Quản trị doanh nghiệp (QTDN) có tầm quan trọng như thế nào trong quản lý DN? Vai trò và hiệu quả của QTDN được nhìn nhận ra sao trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu thời kỳ “hậu WTO” nói chung và tăng hệ số tín nhiệm đầu tư của DN Việt Nam trên TTCK trong mắt nhà đầu tư nói riêng?
Quản trị và quản lý: Ai quan trọng hơn?
Theo ông Jamie Allen, Tổng thư ký Hiệp hội Điều hành DN châu Á (ACGA), là quốc gia đi sau trong phát triển kinh tế, Việt Nam có lợi thế trong việc lựa chọn mô hình quản trị tốt nhất để áp dụng. Về cơ bản, QTDN là hành động điều khiển, kiểm soát DN một cách chặt chẽ. Nếu quản lý là điều hành một công ty, thì quản trị DN chính là định hướng quản lý đó đúng theo chiến lược đề ra. Nói cách khác, QTDN là giám sát quản lý và dẫn dắt quản lý đi đúng quỹ đạo.
Bàn về tính hiệu quả của việc áp dụng QTDN, ông Lê Song Lai, Phó tổng giám đốc TCT Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cho biết, nghiên cứu của Công ty CLSA Emerging Markets Hongkong cho thấy, các công ty hàng đầu về QTDN có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 2 lần mức lợi nhuận bình quân và gấp 5 lần các công ty có tiêu chuẩn QTDN thấp. Ngoài ra, QTDN tốt còn giúp DN quy định rõ trách nhiệm cá nhân, qua đó phát hiện, hạn chế rủi ro trong kinh doanh và điều hành nội bộ.
Ở khía cạnh nào đó, QTDN đang được nhìn nhận là một lợi thế cạnh tranh mới đối với DN Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sân chơi toàn cầu hiện nay. Thực chất, nguyên lý quản trị chính là nền tảng hình thành văn hóa công ty, xây dựng nét đặc trưng riêng cho từng DN được nhìn nhận dưới góc độ lợi thế so sánh. Ở khía cạnh một công ty niêm yết, ông Trần Vĩnh Đức, Tổng giám đốc Bảo Minh cho rằng, QTDN làm tăng thêm 10 - 12% giá trị DN. “Thử tính với quy mô giá trị hàng nghìn tỷ đồng hiện nay trong các DN vốn nhà nước thuộc SCIC nếu thực thi tốt QTDN, thì lợi ích đem lại còn lớn hơn giá trị kinh doanh nhiều lần. Xu thế hội nhập toàn cầu đang làm xuất hiện xu hướng đa sở hữu. Ngoài vốn nhà nước, vốn cá nhân, đã xuất hiện các nhà đầu tư nhỏ lẻ thông qua TTCK và một loạt loại hình đầu tư khác đều có thể tham gia góp vốn cho hoạt động DN. Vì vậy, để xây dựng lòng tin cho cổ đông, không gì khác hơn là DN đó phải có hệ thống quản trị chặt chẽ, hiệu quả”, ông Đức nói.
Nhận diện những trở ngại
Tính hiệu quả của QTDN gần như là điều được khẳng định. Thế nhưng, thực tế tại Việt Nam, theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) về quản trị công ty năm 2006, nếu so sánh với các chuẩn mực, nguyên tắc quản trị của các nhà quản trị quốc tế, thì hầu hết chuẩn mực, nguyên tắc, đặc biệt là tính minh bạch và công bố thông tin, không được tuân thủ hoặc căn bản chỉ tuân thủ được một phần.
Kết quả khảo sát quy mô và chuyên sâu đầu tiên về thực tiễn QTDN ở Việt Nam mới đây của Công ty Đầu tư tài chính quốc tế (IFC) cho thấy, có tới 58% số DN được điều tra chưa hiểu hết về công tác quản trị. Điều đó cũng gián tiếp cho thấy, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam chưa được cải thiện nhiều và rất cần được cảnh báo với cộng đồng DN.
