Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Văn hóa doanh nghiệp  Tầm nhìn tổ chức  Kỹ năng lãnh đạo  Quản trị Thay đổi  Gương lãnh đạo

Xây dựng đạo đức kinh doanh

Quý NgôGửi email  Bản in 
04:20' PM - Thứ sáu, 01/08/2008

Đạo đức trong kinh doanh

http://chungta.com/Desktop.aspx/KinhDoanh-QTDN/Khach-hang/Dao_duc_trong_kinh_doanh/

Mai Thái Bình
ANTG cuối tháng

Theo mạng Washington Profile, ngay ở trong xã hội tư bản, những bộ phận lành mạnh của giới doanh nhân cũng cố gắng thiết lập những tiêu chí đạo đức cho các hoạt động thương mại của mình.

Khái niệm đạo đức thương trường đã có nền móng tự hàng nghìn năm trước. Aristotle đã từng nói không ít điều có thể coi là cơ sở của đạo đức kinh doanh thời hiện đại. Theo Giáo sư James O'Toole của trường Đại học Tổng hợp Nam California, chính triết gia thời Hy Lạp cổ đại này là người thực tế nhất và có "tâm hồn doanh nhân" nhất trong lịch sử triết học của loài người.

Chính Aristotle đã nêu ra ý tưởng rằng, nhiệm vụ chính của người thủ lĩnh không phải là gia tăng quyền lực của mình trước cấp dưới mà là tạo ra những điều kiện để tất cả cán bộ dưới quyền mình có thể thể hiện được mọi năng lực ở mức cao nhất.

Giáo sư O'Toole đã thống kê những câu hỏi mà Aristotle đã lập ra và ngày nay có thể đang khiến các nhà quản lý hiện đại phải đau đầu đi tìm câu trả lời: "Tôi muốn người ta đối xử với tôi như thế nào khi tôi là thành viên của cơ quan?", "Những tiền đề tiềm năng nào có được để phát triển các tài năng và cả tiềm năng của các thành viên trong cơ quan?", "Tôi có nhận nhiều hơn công sức đóng góp của mình vào quỹ chung hay không?", "Liệu hệ thống phân chia lợi nhuận đang có ảnh hưởng như thế nào tới không khí đạo đức chung của cơ quan?", "Các nhân viên sẽ được nhận tiền thưởng chiếm bao nhiêu phần trăm số lợi nhuận thu được nhờ áp dụng các sáng kiến và ý tưởng của họ?"...

Xem ra, những vấn đề mà Aristotle nêu ra cho tới hôm nay vẫn còn là thời sự.

Thương hiệu tốt không tự nhiên mà có

Viện Đạo đức kinh doanh quốc tế (International Business Ethics Institute) ở Mỹ đã từng xác định 4 công việc mà các công ty cần phải thực hiện để củng cố và gia tăng uy tín cho thương hiệu của mình.

Thứ nhất, trung thực với các nhà đầu tư và người tiêu dùng. Thứ hai, cải thiện ngày một tốt hơn tình hình nội bộ hãng bằng cách gia tăng tinh thần trách nhiệm và lợi ích của các nhân viên, giảm biến động đội ngũ cán bộ, tăng năng suất lao động... Thứ ba, đánh bóng thương hiệu một cách chuyên nghiệp và thực chất. Cuối cùng, xử lý một cách bài bản những việc liên quan tới cổ phiếu và tài chính - chỉ có ứng xử thật đàng hoàng với luật pháp thì mới có thể tạo dựng tương lai lâu dài và bền chắc cho hãng.

Còn tạp chí Business Ethics trong 16 năm liền thường xuyên công bố bảng xếp hạng những công ty mà họ cho là có tính đạo đức nhất ở Mỹ. Trong số những tiêu chí để xếp hạng có tính tới quan hệ với các nhà đầu tư và đội ngũ nhân viên (trong đó có quan hệ với phụ nữ; với các cộng đồng sắc tộc thiểu số, khác màu da, tôn giáo và quan điểm...); với các cơ quan chính quyền sở tại và cộng đồng những nhà cung cấp nguyên, nhiên liệu; với những người tiêu dùng; chính sách bảo vệ môi trường... Năm 2004, tạp chí này đã bình chọn những công ty sau:

  1. Fannie Mae (dịch vụ tài chính trong lĩnh vực bất động sản). Cũng thật bất ngờ là đầu năm nay, lãnh đạo công ty này đã đệ đơn từ chức vì bị mất lòng tin do những nhà quản lý chủ chốt đã tự đặt những món tiền thưởng quá cao;
  2. Procter & Gamble (hóa chất gia dụng và mỹ phẩm);
  3. Intel Corporation (công nghệ máy tính và tin học);
  4. St. Paul Companies SPC (dịch vụ bảo hiểm và tài chính);
  5. Green Mountain Coffee Roasters Inc. (thực phẩm);
  6. Deere & Company (chế tạo máy);
  7. Avon Products (mỹ phẩm);
  8. Hewlett- Packard Company (công nghệ máy tính và tin học);
  9. Agilent Technologies (công nghệ tin học, điện tử và hoá chất);
  10. Ecolab (dịch vụ làm sạch nội thất và diệt côn trùng).

Những quy tắc xếp hạng của tạp chí Business Ethics có thể áp dụng rộng rãi vì những tiêu chí chính của nó dựa trên những tiền đề mà Tổ chức Bàn tròn doanh nghiệp thế giới (Caux Round Table, viết tắt là CRT) tạo nên. CRT được lập ra từ năm 1986 bởi các doanh nhân tới từ Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, trong số này có Chủ tịch hãng Philips, Phó Chủ tịch Viện Quản trị châu Âu và Chủ tịch hãng Canon...

CRT tập hợp các tiền đề của mình trên cơ sở ý tưởng của các doanh nghiệp Nhật Bản: ý tưởng đó được thể hiện bằng từ "quơxây", nghĩa là "cùng sống và cùng làm việc". Trong các tiền đề này toát lên sự tôn trọng nguyên tắc tập thể lãnh đạo rất cần thiết cho sự cách tân liên tục và để đạt được sự hài hòa trong thế giới này.

CRT cũng nhấn mạnh tới tình bạn, sự hiểu biết lẫn nhau và sự hợp tác với nhau trên cơ sở cùng tôn trọng những giá trị đạo đức cao quý và tinh thần trách nhiệm của những cá nhân cụ thể nhằm thích ứng với môi trường ảnh hưởng của họ (tại nơi mà họ cư trú và làm việc). Khái niệm nhân phẩm coi sự thiêng liêng và quý báu của từng cá nhân như mục tiêu, chứ không phải là phương tiện để nhằm đạt mục tiêu.

Quan trọng hơn cả là tìm hiểu xem cái gì là đúng, chứ không phải tìm xem ai đúng (tức là không nên quá cố gắng tìm xem ai có lỗi, ai không, mà là đi tìm cách giải quyết vấn đề cho có hiệu quả nhất).

Tất nhiên, trong xã hội tư bản, không phải cái gì nói ra là đều thực hiện được. Lập ra các quy tắc đạo đức bao giờ cũng dễ hơn nhiều lần là thực hiện chúng.

Lợi nhuận tăng theo... đạo đức

Có không ít người làm giàu nhanh tới chóng mặt nhờ những sự "xập xí xập ngầu" của cơ chế. Trong những xã hội đang nằm ở giai đoạn chuyển tiếp giữa các hình thái xã hội, ăn gian nói dối đôi khi dễ dàng mang lại những khoản thu khổng lồ. Tuy nhiên, bạo phát thì rất có thể cũng sẽ bạo tàn. Kết cục của một số nhà tài phiệt Nga (Oligarkh) hiện nay là một thí dụ nhỡn tiền. Họ đã kiếm được những gia sản nhiều triệu USD trong thời kỳ Moskva dưới sự lãnh đạo của ông Boris Yeltsin phát tán tài sản thừa kế từ Liên bang Xôviết và trở thành những cự phú có máu mặt trên quy mô toàn cầu.

