Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Lý thuyết quản lý  Lập kế hoạch  Quản lý công việc  Kiểm tra & Đánh giá  Quản trị nhân sự  Tài chính - Kế toán  Hành chính, Văn phòng
Kết quả từ điều tra VNR

Hội đồng quản trị và ban kiểm soát

VNR Research Division

Theo báo cáo thường kỳ của VNR
Gửi email  Bản in 
11:30' AM - Thứ ba, 09/12/2008

Thẩm quyền của HĐQT là rất lớn, và là “trung tâm” quyền lực của công ty, bao quát hết tất cả các lĩnh vực hoạt động của công ty từ chiến lược phát triển, kế hoạch kinh doanh, vốn , nhân lực chủ chốt cho đến công khai hóa, minh bạch hóa và kiểm tra, giám sát.

Tuy nhiên, quyền lực đó được thực hiện một cách có hiệu quả hay không lại phụ thuộc nhiều vào quy mô, cơ cấu của HĐQT, vị thế và năng lực của từng thành viên HĐQT, cũng như phương thức và cơ chế làm việc, ý thức và thái độ làm việc của từng thành viên nói riêng và của HĐQT nói chung.

1. Hội đồng quản trị: còn nặng về điều hành hơn chiến lược

Vừa qua chúng tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát về vấn đề quản trị đối với doanh nghiệp cổ phần nằm trong bảng xếp hạng VNR500 – Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Mẫu câu hỏi được gửi trực tiếp tới doanh nghiệp song hành với các cuộc phỏng vấn đại diện doanh nghiệp. Kết quả điều tra cho thấy kết quả sau:

- Một là, số lượng HĐQT ở các công ty cổ phần không lớn và có trình độ chuyên môn khá cao. Đây là điều phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo kết quả điều tra của VNR, số lượng thành viên HĐQT của các doanh nghiệp lớn trong VNR500 thường là 3 thành viên (chiếm khoảng 15% số doanh nghiệp điều tra), 5 thành viên (khoảng 67%) và 7 thành viên (khoảng 11%). Số còn lại có số thành viên từ 9-10 người.

- Hai là, đại đa số thành viên HĐQT trục tiếp làm việc tại công ty và kiêm nghiệm một hoặc một số chức danh quản lý tại công ty. Đa số thành viên HĐQT đều là các cổ đông lớn, hoặc đại diện các cổ đông lớn.

- Gần 80% chủ tịch HĐQT đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày tại công ty.

- Số lượng thành viên không điều hành trong HĐQT là rất hạn chế. Đồng thời, vị trí của các thành viên không điều hành trong HĐQT thường thấp hơn nhiều so với Chủ tịch HĐQT và các thành viên điều hành khác. Điều này không phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, nơi HĐQT của các công ty cổ phần phần lớn thường có tỷ lệ 30% thành viên không điều hành.

Cơ cấu, số lượng và thành phần của HĐQT có thể dẫn đến một số hệ quả sau đây:

- HĐQT có tính “tập quyền”, nắm giữ và chi phối quyền của Đại hội đồng cổ đông, quyền của bản thân HĐQT, và quyền điều hành của Giám đốc. Trên thực tế, trong hầu hết các công ty cổ phần, thành viên hôi đồng quản trị đều là các cổ đông lớn. hoặc đại diện các cổ đông lớn của công ty. Thêm vào đó các thành viên hội đồng quản trị đều tham gia trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của công fy. Do đó, trong các công ty nói trên, không những không có sự tách biệt rõ nét giữa sở hữu và quản lý, mà còn không có sự tách biệt giữa quản lý và điều hành. Chủ tịch Hội đồng quản trị thường kiêm giám đốc điều hành và là người đại diện theo pháp luật của công ty.

- Trong cơ cấu nói trên, rõ ràng vai trò và địa vị thực tế của HĐQT bị xem nhẹ, và ngược lại HĐQT lại không thực hiện được đầy đủ vai trò của mình trong quản trị công ty. Các thành viên HĐQT đã phải tập trung nhiều hơn vào công tác điều hành; và ít hoặc thậm chí không chú ý đến vai trò định hướng chiến lược và giám sát, đảm bảo công ty phát triển phù hợp với chiến lược. Thêm vào đó, các thành viên HĐQT thường chịu ảnh hưởng nhiều bởi chính lợi ích của cổ đông lớn hơn là phục vụ cho chính lợi ích của công ty và những người khác có liên quan. Trong điều kiện nói trên, yêu cầu phải có thành viên "độc lập" hay thành viên không điều hành trong HĐQT còn hết sức xa lạ đối với các công ty niêm yết.

