Các nhà đầu tư và giám đốc điều hành doanh nghiệp không đồng ý với cách định giá những loại tài sản bị tịch biên. Tuy nhiên, có thể họ không nhất thiết phải đồng ý. Vậy đâu là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện tại?
Các khoản nợ cầm cố dưới chuẩn, hợp đồng hoán đổi khả năng vỡ tín dụng, hay tình trạng nợ nần chồng chất? Steve Forbes, Chủ tịch của Forbes Media và từng là một nghị viên, cho rằng nguyên nhân không nằm ở bất kỳ khoản nào nêu trên cả. Theo góc nhìn của ông, nghiệp vụ hạch toán mark-to-market (MTM) chính là "nguyên nhân chủ yếu" dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ vào năm 2008.
Liệu các nguyên lý kế toán thực sự chịu trách nhiệm cho sự sụp đổ ấy? Với những độc giả không quen thuộc với các thuật ngữ tài chính, nghiệp vụ MTM là hoạt động tái đánh giá một tài sản theo chu kỳ từng quý dựa trên mức giá thu được từ việc bán tài sản này trên thị trường mở, bất kể khoản thu thực sự là bao nhiêu. Bởi vì hoạt động này cho phép không có một đánh giá nào lỗi thời hay có tính mơ tưởng, nên nó là một thành tố chính của cái gọi là phương pháp kế toán giá trị hợp lý. Đồng thời, nó là trung tâm của những tranh luận nóng bỏng nhất về kế toán trong nhiều thập niên qua.
Nhiều chủ ngân hàng bắt đầu công kích phương pháp kế toán giá trị hợp lý khi tình trạng tắt nghẽn đột ngột của thị trường tín dụng vào mùa thu năm 2008 đã đưa mức giá cân bằng của những tài sản trọng yếu mà các định chế đang nắm giữ xuống thấp đến mức chưa từng có. Nhà kinh tế học Brian Wesbury nói hộ quan điểm của nhóm này khi ông tuyên bố rằng "các nguyên tắc hạch toán MTM đã khiến một vấn đề lớn trở nên khổng lồ. Phần lớn các khoản nợ cầm cố, trái phiếu doanh nghiệp và nợ cơ cấu vẫn còn phát huy được tác dụng ban đầu. Tuy nhiên, vì thị trường đã đóng băng nên giá của các loại tài sản này rơi xuống dưới giá trị thật của chúng".
Wesbury và Forbes lập luận rằng nghiệp vụ hoạch toán MTM đã đẩy nhiều ngân hàng đến bờ vực phá sản và buộc họ phải giải chấp tài sản ở mức giá bán tống bán tháo, và điều này còn khiến cho giá trị rơi sâu thêm. Những lập luận này đã thuyết phục được nhiều chính trị gia ở Mỹ và châu Âu lên tiếng kêu gọi đình chỉ phương pháp kế toán giá trị hợp lý mà thay vào đó, sử dụng phương pháp kế toán giá gốc mà theo đó, tài sản sẽ được định giá theo giá mua hoặc giá gốc.

Tuy nhiên, vẫn có nhiều người ủng hộ nghiệp vụ kế toán MTM, những người cũng có thái độ cứng rắn không kém. Lisa Koonce, giáo sư chuyên ngành kế toán của trường ĐH Texas, đã viết trong tạp chí Texas như sau: "Đây chỉ đơn giản là trường hợp buộc tội người đưa tin. Phương pháp kế toán giá trị hợp lý không phải là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện tại. Trái lại, nó kết nối ảnh hưởng của các quyết định sai lầm như cấp phép cho những khoản vay dưới chuẩn và soạn thảo các bản hợp đồng hoán đổi khả năng vỡ tín dụng... Về giải pháp được cho là có khả năng thay thế, giữ các khoản vay trong sổ cái với giá trị ban đầu của chúng thì cũng giống như phớt lờ thực tế vậy".
Các nhóm cổ đông còn đi xa hơn thế khi quả quyết rằng nghiệp vụ MTM càng trở nên cần thiết trong môi trường ngày nay. Nhóm tư vấn đầu tư của Financial Accounting Standards Board (FASB) (Ủy ban tiêu chuẩn kế toán tài chính) còn nhấn mạnh rằng: "Các thông tin về giá trị hợp lý có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với những nhà cung cấp vốn và những ai sử dụng các báo cáo tài chính trong giai đoạn thị trường bấp bênh và kèm theo đó là tình trạng khủng hoảng tính thanh khoản". Theo quan điểm này, nếu các ngân hàng không biểu thị trái phiếu của họ theo thị trường, các nhà đầu tư sẽ cảm thấy không chắc chắn về giá trị tài sản và do đó, ngại ngần hỗ trợ tái cấu trúc vốn cho các định chế đang gặp khó khăn.