Rồi thế thời thay đổi, khi ông Vladimir Putin lên làm Tổng thống Nga, một số nhà tài phiệt dạng kiểu Khodokovsky đã phải vào tù. Cơ quan lập pháp rất dễ dàng tìm ra đủ các thứ tội của những nhà tài phiệt dạng này để họ phải "mùa đông sẵn có hỏa lò, mùa hè nhà đá tha hồ nghỉ ngơi"...

Hai Giáo sư John Kotter và James Heskett ở trường đào tạo quản lý kinh doanh thuộc Harvard, tác giả cuốn sách "Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động hữu ích", đã phân tích những kết quả khác nhau ở các công ty với những truyền thống đạo đức khác nhau.

Công trình nghiên cứu của họ cho thấy, trong vòng 11 năm, những công ty "đạo đức cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682% (trong khi những công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực đạo đức chỉ đạt được 36%). Giá trị cổ phiếu của những công ty "đạo đức cao" trên thị trường chứng khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ "kém tắm" hơn, chỉ số này chỉ là 74%). Lãi ròng của các công ty "đạo đức cao" ở Mỹ trong 11 năm đã tăng tới 756% (1%).

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, hai vị Giáo sư khả kính trên khẳng định, gian manh chẳng lọ thật thà!

Nhận thức được vai trò quan trọng của gương mặt đạo đức đối với công việc kinh doanh, người Mỹ đã bỏ khá nhiều công sức ra nghiên cứu về vấn đề này. Chỉ tính riêng trong năm 2000, theo Trung tâm vì một nền văn hóa kinh doanh có đạo đức (Center for Ethical Business Culture), đã có tới 52 công trình nghiên cứu hàn lâm được xuất bản tại Mỹ viết về ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh tới thu nhập tài chính của các công ty.

33 công trình phát hiện sự tỉ lệ thuận các phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo cũng như nhân viên và thu nhập của các công ty. 5 công trình lại phát hiện ra mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa hai yếu tố trên. 14 công trình còn lại không tìm thấy sự liên hệ gì giữa hai yếu tố trên với nhau. Thế là rõ, đại bộ phận các nhà nghiên cứu đều cho rằng, công ty có đạo đức sẽ dễ làm ăn phát đạt hơn.

Theo công trình nghiên cứu do hãng tiếp thị Environics tiến hành tại 20 quốc gia trên thế giới, uy tín xã hội của công ty có vai trò vô cùng to lớn đối với các nhà đầu tư. Thí dụ như ở Mỹ, hiện đang có khoảng 60% dân số đang sở hữu cổ phiếu của các hãng tư nhân. 28% trong số này khi quyết định làm như vậy đã dựa vào những thông tin thu thập được về hình ảnh của công ty trong con mắt xã hội.

Tại Italia, tỉ lệ những nhà đầu tư như thế vào khoảng 33%, còn tại Canada - 26%, tại Nhật Bản - 22%, tại Anh, Pháp, Đức - 21%... Cũng công trình nghiên cứu trên cho thấy, uy tín xã hội ngày càng có ảnh hưởng lớn tới thương hiệu của các công ty, lớn hơn cả quảng cáo và chính sách tài chính...

Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức kinh doanh là thái độ của lãnh đạo công ty đối với các nhân viên. Theo một công trình nghiên cứu do Tạp chí Fast Company tiến hành năm 2001, 26% số nhân viên Mỹ tuyên bố rằng, họ quan tâm thực sự tới thành công của công ty mà họ làm việc. 55% hoàn toàn đánh đồng lợi ích cá nhân của mình với lợi ích của các ông chủ. Chỉ có 19% không yêu công ty mà họ phục vụ... Chỉ vì đối xử không thỏa đáng với nhân viên mà đại đa số các doanh nghiệp bị mất vô ích tới hai phần ba thời gian làm việc của các nhân viên...

--------------------------------------------------------------------------------------------------

Đạo đức kinh doanh

Tôn Thất Nguyễn Thiêm
Thời báo Kinh tế Sài Gònh

http://chungta.com/Desktop.aspx/KinhDoanh-QTDN/Doanh-Nghiep/Dao_duc_kinh_doanh/

Chẳng phải vô cớ mà khoảng 15 năm nay một ngạn ngữ Ấn Độ được lưu truyền trong giới doanh nghiệp ở các nước phát triển: “Gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận”. Điều này hàm ý: Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ đến từ chất lượng của bản thân các sản phẩm - dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm gọn: Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy tác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức! Đạo đức kinh doanh, trong chiều hướng ấy, trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh nghiệp.

Muốn “vị lợi” phải “vị nhân”

Điều này trái với cách tiếp cận của kinh tế học “cổ điển” vốn cho rằng mục đích duy nhất của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, vì thế vấn đề đạo đức - theo nghĩa “vị nhân bất vị lợi” - không thể đặt ra trong kinh doanh: Bản thân hoạt động doanh nghiệp là “phi đạo đức”, trong nghĩa đạo đức không phải là phạm trù quan tâm của doanh nghiệp (vì nó không mang ích lợi thiết thực cho doanh nghiệp, chứ không phải có ý rằng doanh nghiệp là thực thể “vô đạo đức”).

Luận điểm trên hiển lộ giới hạn của nó khi nhiều nhà kinh tế học đã xác minh rõ bản thân doanh nghiệp là một thiết chế xã hội mang tính tổ chức cộng đồng vận hành bởi các động cơ thoát thai từ những quyền lợi thuộc nhiều lĩnh vực của các thành viên liên quan. Và cộng đồng ấy, muốn đáp ứng một cách hiệu quả lý do tồn tại của nó - nghĩa là sản sinh lợi nhuận cần thiết cho việc tái tạo mở rộng doanh nghiệp - lại phải nhìn nhận là thành phần nội bộ cũng như các đối tác bên ngoài của nó không chỉ đơn thuần là những tác nhân kinh tế mà còn đồng thời là những thành viên của một hợp quần xã hội. Nói gọn, theo nhiều lý thuyết mới trong kinh tế học, doanh nghiệp muốn đạt đến mức tối đa mục tiêu của nó là “vị lợi” thì chí ít phải biết thế nào là “vị nhân”!

Hoạt động của doanh nghiệp, theo đó, muốn có hiệu năng tối ưu, phải được chu toàn trong sự tổng hòa những hành vi chiến lược bao gồm chủ yếu ba cấp độ trách nhiệm mà giới chuyên ngành gọi là bổn phận kinh tế, luân lý và đạo đức.

Bổn phận kinh tế của doanh nghiệp là sản xuất và cung ứng hàng hóa - dịch vụ để có được lợi nhuận cần thiết. Nhưng bổn phận ấy chỉ thật sự hoàn thành khi lợi nhuận được phân bổ đúng đắn cho việc phát triển doanh nghiệp và phân phối đồng thời cho tất cả các thành viên liên quan nhằm không chỉ góp phần trực tiếp vào việc mở rộng sự tái tạo vĩ mô của các thành viên ấy mà còn gián tiếp vào sự tái sinh mở rộng xã hội. Vì thế, bổn phận kinh tế phải đi liền với bổn phận luân lý của doanh nghiệp, hiểu theo “nghĩa tối thiểu” là doanh nghiệp phải tuân thủ nền luân lý xã hội được thiết chế trong những quy định pháp lý của Nhà nước. Theo “nghĩa tối đa”, bổn phận trên chỉ được cáng đáng hoàn chỉnh khi doanh nghiệp không chỉ tôn trọng pháp chế mà còn góp phần vào việc pháp điển hóa những quy tắc kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển môi trường sống của xã hội (nôm na là góp sức vào việc xây dựng một “môi trường kinh tế rộng mở cho xã hội” chứ không phải là thủ thế độc quyền trục lợi hay/và thừa cơ “luật hở thì lách”!).

