|
Về nhận thức văn hoá Doanh nhân | Bùi Thiết
Tạp chí VHDN | Gửi email
Bản in
09:59' AM - Thứ tư, 02/07/2008 | | Về nhận thức văn hoá Doanh nhân
Cùng với quá trình đổi mới đất nước và hội nhập với các quốc gia trong khu vực và nhiều vùng rộng lớn trên thế giới, làm xuất hiện khá nhiều vấn đề mới trong toàn bộ các lĩnh vực hoạt động xã hội, mà lâu nay chúng ta tưởng là chẳng có gì phải nói đi nói lại nữa, dường như các nguyên lý – lý luận – nhận thức luận… đã được trang bị từ thời bao cấp như là kim chỉ nam ấy, bổng trở nên chật chội, gò bó với một cơ thể như đang trở mình, sau mỗi đêm ngủ dậy vương vai nghe tiếng rạn rách của tà áo chật.
Một cấp thiết đổi mới nhận thức đòi hỏi phải đi trước một (hay nhiều) bước, để mọi người hiểu thấu những gì sẽ phải diễn ra trong quá trình đổi mới, để mà có nhiều cố gắng nhiều hơn nữa, không để tụt hậu trong nhận thức, vì sự tụt hậu trong nhận thức sẽ kéo theo hàng loạt những tụt hậu khác trong thực tiễn đổi mới vừa được nhen nhóm chưa lâu, mà sự đổi mới vừa được nhen nhóm này, đang tiềm ẩn những khả năng và nguy cơ khó mà lường trước, nếu không đổi mới nhận thức.ư
Đổi mới và hội nhập, quy cho đến cùng là đổi mới và hội nhập hệ thống kinh tế – xã hội của đất nước, hay nói đến cách khác trên cơ sở của đổi mới và phát triển, nhanh chóng gia nhập vào hàng ngũ các nước phát triển trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Nói đến phát triển kinh tế, là nói đến sự gia tăng của các giá trị vật chất được sáng tạo ra một cách lành mạnh bằng lao động chân chính và có trình độ cao của những chủ thể lao động sáng tạo; mọi của cải không tự nhiên mà có, cho nên con người của mọi thời đại, đặc biệt là con người của thời đổi mới và hội nhập phải là con người của lao động sáng tạo, làm ra thật nhiều của cải cho xã hội, góp công sức của mình cho dân giàu, nước mạnh.
Vì vậy, trong bối cảnh đó, chúng ta cùng có thêm hiểu biết và quan niệm đúng đắn và đầy đủ hơn về những con người có nhiều lao động sáng tạo làm giàu có cho đất nước, mà lâu nay với quan niệm cũ vai trò và vị trí của họ bị bao trùm bởi cái gọi là tập thể chung chung, thậm chí lao động sáng tạo của họ bị quy kết đủ thứ tội lỗi nghiệt ngã mà cái mũ kim cô chủ nghĩa cá nhân luôn luôn siết chặt một cách nhức nhối đến chết ngất đi được. Cũng như vậy, một thời hay giương cao chủ nghĩa anh hùng tập thể, còn cá nhân anh hùng thuộc về ơn huệ, người ta cho ai thì kẻ ấy được, và có lúc, có nơi, khi có đơn vị anh hùng, song không thể có cá nhân anh hùng trong tập thể anh hùng đó.