- Chưa có cơ chế và tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của HĐQT nói chung và từng thành viên HĐQT nói riêng, hiệu quả nay kết quả hoạt động của HĐQT chưa được đánh giá. Điều đó góp phần làm cho chế độ trả lương và lợi ích khác đối với thành viên HĐQT chưa rõ ràng, chưa cụ thể và hợp lý. Đây có lẽ là một trong số các nguyên nhân làm cho các thành viên HĐQT chưa sẵn sàng tách ra khỏi công tác điều hành để chuyên trách vào các vấn đề chiến lược và kiểm soát.

- Hoạt động thực tế của HĐQT có vẻ thiên 1ệch, thiên về điều hành hơn là hoạch định chiến lược và giám sát thực thi chiến lược phát triển công ty. Ngoài chủ tịch HĐQT, các thành viên khác có thể làm việc thụ động trong vai trò là thành viên HĐQT, mà chủ yếu tập trung vào quản lý điều hành công việc cụ thể được giao.

- Nguy cơ lạm dụng quyền lực của HĐQT nói chung và của Chủ tịch HĐQT nói riêng để thu lợi riêng cho mình và cho người khác là rất lớn. Quan sát thực tế cho thấy việc lạm dụng quyền lực của HĐQT ở các công ty cổ phần đã xảy ra; và các hình thức lạm dụng thường thấy là kiến nghị phát hành cổ phiếu ưu đãi cho thành viên HĐQT (và chính họ cũng là cổ đông bỏ phiếu cho kiến nghị đó); kiến nghị ưu đãi riêng cho người lao động, trong đó, họ được hưởng phần nhiều hơn so với người lao động bình thường khác; thực hiện giao dịch nội gián; sử dụng thông tin, bí quyết và cơ hội kinh doanh của chính công ty phục vụ lợi ích cho riêng mình và các bên có liên quan.

- Các cổ đông trong các công ty, kể cả một số công ty niêm yết có xu hướng thiên về lợi ích ngắn hạn của riêng mình mà không chú ý đúng mức đến lợi ích phát triển lâu dài của công ty và của chính họ.

- Có khả năng là cơ cấu quản trị do một số ít người trong cuộc thâu tóm hầu như tất cả quyền lực trong công ty. Kiểm soát bên ngoài chưa hình thành hoặc kém hiệu lực. Nguy cơ lạm dụng quyền lực của những cố đông đa số là khá lớn. Hình thức lạm dụng có thể biến tướng , đa dạng và tinh vi; không dễ dàng nhận biết được. Những lạm dụng đó dù dưới bất kỳ hình thức nào đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển lâu dài của công ty; làm hại đến lợi ích của cổ đông, của các bên liên quan và của cả nền kinh tế nói chung.

2. Ban kiểm soát còn hoạt động hình thức và kém hiệu quả

Về hình thức, cơ cấu quản lý nội bộ của các công ty cổ phần là hợp lý và cân bằng. Ban kiểm soát thực hiện vai trò giám soát và kiểm soát nội bộ; trực tiếp giám sát HĐQTvà Giám đốc điều hành. Ban kiểm soát có vai trò và địa vị ngang hàng với HĐQT, cùng chịu trách nhiệm trước cổ đông trong thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình.

Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã bổ sung nhiều quy định với nội dung tương đối chi tiết và rõ ràng về địa vị pháp lý, cơ cấu, quyền và nhiệm vụ, cách thức hoạt động của Ban kiểm soát. Mục đích của sự thay đổi đó là nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của Ban kiểm soát trong kiểm soát nọi bộ công ty. Tuy vậy, thực tế cho đến nay có thể nói, kiểm soát nội bộ trong các công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng vẫn còn hình thức và kém hiệu lực.