Bổn phận đạo đức của doanh nghiệp được minh chứng thông qua những hành vi mang tính chất “tự nguyện”, nghĩa là những hoạt động “vị nhân” không nằm trong khuôn khổ các đòi hỏi thuộc bổn phận kinh tế và luân lý. Tính chất vừa nói cũng không nằm trong các “chương trình đóng góp từ thiện của doanh nghiệp” - thực chất vốn chỉ là những “hành xử quan hệ công cộng/PR” - mà khởi nguyên được thể hiện bởi sự ràng buộc giữa doanh nghiệp với chính lương tâm của nó trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh đối với tất cả mọi đối tác. Thí dụ: dựa vào sự bất đối xứng thông tin trong một cơ chế kinh tế tập quyền nhằm huyễn hoặc người tiêu dùng thì doanh nghiệp có thể không vi phạm luân lý xã hội - vì pháp chế không ngăn cấm - nhưng lại là một hành vi vô đạo đức trong kinh doanh vì mang tính chất “phỉ báng lương tâm nghề nghiệp”!

“Mô hình 3c”

Chính là dựa vào đường hướng trên mà “mô hình 3C” được định hình để xét về “mức độ đạo đức” trong hành vi của doanh nghiệp. Đó là “Conformity”, nghĩa là có đúng theo những chuẩn mực và quy tắc được định chế hóa trong các lĩnh vực kinh tế và luân lý xã hội hay không. “Contribution” có mức độ cao hơn theo nghĩa có đóng góp gì trong việc tái tạo môi trường sinh thái của xã hội nói chung và của cá nhân con người nói riêng. “Consequence” nêu vấn đề theo hướng biện chứng, nghĩa là xem xét hệ quả của việc thực hiện hai “C” đầu tiên.

Nếu ở phương diện vĩ mô các phương cách tiếp cận trên đã mở hướng cho việc kết hợp tính nhân văn trong hoạt động kinh tế (và minh chứng rằng kinh tế không phải là một hành vi thuần túy tính toán “tiền vào tiền ra”), thì ở lĩnh vực vi mô, còn phải thuyết phục các nhà quản trị doanh nghiệp về lợi ích cụ thể của việc ứng dụng đạo đức trong kinh doanh.

Đó là công dụng của luận cứ “Ethics Pays” (“Đạo đức được trả công”) cơ bản như sau: thực hiện những hành vi mang tính đạo đức kinh doanh không nhất thiết luôn luôn phải có những chi phí kèm theo. Ngược lại, mọi hành vi vô đạo đức trong kinh doanh đều luôn luôn, không chóng thì chầy, chịu cái giá phải trả, và giá ấy thường là rất đắt so với cái lợi đã thu được.

Hai giải Nobel về kinh tế học năm 1994 và 2005 đánh dấu cho việc triển khai quan niệm trên: “Trạng thái cân bằng của Nash” minh chứng là trong một thị trường cạnh tranh, điểm “cân bằng tối ưu” chỉ có thể hình thành trên cơ sở của sự liên kết hoặc/và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không thể trên nền tảng của sự lừa dối lẫn nhau. “Lý thuyết trò chơi”, của Schelling và Aumann, xác nhận là trong cạnh tranh kinh tế nếu mỗi đối tác đều mù quáng chạy theo quyền lợi riêng tư của mình thì rốt cuộc tất cả đều bị thua thiệt nặng nề. Hơn nữa, tôn trọng luân lý xã hội và thực hiện đạo đức trong kinh doanh chính là những hành vi đầu tư vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Ngược lại, vô luân và vô đạo trong kinh doanh là những hành vi triệt tiêu niềm tin và chỉ có thể là loại “đánh quả” của những tác nhân trông mong duy nhất vào việc “hạ cánh an toàn”.

Trong thời buổi mà “thương hiệu mạnh” được nhìn nhận như một công cụ tạo lợi thế cạnh tranh đặc thù cho doanh nghiệp, “niềm tin” càng trở nên cần thiết. Trong quản trị kinh doanh, khái niệm ấy có nghĩa chính xác: đó là sự “suy đoán rằng trong những sự cố, tình huống bất ngờ và đột xuất, đối tác giao dịch sẽ hành xử theo những nguyên tắc có thể chấp nhận được, nghĩa là không ngược lại với những tiên liệu trong lĩnh vực luân lý xã hội và đạo đức nhân quần”. Nói gọn, thương hiệu là hình thái thiết lập quan hệ doanh thương dựa trên một mức độ tin cậy, và cơ sở của sự tin cậy lại chính là “niềm tin vào tính luân lý và đạo đức” của doanh nghiệp. Do đó đạo đức kinh doanh trở thành nền tảng cho việc xây dựng thương hiệu “thật sự mạnh”, nghĩa là có được sự sâu đậm trong việc “chia sẻ tâm trí” với người tiêu dùng song hành với sự “chiếm lĩnh thị phần”!

Vấn đề cuối: theo xã hội học kinh tế, khi nhân viên của công ty sai phạm trong ứng xử, khuynh hướng chung vẫn cho đấy là thiếu sót thuộc về “văn hóa doanh nghiệp”. Nhưng khi lãnh đạo công ty phạm sai lầm, nhất là sai lầm có chủ đích, xu hướng đa số lại thường nhận định đấy là khiếm khuyết về “đạo đức kinh doanh”: thành quả của tổ chức phụ thuộc vào các giá trị của văn hóa công ty, trong khi thành tích của lãnh đạo lại nằm ở diện đạo đức kinh doanh. Vì thế mà trong ngành quản trị kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp thuộc vào loại “cơ chế phòng ngự” củng cố tổ chức nội bộ và đạo đức kinh doanh lại nằm ở lĩnh vực “mô thức tiến công” trong việc đối ngoại của công ty. Hiểu được điều này tất sẽ rõ vì sao chiều hướng phổ biến lại đề cao “văn hóa doanh nghiệp” mà ít nói về “đạo đức kinh doanh”: khái niệm đầu liên quan đến “thuộc hạ”, khái niệm sau chú trọng đến vai trò của “sếp”, và khi bản thân “sếp” vốn đã không “tử tế, đàng hoàng” lắm thì chẳng ai dại mà luận bàn về “đạo đức kinh doanh”!

Chiều hướng phổ biến lại đề cao “văn hóa doanh nghiệp” mà ít nói về “đạo đức kinh doanh”: khái niệm đầu liên quan đến “thuộc hạ”, khái niệm sau chú trọng đến vai trò của “sếp”, và khi bản thân “sếp” vốn đã không “tử tế, đàng hoàng” lắm thì chẳng ai dại mà luận bàn về “đạo đức kinh doanh”!

Doanh nghiệp nên tổ chức cho tất cả nhân viên cùng đóng góp xây dựng các quy tắc, tự đề ra trách nhiệm và hướng giải quyết khi xảy ra các vấn đề liên quan đến đạo đức.

----------------------------------------------------------------------------------------------

Sách: Bài giảng Văn hóa kinh doanh – KD 631.

Khái niệm đạo đức kinh doanh:

2.2 Khái niệm đạo đức kinh doanh

Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh.

Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức được vận dụng vào trong hoạt động kinh doanh.

Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp: Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh - do kinh doanh là hoạt động gắn liền với các lợi ích kinh tế. do vậy khía cạnh thể hiện trong ứng xử về đạo đức không hoàn toàn giống các hoạt động khác: Tính thực dụng. sự coi trọng hiệu quả kinh tế là những đức tính tốt của giới kinh doanh nhưng nếu áp dụng sang các lĩnh vực khác như giáo dục. y tế... hoặc sang các quan hệ xã hội khác như vợ chồng, cha mẹ, con cái thì đó lại là những thói xấu bị xã hội phê phán. Song cần lưu ý rằng đạo đức kinh doanh vẫn luôn phải chịu sự chi phối bởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung.

Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh

- Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời. Giữ

lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh, nhất quán trong nói và làm. trung thực trong

chấp hành luật pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu

thuế, không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm. thực hiện những

dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục, trung thực trong giao tiếp với bạn hàng

(giao dịch. đàm phán, ký kết) và người tiêu dùng: không làm hàng giả. khuyến

mại giả. quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi

phạm bản quyền, phá giá theo lối ăn cướp, trung thực ngay với bản thân. không

hối lộ, tham ô, thụt két. khiếm công vi tư'.

- Tôn trọng con người: Đối với những người cộng sự và dưới quyền. tôn trọng

phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát

triển của nhân viên. quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn

hợp pháp khác. Đối với khách hàng: tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách

hàng. Đối với đối thủ cạnh tranh, tôn trọng lợi ích của đối thủ.

- Gắn lợi ích của DN với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quả

gắn với trách nhiệm xã hội.

- Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt

Phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh.

Đó là tất cả những thể chế xã hội, những tổ chức. những người liên quan, tác

động đến hoạt động kinh doanh: Thể chế chính trị (XHCN). chính phủ, công đoàn,

nhà cung ứng, khách hàng, cổ đông, chủ doanh nghiệp, người làm công. . .

.Vai trò của đạo đức kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp.

Lợi nhuận là một trong những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của một doanh

nghiệp và là cơ sở đánh giá khả năng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp. Tuy nhiên, nếu người quản lý doanh nghiệp hiểu sai bản chất của lợi

nhuận và coi đấy là mục tiêu chính và duy nhất của hoạt động kinh doanh thì sự

tồn tại của doanh nghiệp có thể bị đe doạ. Tầm quan trọng của đạo đức kinh

doanh đối với một tổ chức là một vấn đề gây tranh cãi với rất nhiều quan điểm

khác nhau. Nhiều giám đốc doanh nghiệp coi các chương trình đạo đức là một

hoạt động xa xỉ. chỉ mang lại lợi ích cho xã hội chứ không phải doanh nghiệp. Vai

trò của sự quan tâm đến đạo đức trong các mối quan hệ kinh doanh tiếp tục bị

hiểu lầm. Chúng ta sẽ xem xét ở các nội dung dưới đây về vai trò của đạo đức

kinh doanh trong hoạt động quản trị doanh nghiệp.

1.4.1 Đạo đức kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh

Đạo đức kinh doanh bổ sung và kết hợp với pháp luật điều chỉnh các

hành vi kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật và quỹ đạo của các chuẩn mực

đạo đức xã hội. Không một pháp luật nào. dù hoàn thiện đến đâu chăng nữa

cũng có thể là chuẩn mực cho mọi hành vi của đạo đức kinh doanh. Nó

không thể thay thế vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc khuyến khích

mọi người làm việc thiện, tác động vào lương tâm của d08nh nhân. Bởi vì

phạm vi ảnh hưởng của đạo đức rộng hơn pháp luật, nó bao quát mọi lĩnh

vực của thế giới tinh thần, trong khi pháp luật chỉ điều chỉnh những hành vi

liên quan đến chế độ nhà nước, chế độ xã hội... Mặt khác. pháp luật càng

đầy đủ chặt chẽ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề

cao. càng hạn chế được sự kiếm lợi phi pháp. Tham nhũng. buôn lậu, trốn

thuế, gian lận thương mại... khi bị phát hiện sẽ bị pháp luật điều chỉnh, lúc

này "hiện tượng kiện tụng buộc người ta phải cư xử có đạo đức".

Các mức độ bổ sung. loang hoà" đạo đức và pháp luật được khái quát qua

các "góc vuông xác định tính chết đạo đức và pháp lý của hành và, (xem trang 1 14):

Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ do chất lượng của bản thân các

sản phẩm - dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu do phong cách kinh doanh của

doanh nghiệp. Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chinh

tư cách ấy tác động trực tiếp đến sự thành bại của tổ chức. Đạo đức kinh doanh,

trong chiều hường ấy, trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh

nghiệp. Chẳng phải vô cớ mà khoảng 15 năm nay một ngạn ngữ ấn Độ được lưu truyền trong giới doanh nghiệp ở các nước phát triển: “gieo tư tưởng gặt hành vi, gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận”

1.4.2 Đạo đức kinh doanh góp phần vào chất lượng của doanh nghiệp

Phần thưởng cho một công ty có quan tâm đến đạo đức là được các nhân viên,

khách hàng và công luận công nhận là có đạo đức. Phần thưởng cho trách nhiệm

đạo đức và trách nhiệm xã hội trong các quyết tình kinh doanh bao gồm hiệu quả

trong các hoạt động hàng ngày tăng cao, sự tận tâm của các nhân viên, chất lượng

sản phẩm được cải thiện, đưa ra quyết ánh đúng đắn hơn. sự trung thành của

khách hàng và lợi ích về kinh tế lớn hơn. Các tổ chức phát triển được một môi trường

trung thực và công bằng sẽ gây dựng được nguồn lực đáng quý có thể mở rộng

cánh cửa dẫn đến thành công.

Các tổ chức được xem là có đạo đức thường có nền tảng là các khách hàng

trung thành cũng như đội ngũ nhân viên vững mạnh, bởi suôn tưởng và phụ thuộc

lẫn nhau trong mối quan hệ. Nếu các nhân viên hài lòng thì khách hàng sẽ hài

lòng; và nếu khách hàng hài lòng thì các nhà đầu tư sẽ hài lòng. Các khách hàng

có xu hường thích mua hàng của các công ty liêm chính hơn. đặc biệt là khi giá

cả của công ty đó cũng bằng với giá của các công ty đối thủ. Khi các nhân viên

cho rằng tổ chức của mình có một môi trường đạo đức, họ sẽ tận tâm hơn và hài

lòng với công việc của mình hơn. Các công ty cung ứng thường muốn làm ăn lâu

dài với các công ty mà họ tin tưởng để qua hợp tác họ có thể xoá bỏ được sự

không hiệu quả, các chi phí và những nguy cơ để có thể làm hài lòng khách hàng.