Bàn thêm về những tồn tại trong QTDN hiện nay tại Việt Nam, ông Lê Song Lai cho rằng, thực tế trong khi xu hướng đa dạng hóa sở hữu đang ngày càng trở nên phổ biến và vai trò nhà đầu tư ngày càng được nâng cao, thì quyền lợi của nhà đầu tư lại chưa được bảo vệ. “Nếu như các công ty niêm yết bị giám sát bởi một loạt cơ chế pháp lý, thì ngược lại, hệ thống QTDN trong các DN OTC, DN chưa niêm yết hoàn toàn sơ sài, thậm chí nhiều DN còn chưa tuân thủ ác chuẩn mực kế toán và hoàn toàn không hưởng ứng việc minh bạch thông tin (hai trong những yếu tố chủ chốt quyết định sự thành, bại của QTDN)”, ông Lai nói và cho rằng, hiện nay, giám sát HĐQT được thực thi trong hầu hết DN chủ yếu mang tính hình thức.
Cách nào ứng dụng QTDN hiệu quả?
Theo khuyến cáo của WB, ở tầm vĩ mô, Chính phủ cần xây dựng và ban hành bộ nguyên tắc quản trị công ty, trong đó bàn luận tới quyền và nghĩa vụ của các thành viên cổ đông công ty, HĐQT, mối quan hệ của nó với ban giám đốc điều hành, mối quan hệ với các cổ đông, đối tượng khác. Mặt khác, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, khu vực tư nhân, viện nghiên cứu, các trường đại học... trong việc nâng cao nhận thức và cải cách về pháp lý.
Ở giác độ DN, theo ông Lê Song Lai, chìa khóa giải quyết mọi vấn đề luôn là con người. Nói cách khác, đầu tư đào tạo chuyên biệt cho các thành viên tham gia HĐQT là điều không thể bỏ qua.
Rõ ràng, các giải pháp cải thiện trên hoàn toàn không mới, nhưng vấn đề đặt ra là trong bối cảnh chung, thì các DN Việt Nam, các cơ quan nhà nước, các tổ chức nên có sự phối hợp như thế nào, phải bắt đầu từ đâu và ai sẽ là người “khởi xướng”? "Chìa khóa" tăng năng lực cạnh tranh Quản trị doanh nghiệp (QTDN) có tầm quan trọng như thế nào trong quản lý DN? Vai trò và hiệu quả của QTDN được nhìn nhận ra sao trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu thời kỳ “hậu WTO” nói chung và tăng hệ số tín nhiệm đầu tư của DN Việt Nam trên TTCK trong mắt nhà đầu tư nói riêng? Quản trị và quản lý: Ai quan trọng hơn?
Theo ông Jamie Allen, Tổng thư ký Hiệp hội Điều hành DN châu Á (ACGA), là quốc gia đi sau trong phát triển kinh tế, Việt Nam có lợi thế trong việc lựa chọn mô hình quản trị tốt nhất để áp dụng. Về cơ bản, QTDN là hành động điều khiển, kiểm soát DN một cách chặt chẽ. Nếu quản lý là điều hành một công ty, thì quản trị DN chính là định hướng quản lý đó đúng theo chiến lược đề ra. Nói cách khác, QTDN là giám sát quản lý và dẫn dắt quản lý đi đúng quỹ đạo.
Bàn về tính hiệu quả của việc áp dụng QTDN, ông Lê Song Lai, Phó tổng giám đốc TCT Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cho biết, nghiên cứu của Công ty CLSA Emerging Markets Hongkong cho thấy, các công ty hàng đầu về QTDN có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 2 lần mức lợi nhuận bình quân và gấp 5 lần các công ty có tiêu chuẩn QTDN thấp. Ngoài ra, QTDN tốt còn giúp DN quy định rõ trách nhiệm cá nhân, qua đó phát hiện, hạn chế rủi ro trong kinh doanh và điều hành nội bộ.