Hãy trở lại với câu châm ngôn muôn thuở, rằng chính con người làm nên lịch sử, đặc biệt là những vĩ nhân, những con người có sức mạnh phi thường, quyết định chiều hướng phát triển của lịch sử, có đủ sức mạnh làm đảo lộn tình thế, làm thay đổi bộ mặt xã hội, chúng ta từng chứng kiến những người anh hùng của các thời đại lịch sử, có thể vô danh hay hữu danh, đã cùng nhân loại hay chỉ huy nhân loại sáng tạo nên những nền văn minh rực rỡ từ thời cổ đại cho đến tận gần đây, mà mỗi cột mốc phát triển của lịch sử gắn liền với những sáng tạo vĩ đại của họ. Có thể lấy hệ thống kiến trúc Kim Tự Tháp của Ai Cập cổ đại làm dẫn chứng, thoạt đầu đó là ý tưởng táo tợn của một Paraông, theo đó là việc tổ chức lao động xây dựng Kim Tự Tháp của hàng vạn nô lệ, và phải kéo theo những khoảng thời gian dài ngắn khốc liệt khác nhau cùng với biết bao hy sinh xương máu của nô lệ, để cuối cùng hoàng thiện những mộ phần nguy nga của các Paraông, mà ngày nay được xếp vào những kỳ quan hàng đầu của văn minh nhân loại; không có lao động của hàng vạn nô lệ Ai Cập cổ đại có thể không có được những Kim Tự Tháp như thế cũng nên, nhưng nếu như không có Paraông, thì đến cả những Kim Tự Tháp tồi nhất cũng không thể được mọc lên, chứ chưa nói gì đến sự tuyệt diệu của các Kim Tự Tháp mà nhân loại vô cùng tự hào trong suốt mấy ngàn năm nay. Như vậy, để muốn nói lên rằng, tập thể là cái vô hạn, còn ý tưởng có tính sáng tạo của cá nhân là cái hữu hạn, tất cả đều cần cho nhân loại, song cái mà nhân loại cần hơn hết phải là sáng tạo bởi một cá nhân (hay là bởi một nhóm), tựa như một cỗ đầu máy khổng lồ, kéo theo sau là hàng trăm ngàn toa xe, đưa nhân loại tiến về phía trước.
Trong lĩnh vực sáng tạo ra mọi giá trị của cải (vật chất, tinh thần và ứng xử) nhằm làm thay đổi diện mạo tinh tế-xã hội mà chúng ta đang nói ở đây, vai trò của những bộ óc sáng tạo là cực kỳ quan trọng, những ý tưởng được nảy nở từ những suy nghĩ táo bạo, như là khởi đầu quyết định hết thảy mọi thành tựu mà chúng ta thu về; một khi xã hội vắng thiếu sự điều hành của những ý tưởng sáng tạo vĩ đại, chắc chắn rằng lao động của đông đảo tập thể, nhiều khi chỉ là lao động mang tính bản năng, những lãng phí lao động thường khi có tác động phá hoại là cầm chắc!
Từ đó, chúng tôi thấy cần thiết phải nêu ra và khẳng định vai trò, vị trí của các doanh nhân trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, vì chính họ, chứ không phải ai khác làm thay đổi diện mạo kinh tế-xã hội, đất nước, để có thể nói đất nước đã đổi mới và có khả năng hội nhập, và cái công thức là: phát triển mạnh kinh tế-đổi mới toàn diện đất nước-có đầy đủ khả năng hội nhập; đó cũng chính là hình mẫu xã hội mà đất nước ta, toàn dân ta phấn đấu vì màu cờ sắc áo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Nhưng trong phạm vi mà chúng tôi giới hạn như tiêu đề của bài viết ở trên, không phải là doanh nhân nói chung, hay doanh nhân nhìn từ góc độ kinh tế - xã hội rộng lớn, mà là doanh nhân được nhìn từ góc nhìn văn hóa, hay xem xét những cấu thành văn hóa từ hoạt động của doanh nhân, bởi vì trong xã hội có những doanh nhân chưa có hay chưa đạt đến ngưỡng văn hóa cần thiết. Do đó cái mà chúng tôi bàn đến là văn hóa doanh nhân (xin viết tắt là VHDN). VHDN là thuật ngữ mới được khái quát và xuất hiện cùng với quá trình đổi mới và hội nhập vừa qua, tên gọi của thuật ngữ là rõ ràng, được ghép bởi 2 khái niệm VH và DN, cái vỏ ngôn ngữ không mấy xa lạ, song nội hàm của VHDN mới là điều quan trọng cần có sự hiểu biết cần thiết, để đề phòng cái sự sính chữ trong giao tiếp, chỉ riêng trong lĩnh vực văn hóa, những nghiên cứu hệ thống thuật ngữ có kết nối của khái niệm văn hóa, kể ra có đến cả trăm, nào là: VH vật chất, VH tinh thần, VH ăn uống, VH giao tiếp, VH học đường, VH sách, VH đọc, VH hội thảo,… mà ngay cả những người hoạt động trong ngành văn hóa, nhiều khi chưa hiểu biết cần thiết về hệ thống các thuật ngữ đó, chưa nói đến công chúng đông đảo mà giới hạn trong số hay theo dõi thông tin qua các phương tiện truyền thông, cũng đã cảm thấy một cái gì đó chưa rõ ràng, chưa thấu đáo khi nói đến VHDN, hay chính xác hơn là thiếu vắng sự giải thích có sức thuyết phục về thuật ngữ VHDN, nếu có thì vẫn rất qua loa, nhìn nhận VHDN theo sự hiểu biết không chuẩn xác, như kiểu các thầy bói xem voi mà thôi, nhiều khi thuật ngữ VHDN bị giới cầm bút đánh bóng một cách hào nhoáng bởi góc nhìn lệch lạc nghề nghiệp, biến VHDN trở thành xa lạ với đời thường, không phản ánh trung thực bản chất của VHDN.