Các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến vấn đề đạo đức, trách nhiệm xã hội và uy

tín của các công ty mà họ đầu tư. và các công ty quản lí tài sản có thể giúp các

nhà đầu tư mua cổ phiếu của các công ty có đạo đức. Các nhà đầu tư nhận ra

rằng, một môi trường đạo đức là nền tảng cho sự hiệu quả. năng suất, và lợi

nhuận. Mặt khác. các nhà đầu tư cũng biết rằng các hình phạt hay công luận tiêu

cực cũng có thể làm giảm giá cổ phiếu, giảm sự trung thành của khách hàng và

đe doạ hình ảnh lâu dài của công ty. Các vấn đề về pháp lí và công luận tiêu cực

có những tác động rất xấu tới sự thành công của bất cứ một công ty nào.

sự lãnh đạo cũng có thể mang lại các giá trị tổ chức và mạng lười xã hội ủng

hộ các hành vi đạo đức. Các nhà lãnh đạo nhận thức được bản chất của mối quan

hệ trong kinh doanh, những vấn đề và mâu thuẫn tiềm ẩn, tìm ra biện pháp quản

lý khắc phục những trở ngại có thể dẫn đến bất đồng, tạo dựng bầu không khí làm

việc thuận lợi cho mọi người hoà đồng, tìm ra được một hường chung tạo ra sức

mạnh tổng hợp của sự đồng thuận, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức. Sự

lãnh đạo chú trọng vào việc xây dựng các giá trị đạo đức tổ chức vững mạnh cho

các nhân viên sẽ tạo ra sự đồng thuận về chuẩn tắc đạo đức và đặc điểm của

những mối quan hệ chung. Các lãnh đạo ở địa vị c8o trong tổ chức đóng một vai

trò chủ chết trong việc truyền bá các tiêu chuẩn đạo đức. các chuẩn tắc và quy

lính đạo đức nghề nghiệp. Sự cẩn thiết có sự lãnh đạo có đạo đức để cung cấp

cơ cấu cho các giá trị của tổ chức và những ngăn cản đối với các hành vi vô đạo

đức đã được làm rõ trong nghiên cứu nước. Các nhà lãnh đạo có thể cung cấp cơ

cấu này bằng cách thiết lập các chương trình đào tạo đạo đức chính thức và

không chính thức, cũng như các hường dẫn khác, giúp các nhân viên phải lưu tâm

đến khía cạnh đạo đức trong quá trình đưa ra quyết định của mình.

Nhận thức của các nhân viên về công ty của mình là có một môi trường đạo

đức sẽ mang lại những kết quả tết đẹp trong hoạt động của tổ chức. Xét về khía

cạnh năng suất và làm việc theo nhóm. các nhân viên trong các phòng ban khác

nhau cũng như giữa các phòng ban cần thiết có chung một cái nhìn về sự tin

tưởng. Mức độ tin tưởng cao hơn có ảnh hưởng lớn nhất lên các mối quan hệ trong

nội bộ các phòng ban hay các nhóm làm việc, nhưng tin tưởng' cũng là một nhân

tố quan trọng trong các mối quan hệ giữa các phòng ban trong tổ chức. Bởi vậy,

các chương trình tạo ra một môi trường lao động có lòng tin sẽ làm cho các nhân

viên sản s8ng hành động theo các quyết đ nữ và hành động của các đồng nghiệp.

- Trong một môi trường làm việc như thế này, các nhân viên có thể mong muốn

được các đồng nghiệp và cấp trên đối xử với mình với một sự tôn trọng và quan

tâm sâu sắc. Các mối quan hệ có lòng tin trong một tổ chức giữa các giám đốc

và cấp dưới của họ và ban quản lí cấp cao góp phần vào hiệu quả của quá trình

đưa quyết định.

- Hầu hết các công ty đáng ngưỡng mộ nhất trên thế giới đều chú trọng vào phương pháp làm việc theo nhóm, quan tâm nhiều đến khách hàng, đề cao việc đổi xử công bằng với nhân viên, và thưởng cho các thành lích tốt.

1.4.3 Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự cam kết và tận tâm của nhân viên

sự tận tâm của nhân viên xuất phát từ việc các nhân viên tin rằng tương lai

của họ gắn liền với tương lai của doanh nghiệp và chính vì thế họ sẵn sàng hy

sinh cá nhân vì tổ chức của mình. Doanh nghiệp càng quan tâm đến nhân viên

bao nhiêu thì các nhân viên càng tận tâm với doanh nghiệp bấy nhiêu. Các vấn

đề có ảnh hưởng đến sự phát triển của một môi trường đạo đức cho nhân viên

bao gồm một môi trường lao động an toàn. thù lao thích đáng, và thực hiện đầy

đủ các trách nhiệm được ghi trong hợp đồng với tất cả các nhân viên. Các chương

trình cải thiện môi trường đạo đức có thể là chương trình "gia tỉnh và công việc"

hoặc chia/bán cổ phần cho nhân viên. Các hoạt động từ thiện hoặc trợ giúp cộng

đồng không chỉ tạo ra suy nghĩ tích cực của chính nhân viên về bản thân họ và

doanh nghiệp mà còn tạo ra sự trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp.

Sự cam kết làm các điều thiện và tôn trọng nhân viên thường tăng sự trung

thành của nhân viên đối với tổ chức và sự ủng hộ của họ với các mục tiêu của tổ

chức. Các nhân viên sẽ dành hầu hết thời gian của họ tại nơi làm việc chứ không

chạy ì. "chỉ làm cho xong công việc mà không nhiệt huyền hoặc làm việc "qua

ngày đoạn thángl'. không tận tâm đối với những mục tiêu đề ra của tổ chức bởi vì

họ cảm thấy mình không được đối xử công bằng.

Môi trường đạo đức của tổ chức rất quan trọng đối với các nhân viên. Đa

số nhân viên tin rằng. hình ảnh của một công ty đối với cộng đồng là vô cùng

quan trọng, các nhân viên thấy công ty của mình tham gia tích cực vào các

công tác cộng đồng sẽ cảm thấy trung thành hơn với cấp trên và cảm thấy tích

cực về bản thân họ. Khi các nhân viên cảm thấy môi trường đạo đức trong tổ

chức có tiến bộ, họ sẽ tận tâm hơn để đạt được các tiêu chuẩn đạo đức cao

trong các hoạt động hàng ngày. Các nhân viên sẵn lòng thảo luận các vấn đề

đạo đức và ủng hộ các ý kiến nâng cao chất lượng trong công ty nếu công ty

đó cam kết sẽ thực hiện các quy định đạo đức. Thực chất. những người được

làm việc trong một môi trường đạo đức tin rằng họ sẽ phải tôn trọng tất cả các

đối tác kinh doanh của mình, không kể những đối tác ấy ở bên trong hay bên

ngoài công ty. Họ cần phải cung cấp những giá trị tốt nhất có thể cho tất cả các

khách hàng và các cổ đông.

Cam kết của nhân viên đối với chất lượng của công ty có tác động tích

cực đến vị thế cạnh tranh của công ty nên một môi trường làm việc có đạo

đức có tác dụng tích cực đến các điểm mấu chốt về tài chính. Bởi chất lượng

những dịch vụ phục vụ khách hàng tác động đến sự hài lòng của khách hàng,

nên những cải thiện trong các dịch vụ phục vụ khách cũng sẽ có tác động

trực tiếp lên hình ảnh của công ty, cũng như khả năng thu hút các khách

hàng mới của công ty.

1.4.4 Đạo đức kinh doanh góp phần làm hài lòng khách hàng

Các nghiên cứu và kinh nghiệm hiện thời của nhiều quốc gia cho thấy mối

quan hệ chặt chẽ giữa hành vi có đạo đức và sự hài lòng của khách hàng. Các

hành vi vô đạo đức có thể làm giảm lòng trung thành của khách hàng và khách

hàng sẽ chuyển sang mua hàng của các thương hiệu khác. ngược lại hành vi đạo

đức có thể lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm của công ty. Các khách hàng

thích mua sản phẩm của các công ty có danh tiếng tốt, quan tâm đến khách hàng

và xã hội. Khách hàng nói rằng họ ưu tiên những thương hiệu nào làm điều thiện

nếu giá cả và chết lượng các thương hiệu như nhau. Các công ty có đạo đức luôn

đối xử với khách hàng công bằng và liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm. cũng

như cung cấp cho khách hàng các thông tin dễ tiếp cận và dễ hiểu, sẽ có lợi thế

cạnh tranh tốt hơn và dành được nhiều lợi nhuận hơn. Điểm mấu chốt ở đây là chi

phí để phát triển một môi trường đạo đức có thể có một phần thưởng là sự trung

thành của khách hàng ngày càng tăng.