Ở khía cạnh nào đó, QTDN đang được nhìn nhận là một lợi thế cạnh tranh mới đối với DN Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sân chơi toàn cầu hiện nay. Thực chất, nguyên lý quản trị chính là nền tảng hình thành văn hóa công ty, xây dựng nét đặc trưng riêng cho từng DN được nhìn nhận dưới góc độ lợi thế so sánh. Ở khía cạnh một công ty niêm yết, ông Trần Vĩnh Đức, Tổng giám đốc Bảo Minh cho rằng, QTDN làm tăng thêm 10 - 12% giá trị DN. “Thử tính với quy mô giá trị hàng nghìn tỷ đồng hiện nay trong các DN vốn nhà nước thuộc SCIC nếu thực thi tốt QTDN, thì lợi ích đem lại còn lớn hơn giá trị kinh doanh nhiều lần. Xu thế hội nhập toàn cầu đang làm xuất hiện xu hướng đa sở hữu. Ngoài vốn nhà nước, vốn cá nhân, đã xuất hiện các nhà đầu tư nhỏ lẻ thông qua TTCK và một loạt loại hình đầu tư khác đều có thể tham gia góp vốn cho hoạt động DN. Vì vậy, để xây dựng lòng tin cho cổ đông, không gì khác hơn là DN đó phải có hệ thống quản trị chặt chẽ, hiệu quả”, ông Đức nói. Nhận diện những trở ngại
Tính hiệu quả của QTDN gần như là điều được khẳng định. Thế nhưng, thực tế tại Việt Nam, theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) về quản trị công ty năm 2006, nếu so sánh với các chuẩn mực, nguyên tắc quản trị của các nhà quản trị quốc tế, thì hầu hết chuẩn mực, nguyên tắc, đặc biệt là tính minh bạch và công bố thông tin, không được tuân thủ hoặc căn bản chỉ tuân thủ được một phần.
Kết quả khảo sát quy mô và chuyên sâu đầu tiên về thực tiễn QTDN ở Việt Nam mới đây của Công ty Đầu tư tài chính quốc tế (IFC) cho thấy, có tới 58% số DN được điều tra chưa hiểu hết về công tác quản trị. Điều đó cũng gián tiếp cho thấy, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam chưa được cải thiện nhiều và rất cần được cảnh báo với cộng đồng DN.
Bàn thêm về những tồn tại trong QTDN hiện nay tại Việt Nam, ông Lê Song Lai cho rằng, thực tế trong khi xu hướng đa dạng hóa sở hữu đang ngày càng trở nên phổ biến và vai trò nhà đầu tư ngày càng được nâng cao, thì quyền lợi của nhà đầu tư lại chưa được bảo vệ. “Nếu như các công ty niêm yết bị giám sát bởi một loạt cơ chế pháp lý, thì ngược lại, hệ thống QTDN trong các DN OTC, DN chưa niêm yết hoàn toàn sơ sài, thậm chí nhiều DN còn chưa tuân thủ ác chuẩn mực kế toán và hoàn toàn không hưởng ứng việc minh bạch thông tin (hai trong những yếu tố chủ chốt quyết định sự thành, bại của QTDN)”, ông Lai nói và cho rằng, hiện nay, giám sát HĐQT được thực thi trong hầu hết DN chủ yếu mang tính hình thức. Cách nào ứng dụng QTDN hiệu quả?
Theo khuyến cáo của WB, ở tầm vĩ mô, Chính phủ cần xây dựng và ban hành bộ nguyên tắc quản trị công ty, trong đó bàn luận tới quyền và nghĩa vụ của các thành viên cổ đông công ty, HĐQT, mối quan hệ của nó với ban giám đốc điều hành, mối quan hệ với các cổ đông, đối tượng khác. Mặt khác, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, khu vực tư nhân, viện nghiên cứu, các trường đại học... trong việc nâng cao nhận thức và cải cách về pháp lý.
Ở giác độ DN, theo ông Lê Song Lai, chìa khóa giải quyết mọi vấn đề luôn là con người. Nói cách khác, đầu tư đào tạo chuyên biệt cho các thành viên tham gia HĐQT là điều không thể bỏ qua.
Rõ ràng, các giải pháp cải thiện trên hoàn toàn không mới, nhưng vấn đề đặt ra là trong bối cảnh chung, thì các DN Việt Nam, các cơ quan nhà nước, các tổ chức nên có sự phối hợp như thế nào, phải bắt đầu từ đâu và ai sẽ là người “khởi xướng”? Số lượt đọc:
457
-
Cập nhật lần cuối:
01/10/2008 10:13:48 AM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|