Vấn đề VHDN đã và đang thực sự trở thành vấn đề của nhận thức luận khoa học, của những giải trình mang đầy đủ ý nghĩa về lý luận và phương pháp luận khoa học về nghiên cứu doanh nhân, nếu không có sự chỉ đạo của lý luận nhận thức về VHDN, mặt nào đó có ảnh hưởng đến thái độ của toàn xã hội về giới doanh nhân, hoặc là không coi trọng đúng mức về họ, hoặc là huyễn hoặc về họ một cái gì đó tựa như kính nhi viễn chi, đẩy họ trở thành xa lạ đối với quãng đại người lao động, trong khi họ là người lao động thực thụ.
Trình bày như thế nào đây về VHDN là một vấn đề khó, chưa có tiền lệ trong khoa nghiên cứu doanh nhân, cho nên những thử nghiệm sau đây của chúng tôi vẫn chưa thoát ra khỏi sự bỡ ngỡ đó, vẫn là thứ rất chủ quan theo hiểu biết mà chúng tôi có được về VHDN, xin cứ được trình ra một cách không e ngại, mong cùng được thảo luận bàn bạc và trao đổi với những ai quan tâm đến VHDN, may ra có như vậy, nhận thức về VHDN ngày càng được đầy đủ và sâu sắc hơn. Thế nào là Văn hóa doanh nhân?
Muốn trả lời được câu hỏi, hay muốn có được hiểu biết tương đối về VHDN, trước hết phải làm sáng tỏ hai khái niệm (hay thuật ngữ) văn hóa và doanh nhân là gì? từ đó cho phép hiểu đúng về VHDN không phải là một phép cộng nhận thức trên cơ sở của cả văn hóa và doanh nhân gộp lại.
VĂN HÓA. Hằng ngày ai cũng nói đến hai từ VH, thường như là câu nói của miệng hay bật ra nhanh nhất và không có ý nhất, trên đại thể cái gì hay đều có thể gọi là VH, còn cái gì đó làm cho mình không vừa lòng, hay bị xúc phạm đều có thể quy về cho cái mất VH, hay là sự tình không có VH. Trong giới nghiên cứu VH cho đến nay, từng nêu ra hàng dăm – bảy chục cái gọi là định nghĩa về VH, song không ai giống ai về ngôn từ hay cấu trúc định nghĩa của mỗi ngôn ngữ, song về nội hàm của định nghĩa VH giữa các định nghĩa dường như có chung mẫu số của nhận thức, phản ánh tương đối trung thực thực trạng VH, dường như trùng khớp về cơ bản, ở những đường nét chính, các mảng màu chủ đạo… song vẫn có những khoảng cách nhất định. Cho đến nay, giới nghiên cứu VH vẫn đang bàn bạc sôi nỗi về thuật ngữ này, tùy theo cách nhìn của người nghiên cứu mà VH được trình bày, ở đây chúng tôi không có điều kiện để giới thiệu các cách trình bày khác nhau về VH của các nhà nghiên cứu, nhưng trên đại thể, hầu hết mọi người đều cho rằng VH là những gì do chính con người lao động sáng tạo ra, để phân biệt với những thứ vốn là sản phẩm có sẵn trong giới tự nhiên hay nói cách khác VH là sáng tạo của con người, VH là những gì gắn chặt với lao động của nhân loại.
Nói VH là lao động sáng tạo của con người là đúng và chính xác, song chưa đầy đủ, hay là chưa phản ánh được bản chất của VH, bởi vì có những thứ do chính con người làm ra, song không thuộc về VH, có khi trở thành phản VH nữa là đằng khác, như vũ khí giết người hàng lọat dùng trong các cuộc chiến tranh giữa người với người, chẳng hạn phim ảnh – băng hình đồi trụy, kích động bạo lực… những lao động sáng tạo ra những thứ đó không thể nào được gia nhập vào hàng ngũ VH hay đó là những sản phẩm VH.