Đối với các doanh nghiệp thành công nhất, thu được những lợi nhuận lâu dài

thì việc phát triển mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng nhau với khách

hàng là chìa khoá mở cánh cửa thành công. Bằng việc chú trọng vào sự hài lòng

của khách hàng, doanh nghiệp đó tiếp tục làm cho sự phụ thuộc của khách hàng

vào công ty ngày càng sâu sắc hơn, và khi niềm tin của khách hàng tăng lên thì

doanh nghiệp ấy sẽ có tầm hiểu biết sâu hơn về việc làm thế nào phục vụ khách

hàng để phát triển mối quan hệ đó. Các doanh nghiệp thành công mang lại cho

khách hàng các cơ hội góp ý kiến phản hồi. cho phép khách hàng được tham gia

vào quá trình giải quyết các rắc rối. Một khách hàng cảm thấy vừa lòng sẽ quay

lại nhưng một khách hàng không vừa ý sẽ nói cho 10 người khác về việc họ

không hài lòng với một công ty nào đó và bảo bạn bè họ tẩy chay công ty đó.

Các khách hàng là đối tượng dễ bị tổn thương nhất vì việc khai thác và hoạt

động của các công ty không tôn trọng các quyền của con người. Sự công bằng

trong dịch vụ là quan điểm của khách hàng về mức độ công bằng trong hành vi

của một công ty. Bởi vậy. khi nghe được thông tin tăng giá dịch vụ thêm và không

bảo hành thì các khách hàng sẽ phản ứng tiêu cực đối với sự bất công này. Phản

ứng của khách hàng đối với sự bất công - ví dụ như phàn nàn hoặc từ chối không

mua bán với doanh nghiệp đó nữa - có thể được thúc đẩy bởi nhu cầu trừng phạt

và mong muốn hạn chế sự bất công trong tương lai. Nếu khách hàng phải mua

một mặt hàng đắt hơn hẳn thì cảm giác không công bằng sẽ tăng lên và có thể

bùng nổ thành một sự giận dữ.

Một môi trường đạo đức vững mạnh thường chú trọng vào các giá trị cốt lõi

đặt các lợi ích của khách hàng lên trên hết. Đặt lợi ích của khách hàng lên trên

hết không có nghĩa là phớt lờ lợi ích của nhân viên, các nhà đầu tư, và cộng đồng

địa phương. Tuy nhiên. một môi trường đạo đức chú trọng đến khách hàng sẽ kết

hợp được những lợi ích của tất cả các cổ đông tron(j các quyết định và hoạt động.

Những nhân viên được làm việc trong môi trường đạo đức sẽ ủng hộ và đóng góp

vào sự hiểu biết về các yêu cầu và mối quan tâm của khách hàng. Các hành động

đạo đức hường tới khách hàng xây dựng được vị thế cạnh tranh vững mạnh có,tác

dụng tích cực đến thành tích của doanh nghiệp và công tác đổi mới sản phẩm.

4.5 Đạo đức kinh doanh góp phần tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Theo một nghiên cứu tiến hành với 500 lập đoàn lớn nhất ở Mỹ thì những

doanh nghiệp cam kết thực hiện các hành vi đạo đức và chú trọng đến việc tuân

thủ các quy định đạo đức nghề nghiệp thường đạt được thành công lớn về mặt tài

chính. Sự quan tâm đến đạo đức đang trở thành một bộ phận trong các kế hoạch

chiến lược của các doanh nghiệp. đây không còn là một chương trình do các

chính phủ yêu cầu mà đạo đức đang dần trở thành một vấn đề quản lý trong nỗ

lực để dành lợi thế cạnh tranh.

Trách nhiệm công dân của một doanh nghiệp gần đây cũng được đề cập

nhiều có liên hệ tích cực đến lãi đầu tư. tài sản và. mức tăng doanh thu. Trách

nhiệm công dân của doanh nghiệp là đóng góp của một doanh nghiệp cho xã hội

bằng hoạt động kinh doanh chính của mình. đầu tư xã hội, các chương trình mang

tính nhân văn và sự cam kết của doanh nghiệp vào chính sách công, là cách mà

doanh nghiệp đó quản lý các mối quan hệ kinh tế. xã hội, môi trườn~j~ và' là cách

mà doanh nghiệp cam kết với các bên liên đới có tác động đến thành công dài

hạn của doanh nghiệp đó.

Một doanh nghiệp không thể trở thành một công dân tết, không thể nuôi dưỡng và phát triển một môi trường tổ chức có đạo đức 'nếu kinh doanh không có lợi nhuận. Các doanh nghiệp có nguồn lực lớn hơn. thường có phương tiện để thực thi trách nhiệm. công dân của mình cùng với việc phục vụ khách hàng, tăng giá tư nhân viên, thiết lập lòng tin với cộng đồng. Nhiều nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ tích cực giữa trách nhiệm công dân.với thành tích công dân. Các doanh nghiệp tham gia các hoạt động sai tr81 thường phải chịu sự giảm lãi trên tài sản hơn là các doanh nghiệp không phạm lỗi. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tác động tiêu cực lên doanh thu không xuất hiện trước năm thứ ba từ sau khi doanh nghiệp vi phạm lỗi.

Hai Giáo sư John Kotter và James Heskeu ở Trường Đào tạo quản lý kinh

doanh thuộc Harvard. tác giả cuốn sách " Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động

hữu ích", đã phân tích những kết quả khác nhau ở các công ty với những truyền

thống đạo đức khác nhau.

Công trình nghiên cứu của họ cho thấy. trong vòng 11 năm, những công ty

"đạo đức cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682% (trong khi những

công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực đạo đức chỉ đạt được

36%). Giá trị cổ phiếu của những công ty đạo đức cao" trên thị trường chứng

khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ "kém tắm" hơn. chỉ số này chỉ là 74%).

Lãi ròng của các công ty "đạo đức cao" ở Mỹ trong 11 năm đã tăng tới 756% (1%).

Như vậy, đầu tư vào cơ sở hạ tầng đạo đức trong tổ chức sẽ mang lại cơ sở

cho tất cả các hoạt động kinh doanh quan trọng của tổ chức cần thiết để thành

công. Có nhiều minh chứng cho thấy. việc phát triển các chương trình đạo đức có mang lại những lợi thế kinh tế. Mặc dù các hành vi đạo đức trong một tổ chức là

rất quan trọng xét theo quan điểm xã hội và quan điểm cá nhân. những khía cạnh

kinh tế cũng là một nhân tố quan trọng không kém. Một trong những khó khăn

trong việc dành được sự ủng hộ cho các ý tường đạo đức trong tổ chức là chi phí

cho các chương trình đạo đức không chỉ tốn kém mà còn chẳng mang lại lợi lộc

gì cho tổ chức. Chỉ mình đạo đức không thôi sẽ không thể mang lại những thành

công về tài chính nhưng đạo đức sẽ giúp hình thành và phát triển bền vững văn

hóa tổ chức phục vụ cho tất cả các cổ động.

1.4.6 Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự vững mạnh của nền kinh tề quốc gia

Một câu hỏi quan trọng và thường được nêu ra là liệu hành động đạo đức trong

kinh doanh có tác động đến kinh tế của một quốc gia hay không. Các nhà kinh tế

học thường đặt câu hỏi tại sao một số nền kinh tế thị trường mang lại năng suất cao.

công dân có mức sống cao, trong khi đó các nền kinh tế khác lại không như thế.