Trước hết, thành viên Ban kiểm soát vẫn thường do chính các thành viên HĐQT chỉ định. Như trên đã nói, thành viên HĐQT thường cũng chính là các cổ đông lớn, và họ tự bầu cho mình làm thành viên HĐQT và đồng thời, có ảnh hưởng quyết định đến việc lựa chọn và bầu thành viên Ban kiểm soát. Kiểu quản lý theo thuận tiện nói trên có lẽ cũng ảnh hưởng đến cách lựa chọn và bổ nhiệm thành viên Ban kiểm soát.

Cho đến nay, thành viên Ban kiểm soát đều là người lao động trong công ty. Như vậy, họ chỉ là kiểm soát viên kiêm nhiệm, và nhiệm vụ chính của họ có lẽ không phải là thực hiện giám sát quản lý nội bộ công ty, mà là thực hiện các công việc với vai trò là người lao động trông công ty.

Như vậy, các thành viên ban kiểm soát là không độc lập, họ là những người cấp dưới và hoàn toàn phụ thuộc vào các thành viên HĐQT, giám đốc điều hành. Họ cũng không phải là người chuyên trách, có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm nghề nghiệp ; không chuyên trách kiểm soát nội bộ công ty.

Với các đặc điểm nói trên, Ban kiểm soát trên thực tế đã không làm được chức năng, nhiệm vụ như luật định; và trở nên hình thức, thường chỉ là người “đóng dấu” cho HĐQT và Giám đốc điều hành mỗi khi cần thiết.

3. Chưa kiểm soát được các giao dịch của công ty với các bên có liên quan

Cũng như ở hầu khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ khác, luật Doanh nghiệp nước ta ngay từ đầu đã không cấm các giao dịch giữa công ty với các bên có liên quan. Điều đó xuất phát từ những lý do rất thực dụng. Đó là thành viên HĐQT, những người quản lý cao cấp và các cổ đông lớn thường là những bạn hàng mà các công ty nhỏ phải giao dịch. Những khách hàng bên ngoài thường không đánh giá được triển vọng của họ hoặc các công ty này buộc phải cung cấp các bí mật kinh doanh hoặc kế hoạch bí mật để đổi lại niềm tin của bạn hàng. Thông thường, các giao dịch loại này có thể sinh lợi cao hơn cho công ty so với các giao dịch với những bạn hàng có ít thông tin từ bên ngoài. Công bằng mà nói, thì cấm giao dịch với các bên có liên quan cũng không thể có hiệu lực.

Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy đinh khá chi tiết và cụ thể các bên có liên quan của công ty và cả chế độ, cách thức kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan. Tuy vậy, trên thực tế, kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan ở nước ta còn hết sức yếu kém, thậm chí có thể nói chưa hiện diện trong chế độ quản trị các công ty ở nước ta. Trước hết, các cổ đông, các thành viên HĐQT và những quản lý khác, các cơ quan thực thi pháp luật và xã hội nói chung chưa thực sự ý thức được sự tồn tại và tác hại đối với lợi ích của công ty, của cổ đông và những người khác, nếu giao dịch của công ty với các bên có liên quan bị lam dụng. Trên thực tế, trong hầu hết các trường hợp, các công ty chưa xác định cụ thể các đối tượng thuộc diện các bên có liên quan của công ty. Chưa có cơ chế và cách thức thu thập, tập hợp, lưu trữ và quản lý "hồ sơ" về các bên có liên quan, chưa xác định danh tính cụ thể của từng bên có liên quan của công ty v.v… Vì vậy chưa xác định được cụ thể các giao dịch cần kiểm soát với các bên có liên quan.

Như vậy có thể nói, yêu cầu công khai hóa và kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan hầu như chưa thực hiện được. Đây thực sự đang là một lỗ hổng lớn trong khung quản trị công ty hiện nay ở nước ta.

Số lượt đọc:  919  -  Cập nhật lần cuối:  09/12/2008 01:29:01 PM
Ý kiến của bạn:
Góc tư vấn
Kinh tế Việt Nam sẽ sáng sủa hơn vào cuối năm nay
TS Alan Phan: "Năm nay nhiều người mất tiền, nhiều người kiếm tiền"
Quản trị vốn vô hình
Nguồn nhân lực - chìa khóa của sự chuyển đổi
“Tôi không bi quan, tôi tự tin!”
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