Tiếp thu thành quả mà giới nghiên cứu VH có được trong thời gian qua, và với suy ngẫm của bản thân, thông qua một số trình bày mang tính thử nghiệm về VH, ở đây xin được nêu ra những kiến giải của mình như sau: văn hóa là một khái niệm (thuật ngữ) nhằm để chỉ một cách cô đọng và bao quát hết thảy mọi lao động sáng tạo của con người, để tìm ra mọi của cải có giá trị vật chất, có giá trị tinh thần, có giá trị ứng xử, mà những của cải có giá trị đó hoàn toàn có lợi, nhằm thỏa mãn ngày càng cao hơn, tốt đẹp hơn cuộc sống của con người, làm cho môi trường sống của con người và môi trường tự nhiên ngày càng bền vững hơn vì hạnh phúc của con người.
Những của cải do con người làm ra có các giá trị vật chất – tinh thần – ứng xử như vừa nêu, đến lượt nó, khi xem xét dưới góc độ VH, chính là những sản phẩm VH, mang sẵn trong mình nó là VH vật chất (VHVC), VH tinh thần (VHTT), VH ứng xử (VHƯX), mà việc trình bày rõ ràng thêm, sẽ làm cho nhận thức về phạm trù VH ngày càng sâu sắc thêm.
Văn hóa vật chất (VHVC) là khái niệm để chỉ hết thảy mọi của cải hiện hữu do con người làm ra, hay cải tạo cải biến những thứ có trong tự nhiên, để phục vụ cho các nhu cầu sống của con người, từ cái ăn, cái mặc, cái ở, cái để đi lại, các phương tiện sống và lao động… Nhưng như đã nói, có những thứ do con người làm ra không thuộc về VH, chẳng hạn với sáng tạo ra thuốc nổ, nếu được dùng vào các hoạt động khai phá tự nhiên, như phá núi làm đường… thì hậu quả của nó là hoạt động mang tính VH, còn khi dùng thuốc nổ chế tạo vũ khí giết người và dùng thuốc nổ hủy diệt môi trường, thì đó là những thứ phản VH.
Văn hóa tinh thần (VHTT) là khái niệm để chỉ những sáng tạo tinh thần của con người, như sáng tạo ra hệ thống cấu trúc xã hội và nhà nước qua các thời đại, hệ thống pháp luật, các thể chế kinh tế, triết học, tôn giáo, văn học – nghệ thuật, sử học và ngôn ngữ… hết thảy đều thuộc vào VHTT. VHTT có thể tồn tại dưới dạng vật thể hay phi vật thể; có những sáng tạo của con người vừa là VHVC cũng vừa là VHTT, chẳng hạn ngôi nhà, vốn là VHVC, nhưng ngôi nhà là tổ ấm của gia đình, ở đó có bao nhiêu là tình cảm là kỷ niệm của bao nhiêu con người từng sinh sống trong đó; những nhà lưu niệm dành cho các danh nhân, bao hàm trong đó những giá trị về VHTT.
Văn hóa ứng xử (VHƯX) là khái niệm để chỉ những sáng tạo về lĩnh vực ứng xử giữa con người với con người (hay là ứng xử trong xã hôi loài người) và ứng xử giữa con người với thế giới chung quanh (hay là ứng xử giữa con người với vũ trụ). Ứng xử trong xã hội loài người, hay là giữa con người với con người, bao gồm hàng loạt hệ thống khác nhau, như ứng xử trong gia đình, ứng xử trong họ tộc, ứng xử trong cộng đồng làng xã.. cho đến ứng xử giữa các dân tộc và các quốc gia với nhau; mỗi hệ thống ứng xử có những nguyên tắc và cung cách riêng, nhằm đạt mục đích chung sống hữu hảo với nhau. Còn ứng xử giữa con người với vũ trụ, với thế giới tự nhiên cũng bao gồm rất nhiều hệ thống và vô cùng phong phú, nhằm đạt mục đích cao cả là chung sống ổn định với tự nhiên. Cũng như VHTT, thì VHƯX cũng tồn tại dưới dạng phi vật thể và vật thể, có hệ thống hoàn phi vật thể trong VHƯX, như hệ thống thần linh mà con người sáng tạo ra để tôn thờ; song có hệ thống ứng xử phải được thể hiện bằng vật thể, lấy ngôi nhà làm dẫn chứng, như chúng ta biết, ngôi nhà trước hết thuộc về VHVC, lại là VHTT lại đến lượt nó được xem xét như là thuộc về VHƯX, bởi vì để xây cất thành ngôi nhà, chủ nhà phải tiến hành hàng loạt nghi thức mang tính chất ứng xử, như: xem thế đất, chọn ngày động thổ, xem tuổi của chủ nhà, khi xây phải chọn hướng nhà, rồi bố trí các