Các thể chế xã hội, đặc biệt là các thể chế thúc đẩy tính trung thực, là yếu

tố vô cùng quan trọng để phát triển sự phồn vinh về kinh tế của một xã hội. Các

nước phát triển ngày càng trở nên giàu có hơn vì có một hệ thống các thể chế,

bao gồm đạo đức kinh doanh, để khuyến khích năng suất. Trong khi đó. tại các

nước đang phát triển, cơ hội phát triển kinh tế và xã hội bị hạn chế bởi độc quyền,

tham nhũng. hạn chế tiến bộ cá nhân cũng như phúc lợi xã hội.

Niềm tin là cái mà các cá nhân xác định. có cảm giác chia sẻ với những người

khác trong xã hội. ở mức độ hẹp nhất của niềm tin trong xã hội là lòng tin vào

chính mình, rộng hơn nữa là thành viên trong gia tỉnh và họ hàng. Các quốc gia

có các thể chế dựa vào niềm tin sẽ phát triển môi trường năng suất cao vì có một

hệ thống đạo đức giúp giảm thiếu các chi phí giao dịch, làm cạnh tranh trở nên

hiệu quả hơn. Trong hệ thống dựa vào thị trường có niềm tin lớn như Nhật Bản,

Anh Quốc. Canada, Hoa Kỳ. Thuỵ Điển. các doanh nghiệp có thể thành công và

phát triển nhờ có một tinh thần hợp tác và niềm tin.

Chúng ta tiến hành so sánh tỷ lệ tham nhũng trong các thể chế xã hội khác

như Nigêria và Nga có tỷ lệ tham nhũng cao trong khi đó Canada và Đức có tỷ

lệ tham nhũng thấp. Ta có thể thấy được điểm khác biệt chính giữa các cấp độ về

sự vững mạnh và ổn định kinh tế của các nước này chính là vấn đề đạo đức. Điểm

khác biệt giữa sự vững mạnh và ổn định về kinh tế của các nước này cho ta một

minh chứng là đạo đức đóng một vai trò chủ chốt trong công cuộc phát triển kinh

tế Tấn hành kinh doanh theo một cách có đạo đức và có trách nhiệm tạo ra niềm

tin và dẫn tới các mối quan hệ giúp tăng cường năng suất và đổi mới.

Tóm lại, chúng ta có thể thấy vai trò quan trọng của đạo đức kinh doanh đối

với các cá nhân. đối với doanh nghiệp và đối với xã hội và sự vững mạnh của nền

kinh tế quốc gia nói chung. Các cổ đông muốn đầu tư vào các doanh nghiệp có

chương trình đạo đức hiệu quả, quan tâm đến xã hội và có danh tiếng tốt. Các

nhân viên thích làm việc trong một công ty mà họ có thể tin tưởng được và khách

hàng đánh giá cao về tính liêm chính trong các mối quan hệ kinh doanh. Môi

trường đạo đức của tổ chức vững mạnh sẽ đem lại niềm tin cho khách hàng và

nhân viên. sự tận tâm của nhân viên và sự hài lòng của khách hàng, mang lại lợi

nhuận cho doanh nghiệp. Tư cách công dân của doanh nghiệp cũng có mối quan hệ tích cực với lợi nhuận mang lại của các khoản đầu tư. tài sản và tăng doanh thu của doanh nghiệp. Đạo đức còn đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển và thịnh vượng của một quốc gia. Đạo đức kinh doanh nên được tập thể quan tâm trong khi lập kế hoạch chiến lược như các lĩnh vực kinh doanh khác, như sản xuất.tài chính, đào tạo nhân viên, và các mối quan hệ với khách hàng.


Xây dựng đạo đức kinh doanh

Khi nhắc tới khái niệm "đạo đức kinh doanh", người ta thường cho rằng, đó là một yếu tố rất trừu tượng hoặc không thực tế. Bản thân những người hoạt động kinh doanh cũng không hiểu rõ khái niệm này và không hiểu hết vai trò của yếu tố đạo đức trong kinh doanh. Họ chỉ coi đó là yếu tố "vị nhân" (dùng làm người) chứ không "vị lợi" ( không sinh lợi).

Trong khi đó, đạo đức kinh doanh lại có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Từ thực tế, các nhà kinh tế đã chứng minh rằng lợi nhuận doanh nghiệp gắn liền với đạo đức, và mức độ tăng lợi nhuận gắn với mức độ tăng đạo đức. Vì vậy, khi không hiểu được vai trò của đạo đức kinh doanh, không có ý thức xây dựng đaọ đức kinh doanh trong doanh nghiệp, các doanh nghiệp sẽ rất khó đi tới con đường thành công cao nhất. Hiểu rõ khái niệm, vai trò và cách thức xây dựng đạo đức kinh doanh là vô cùng quan trọng với các doanh nghiệp.


Đạo đức kinh doanh là gì?

- Có thể hiểu đơn giản, đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của các doanh nhân đối với bản thân họ, và đối với những người khác, với xã hội.

Đạo đức kinh doanh là đạo đức được áp dụng vào trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy, đạo đức kinh doanh phải theo những chuẩn mực đạo đức nói chung đã được xã hội thừa nhận và phải phù hợp với những đạo lý dân tộc.

- Đạo đức kinh doanh là môt khái niệm phức tạp và được nhìn nhận theo nhiều cách khác nhau. Trong cách tiếp cận của các nhà kinh tế học cổ điển, vấn đề đạo đức chưa được đặt ra trong hoạt động kinh doanh. Họ cho rằng, mục đích duy nhất của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, vì vậy, doanh nghiệp không cần quan tâm tới đạo đức, họ coi đây là yếu tố "vị nhân bất vị lợi".

Các nhà kinh tế học hiện đại đã chứng minh, bản thân doanh nghiệp là một thiết chế xã hội mang tính tổ chức cộng đồng, được tồn tại, vận hành, phát triển bởi chính các thành viên trong cộng đồng đó. Như vậy, muốn đáp ứng một cách hiệu quả lý do tồn tại của mình - nghĩa là sản sinh lợi nhuận cần thiết cho việc tái tạo mở rộng doanh nghiệp -thì doanh nghiệp phải đặt mình ở vị trí là một thành viên của cộng đồng, chứ không phải chỉ là một tác nhân kinh tế. Nói đơn giản thì doanh nghiệp muốn đạt đến mức tối đa mục tiêu của nó là “vị lợi” thì chí ít phải biết thế nào là “vị nhân”!

- Đặc điểm của đạo đức kinh doanh: Hoạt động kinh doanh luôn gắn liền với lợi ích kinh tế, nên đạo đức kinh doanh cũng có những đặc trưng riêng của nó. Chẳng hạn, tính thực dụng, coi trọng hiệu quả kinh tế luôn là yêu cầu hàng đầu đặt ra đối với giới kinh doanh, thì đối với người khác đôi khi lại là những biểu hiện không tốt. Khi đánh giá đạo đức kinh doanh, người ta thường dựa vào các nguyên tắc và chuẩn mực về:

  • Tính trung thực: Trung thực với bản thân, với khách hàng. Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời. Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh, nhất quán trong nói và làm. trung thực trong chấp hành luật pháp của nhà nước....
  • Tôn trọng con người: Đối với những người cộng sự và dưới quyền tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên... Đối với khách hàng: tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng. Đối với đối thủ cạnh tranh, tôn trọng lợi ích của đối thủ.
  • Trách nhiệm với cộng đồng, xã hội: Luôn gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của xã hội. Tích cực góp phần giải quyết những vấn đề chung của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.
Đạo đức kinh doanh chính là đaọ đức nghề nghiệp của những người hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, xây dựng, phát triển đạo đức kinh doanh không chỉ là trách nhiệm của cá nhân, mà nó là cả một quá trình, gắn liền với sự phát triển của cả doanh nghiệp.
Vai trò của đạo đức kinh doanh đối với doanh nghiệp

Đạo đức kinh doanh chính là yếu tố góp phần tăng sự tin tưởng, thỏa mãn của khách hàng, tăng sự tin tưởng, trung thành của nhân viên, điều chỉnh hành vi của doanh nhân, nâng cao hình ảnh doanh nghiệp và cao lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, muốn đạt được thành công bền vững, các doanh nghiệp phải xây dựng được nền tảng đạo đức kinh doanh cho doanh nghiệp mình.

