng Hợp Đồng Tháp Số lượt đọc:
1006
-
Cập nhật lần cuối:
26/06/2008 10:34:18 AM |