hạng mục công trình như bếp, bàn thờ, chiều rộng hẹp của cửa chính và các cửa phụ… xem thế thì ngôi nhà là thể hiện của sự ứng xử giữa con người với vũ trụ, với không chỉ mưa nắng gió bão, mà còn với may rủi, với phúc họa của chủ nhà và toàn gia đình, chúng ta thường nghe câu châm ngôn tácgia hữu sự, như là sự nhắc nhở của chủ nhà cần xem xét cho thật kỹ lưỡng khi làm nhà, không phải hể có tiền thì muốn làm nhà là làm được ngay đâu nhé, những yếu tố nằm ngoài vật chất nhiều khi đánh đố tất cả những tính toán không hợp quy luật ứng xử. Chúng tôi muốn nói nhiều đến VHƯX như là một cấu thành vô cùng hệ trọng trong ba cấu thành của phạm trù VH, là để nhấn mạnh thêm rằng, những sáng tạo về VHVC và VHTT muốn trở nên vững bền cần có bệ đỡ của VHƯX, một khi những sáng tạo vật chất và về tinh thần không đạt đến chuẩn của ứng xử, sẽ làm tiêu tan mọi cố gắng lao động sáng tạo của con người. Cũng như VHVC, thì những sáng tạo về ứng xử, một khi không nhằm mang lại ích lợi cho con người, hay không nhằm vào mụch đích chung sống hòa thuận, không thể coi là VHƯX, chẳng hạn những phát ngôn kích động hận thù giữa các dân tộc và tôn giáo, sự chửi đổng của nhà hàng xóm gây căng thẳng cho láng giềng, đều là những phản văn hóa.
Ba cấu thành của phạm trù VH như vừa trình bày, tuy không có gì là mới lạ trong sự hiểu biết lâu nay của mọi người, đều là những tri thức đời thường, nhưng một khi chúng được quy nạp vào phạm trù VH, hay là khi được xem xét từ khía cạnh VH, như là góp thêm một hiểu biết khác về những gì rất quen thuộc trong cuộc sống đời thường, và sự đưa tất cả những thứ đó vào trong phạm trù VH mới là điều cần cho nhận thức mới về VH.
DOANH NHÂN. Là một thuật ngữ mới xuất hiện gần đây, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước, mới nghe thì thuật ngữ có vẻ như có nguồn gốc trong hán tự, bởi doanh, là hoàn toàn chữ hán, nhằm để chỉ sự kinh doanh, sự mở mang khai phá, sự phát triển, sự gia tăng trong mọi lĩnh vực lao động, có hàng chục từ có thể được ghép với doanh trong các từ điển và được nói đến trong giao tiếp hàng, còn chữ nhân, cũng cả trăm phần trăm là hán tự ghép hai từ doanh với nhân để có doanh nhân (DN), nhưng trong các từ điển chữ hán thông dụng không có thuật ngữ DN, cũng vì vậy mà sự hiểu biết về DN cho đến hiện nay là tương đối, tùy theo góc độ nghề nghiệp mà cách tiếp cận khái niệm DN tương ứng. Trên đại thể, mọi người đều có nhận thức cho rằng DN là để chỉ những người kinh doanh hay người hoạt động trong các xí nghiệp – doanh nghiệp… đó là cách hiểu không sai, nhưng chưa đầy đủ chưa chính xác, và cũng có thể nói là chưa bao quát thật chuẩn xác về DN; không nên có sự nhầm lẫn giữa người kinh doanh với DN tuy rằng DN vốn là người kinh doanh, mà người kinh doanh thì hằng hà đa số, trong khi đó DN thì không nhiều đến như vậy; chính là có sự khác nhau về chất giữa người kinh doanh và DN, cũng từ đó mà hiểu rằng DN nhằm để chỉ những người làm ăn giỏi, những nhà doanh nghiệp có tài kinh bang tế thế, là những đại biểu xuất sắc nhất trong các hoạt động sáng tạo tạo ra mọi giá trị vật chất, tinh thần và ứng xử làm phong phú mọi nguồn của cải cho đất nước và cho bản thân mình. Một điều cần lưu ý đến ở đây, là lâu nay người ta chỉ hạn chế DN trong lĩnh vực lao động sáng tạo ra của cải vật chất một cách thuần túy, đó là những thứ chỉ dùng cho cuộc sống đời thường thực ra DN bao gồm trong đó đội ngũ những người lao động sáng tạo trong các lĩnh vực văn học – nghệ thuật, những danh họa, những tiểu thuyết gia, những nhạc sĩ… những người tự lấy bản thân thân xác mình làm vật liệu cho mọi sáng tạo tinh thần và ứng xử cho nhân loại.