  • Tăng sự tin tưởng, thỏa mãn của đối tác và khách hàng: trong một thị trường cạnh tranh, điểm “cân bằng tối ưu” chỉ có thể hình thành trên cơ sở của sự liên kết hoặc/và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không thể trên nền tảng của sự lừa dối lẫn nhau. Tôn trọng luân lý xã hội và thực hiện đạo đức trong kinh doanh chính là cách tăng tài khoản niềm tin của doanh nghiệp đối với khách hàng và đối tác làm ăn.

Đối với những doanh nghiệp luôn gắn lợi ích của mình với lợi ích của khách hàng và xã hội, thì sự tin tưởng và thỏa mãn của khách hàng cũng sẽ ngày càng tăng lên. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng là mối quan hệ tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau. Một khách hàng vừa lòng, sẽ quay lại với doanh nghiệp và kéo tới cho doanh nghiệp những khách hàng khác. Ngược lại, một khách hàng không vừa lòng sẽ không bao giờ trở lại và cũng kéo đi những khách hàng khác.

  • Tăng sự tin tưởng, trung thành của nhân viên: Khi quan tâm tới các chuẩn mực đạo đức kinh doanh, thì doanh nghiệp cũng rất tôn trọng và quan tâm tới nhân viên. Doanh nghiệp càng quan tâm tới nhân viên, nhân viên càng tận tâm với doanh nghiệp. Hơn nữa, bất cứ ai cũng muốn làm việc cho những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh minh bạch, trong sáng. Họ tin tưởng hơn vào sự phát triển bền vững của công ty. Khi làm việc trong một doanh nghiệp hướng tới cộng đồng, hướng tới lợi ích của xã hội, bản thân mỗi nhân viên cũng thấy công việc của mình có giá trị hơn. Họ làm việc tận tâm hơn và sẽ trung thành với doanh nghiệp hơn. Một môi trường làm việc trung thực, công bằng sẽ gây dựng được nhân nguồn lực quý giá cho doanh nghiệp.
  • Góp phần điều chỉnh hành vi của doanh nhân: Các doanh nhân phải luôn luôn tự xem xét và điều chỉnh những hoạt động của mình sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức kinh doanh đã được thừa nhận. Khi ở vị trí điều hành doanh nghiệp, sự điều chỉnh này càng có ý nghĩa quan trọng. Phong cách lãnh đạo, quản lý sẽ ảnh hưởng lớn tới thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Điều chỉnh cách lãnh đạo, quản lý phù hợp hơn với doanh nghiệp, với các nguyên tắc đạo đức góp phần giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
  • Góp phần nâng cao hình ảnh doanh nghiệp: Một doanh nghiệp quan tâm tới đạo đức kinh doanh sẽ có được sự trung thành của nhân viên, sự tin tưởng, hài lòng của khách hàng và các nhà đầu tư. Khi có trách nhiệm cao với cộng đồng, xã hội, doanh nghiệp cũng sẽ nhận được sự ủng hộ tích cực của cộng đồng. Hình ảnh doanh nghiệp được nâng cao hơn, tạo dựng được sự tín nhiệm lâu dài đối với mọi người. Điều này không phải doanh nghiệp nào cũng làm được và cũng không phải có tiền là tạo dựng được.
  • Góp phần nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp: Nghiên cứu của hai giáo sư John Kotter và James Heskett ở trường Đào tạo quản lý kinh doanh thuộc Đại học Harvard trong cuốn "Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động hữu ích" đã cho thấy, trong vòng 11 năm, những công ty "đạo đưc cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682%, trong khi những công ty đối thủ "đạo đức trung bình" chỉ đạt 36%. Khi có được sự tận tâm của nhân viên, hiệu quả công việc sẽ cao hơn. Khi có được sự tín nhiệm của các đối tác, các nhà đâu từ, doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội làm ăn hơn, lợi ích kinh tế sẽ cao hơn rất nhiều.

Xây dựng đạo đức trong kinh doanh như thế nào?

Mỗi doanh nghiệp cần xây dựng được một chương trình đạo đức hiệu quả đảm bảo tất cả các nhân viên đều hiểu và tuân thủ theo các nguyên tắc đạo đức kinh doanh đưa ra. Doanh nghiệp hướng dẫn mọi thành viên thực hiện, đồng thời thường xuyên kiểm tra, đánh giá chương trình đạo đức, và không ngừng hoàn thiện chương trình đạo đức. Xây dựng và phát triển đạo đức trong doanh nghiệp là cả một quá trình, đòi hỏi sự tận tâm của mọi thành viên trong doanh nghiệp.

STT

Các bước

Giải thích

1

Xây dựng chương trình đạo đức

Doanh nghiệp lập ra một ban chịu trách nhiệm xây dựng chương trình đạo đức cho doanh nghiệp. Ban này cần có sự tham gia và chịu trách nhiệm của ban giám đốc hoặc các nhà quản lý cao cấp. Chương trình đạo đức doanh nghiệp đề ra các nguyên tắc, quy định... phù hợp với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh, với văn hóa, với mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp. Các nguyên tắc, quy định cần phải rõ ràng, cụ thể, cần cho nhân viên biết rõ hành vi nào được chấp nhận, hành vi nào không được chấp nhận trong doanh nghiệp.

2

Phổ biến chương trình đạo đức

Doanh nghiệp phổ biến bản quy định về đạo đức cho tất cả các nhân viên, các doanh nghiệp con, doanh nghiệp liên kết...đảm bảo mọi thành viên trong doanh nghiệp đều chấp nhận và thực hiện theo. Có thể áp dụng nhiều hình thức khác nhau: thông qua các chương trình đào tạo, các buổi gặp mặt truyền thống, các buổi hướng dẫn, trao đổi trực tiếp với nhân viên.

3

Thực hiện, kiểm tra, đánh giá chương trình đạo đức

Trước hết, bản thân ban giám đốc, lãnh đạo phải là người thực hiện những quy định về đạo đức đầu tiên. Nếu những người đứng đầu doanh nghiệp hành động vô đạo đức thì rất khó tạo ra và phát triển một môi trường đạo đức trong doanh nghiệp.

Doanh nghiệp hướng dẫn nhân viên thực hiện theo những quy định đã được đề ra. Bản quy định về đạo đức cần trở thành đạo đức nghề nghiệp của mọi nhân viên, trở thành một bộ phận của văn hóa công ty.

Doanh nghiệp kiểm tra, đánh giá xem việc thực hiện các nguyên tắc, quy định của các thành viên đạt tới đâu. Trong quá trình đánh giá, cần có mức thưởng công bằng đối với những người làm tốt và nhắc nhở kịp thời những người làm chưa tốt.

4

Không ngừng hoàn thiện chương trình đạo đức.

Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp, bản chương trình đạo đức cũng cần phát triển và hoàn thiện dần. Doanh nghiệp cam kết phục vụ khách hàng tốt hơn, quan tâm tới đời sống nhân viên hơn, có trách nhiệm với xã hội, cộng đồng hơn nữa...Tất cả những hoạt động đó cần được duy trì và phát triển gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp.

Số lượt đọc:  4760  -  Cập nhật lần cuối:  02/08/2008 11:15:20 AM
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