Từ những diễn giải ở trên, chúng ta có thể đi đến một định nghĩa nên chăng về DN, mà theo tôi thì :doanh nhân là một danh hiệu, nhằm để tôn vinh những người có khả năng tổ chức lao động sáng tạo làm ra thật nhiều của cải (vật chất, tinh thần và ứng xử) cho xã hội trong tiến trình lịch sử, không phân biệt chế độ và thời đại xã hội cũng như các điều kiện tiến bộ hay lạc hậu của khoa học kỹ thuật.
Chúng ta đã tìm hiểu thế nào là VH và thế nào là DN? Nhưng để đi đến được khái niệm VHDN lại là một vấn đề khác, không hẳn là một số cộng mang tính toán học giữa VH và DN để có VHDN; Như đã trình bày, trong khái niệm VH, ý tưởng chủ đạo là mọi sáng tạo của cải mang lại lợi ích cho con người là bao trùm, còn trong DN ý tưởng chủ đạo lại là sự lao động sáng tạo ra thật nhiều của cải, không phân biệt một cách rạch ròi ích lợi của của cải đó. Ở đây vô hình trung đã để lộ ra một ý ngầm trong thuật ngữ DN, rằng sự giàu có về của cải, không hẳn đã là văn hóa, rằng văn hóa mới làm ra của cải, còn của cải không thôi nhiều khi lại là những thứ có thể dẫn đến mất văn hóa hay phản văn hóa. Từ đó có thể cho phép chúng ta xem xét đến hai khả năng: Một là, DN có VH và Hai là, DN chưa đạt đến chuẩn của VH, hay nói cách khác, một người nào đó có thể được tôn vinh là DN nhưng chưa hẳn đã đạt đến ngưỡng của VHDN.
Để làm sáng tỏ nhận xét vừa nêu, chúng ta thử tìm kiếm trong thực tiễn họat động của các doanh nghiệp – doanh nhân, xem thử hoạt động nào của họ là có VH và hoạt động nào của họ chưa đạt đến cái VH mà xã hội mong muốn? Chúng ta thử giả định có một doanh nghiệp X ăn nên làm ra,
có ông chủ doanh nghiệp được tôn là DN, thu nhập hàng năm vượt chỉ tiêu quy định, đóng góp bội phần cho ngân sách nhà nước, xét thuần túy về kinh tế là doanh nghiệp xuất sắc; nhưng trong toàn bộ các quy trình họat động của doanh nghiệp là có vấn đề; chẳng hạn vì chạy theo lợi nhuận trước mắt mà hoạt động của doanh nghiệp gây ra những tổn thất lớn cho môi trường sinh sống của cư dân trong vùng một cách lâu dài; chẳng hạn vì theo đuổi sản xuất những mặt hàng thời thượng mà không suy tính đến sự phát triển của chính doanh nghiệp và cho toàn xã hội, như các doanh nghiệp sản xuất tôm, lấy địa bàn vùng cát ven biển làm cơ sở, sau một thời gian, nước mặn do nuôi tôm đã thẩm thấu lên toàn bộ đất đai trong vùng gây thảm họa môi trường nghiêm trọng; chẳng hạn có công ty khai thác khoáng sản, họ chỉ biết lấy đi những thứ có trong lòng đất mà họ cần, không có kế hoạch đầu tư lại cho vùng đất, cho nên sau khi doanh nghiệp khai thác nhổ neo, để trơ lại cho vùng đất quang cảnh hoang sơ đến hoang tàn và nỗi lo sợ của người dân từng hy vọng vào một nguồn tài nguyên trong lòng đất quê mình… Đó là chưa kể vô số những hoạt động kinh tế – kinh doanh có tính vơ vét chộp dựt theo thời vụ một cách tàn bạo, núp dưới những bảo kê đầy uy lực, và tạm thời họ được lăng xê lên như một vị cứu tinh cho nền kinh tế trên quá trình chuyển đổi.
Xem thế thì thấy ra rằng, nếu không phải là doanh nghiệp – DN bền vững, thì họ vẫn là doanh nghiệp- DN, nhưng họ không đạt đến cái mà xã hội cần, đó là chuẩn mực văn hóa của họ. Như vậy, từ doanh nghiệp đến văn hóa doanh nghiệp đang còn một khỏang cách khá xa cần nhiều phấn đấu và sàng lọc nghiệt ngã hơn nữa; trong thời gian qua chúng ta đã chứng kiến có hàng lọat đạo gia (có thể coi họ là doanh nghiệp hay doanh nghiệp rởm cũng được) vừa mới được làm rùm beng chưa ráo hết mực, đã phải bị niêm phong cơ sở, bị tống đạt lệnh giam giữ, trong đó có nhiều tội phạm nghiêm trọng, mà hoạt động dưới danh nghĩa doanh nghiệp – doanh nghiệp gây tai họa cho dân, cho đất nước một cách vô cùng nghiêm trọng.
Vậy thì văn hóa doanh nhân cần được hiểu đúng, hiểu đầy đủ và hiểu chính xác như thế nào là cả một vấn đề lớn, cần có nhiều tìm kiếm của nhiều người, có sự thảo luận, thậm chí gay gắt, mang tính xây dựng, không vị nể hay nói cho xong chuyện một cách hời hợt. Như đã nói ở trên rằng, việc nghiên cứu VHDN chưa được đặt ra một cách nghiêm túc và cấp bách, chưa từng có tiền lệ, rằng ai muốn nói gì thì cứ nói, miễn là có chút tâm với nghiên cứu văn hóa doanh nhân, như thế cũng là đã quý báu lắm rồi, còn nói cho thật trúng, thật đúng, thật hay đâu phải là chuyện dễ một sớm một chiều, cần có nhiều đầu tư và suy ngẫm chín chắn.
Danh có chính thì ngôn mới thuận, như cách phô diễn của các cụ ngày trước, chính vì cái sự không chính danh ấy, mà lâu nay hay xảy ra vô số những cái mập mờ trong xã hội, và trong hoạt động thuộc về doanh nghiệp – DN, nhiều khi cũng vạ lây, thậm chí ai đó là doanh nhân – doanh nghiệp cũng cần có sự chính danh một cách thật nghiêm túc, cũng chẳng để làm gì cả, nhưng đó lại là một nét văn hóa không thể thiếu.
Những rào đón như vậy đã quá dài trước khi đi thẳng vào thực chất của vấn đề, tức là trình bày một tiếp cận về phạm trù VHDN. Theo tôi thì: Văn hóa doanh nhân là một phạm trù xã hội, để chỉ những cá nhân lao động, sáng tạo làm ra thật nhiều của cải (bao gồm của cải vật chất, của cải tinh thần và của cải ứng xử) cho xã hội, mà của cải đó, hay quá trình làm ra của cải đó, nhằm nâng cao hơn nữa nhu cầu sống và hạnh phúc cho xã hội,không phá hoại môi trường tự nhiên và môi ttrường sống xã hội, những lao động sáng tạo đó đảm bảo cho sự phát triển bền vững mà xã hội cần có, chí ít cho chính sự ohát triển bền vững của mình, không gây cản trở và phương hại cho xã hội.
Có thể giải thích cặn kẽ hơn cho cách tiếp cận về VHDN mà tôi vừa trình bày, nhưng những mào đầu ở phần trên phần nào đã bàn đến, cho nên xin phép không nói gì thêm, chờ một cơ hội thuận tiện khác sẽ trở lại vấn đề.
Một lần nữa kính mong tất cả những ai quan tâm đến vấn đề VHDN hãy vào cuộc, hãy cùng nhau nhìn nhận một cách sâu rộng hơn về VHDN, để có thể có chung những hiểu biết đúng, đầy đủ, chính xác và bao quát hơn về một phạm trù xã hội mới mẻ này.
Nguồn:
Tạp chí VHDN Số lượt đọc:
319
-
Cập nhật lần cuối:
02/10/2008 10:02:03 AM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|
|
|
|
|
|
|