Vậy nhóm nào đưa ra được lời giải đúng? Có lẽ là không nhóm nào cả. Chúng ta không muốn các ngân hàng phá sản bởi sự suy giảm ngắn hạn về giá của các chứng khoán liên quan đến nợ cầm cố. Chúng ta cũng không muốn che giấu nhà đầu tư về những khoản lỗ của ngân hàng và trì hoãn việc loại bỏ các tài sản độc hại - giống như điều đã từng xảy ra ở Nhật Bản trong thập niên 1990. Để đáp ứng nhu cầu chính đáng của chủ ngân hàng lẫn nhà đầu tư, các nhà chức trách nên tiến hành những phương pháp tiếp cận đa chiều với hoạt động báo cáo tài chính.
Trước khi chúng ta bắt đầu áp dụng những cải cách hợp lý, chúng ta trước hết cần xóa sạch những quan niệm sai lầm về các phương pháp kế toán. Nhiều nhà phê bình thường bày tỏ sự phản đối trước yêu cầu phải bút toán giảm các tài sản đã tổn thất về giá trị hợp lý của chúng, nhưng trên thực tế, tài sản tổn thất là một khái niệm quan trọng với kế toán giá gốc hơn với kế toán giá trị hợp lý. Nhiều nhà báo đã giả định một cách không chính xác rằng hầu hết tài sản của ngân hàng được báo cáo theo giá trị thị trường hợp lý chứ không phải theo giá gốc. Tương tự, nhiều chính trị gia cho rằng hầu hết các tài sản có tính thanh khoản thấp phải được định giá theo giá thị trường dù nhiều nguyên tắc của FASB lại quy định điều trái ngược. Những chuyện tưởng như hoang đường sau sẽ đưa ra một số nghiên cứu gần gũi.
Câu chuyện 1: Kế toán giá gốc không có mối liên hệ nào với giá trị thị trường hiện tại
Những người khởi xướng giá trị hợp lý lập luận rằng giá gốc của các loại tài sản thể hiện trong bảng quyết toán của công ty thường hầu như không có mối liên hệ nào với giá trị hiện tại của chúng. Theo các nguyên tắc kế toán giá gốc, hầu hết tài sản được tính theo giá mua hoặc giá gốc, với một số điều chỉnh nhỏ về các khoản giảm giá trong vòng đời của nó (như trường hợp của các tòa nhà) hay tăng giá đến trước thời điểm đáo hạn (như trường hợp trái phiếu chiết khấu về mệnh giá). Do đó, một tòa nhà thuộc sở hữu của một công ty suốt nhiều thập niên sẽ xuất hiện trong sổ sách với một giá trị thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực của nó ở thị trường hiện tại.
Tuy nhiên, thậm chí khi theo kế toán giá gốc, những giá trị trong thị trường hiện tại vẫn được xem như một nhân tố trong các báo cáo tài chính. Các nhà chức trách Mỹ yêu cầu tất cả các công ty kinh doanh đại chúng phải ra soát cẩn thận tài sản của mình theo từng quý để chắc chắn rằng chúng đã bị tổn thất hay không - tức là liệu giá trị thị trường của chúng có thấp hơn giá gốc của chúng trong một thời gian dài hay không. Nếu tổn thất này không mang tính tạm thời, công ty phải ghi giá trị thị trường hiện tại của tài sản trong bảng quyết toán - và ghi các khoản lỗ tương ứng vào báo cáo thu nhập của công ty.
Những tổn thất tài sản vĩnh viễn thường xuyên xuất hiện trong kế toán giá gốc. Chỉ riêng năm 2008, theo báo cáo của Sandler O'Neill & Partners, các ngân hàng Mỹ đã thực hiện bút toán giảm hơn 25 tỷ USD ở dạng lợi thế thương mại từ các thương vụ mua lại vốn đã không còn đáng với giá trị ban đầu nữa. Một ví dụ khác ngoài lĩnh vực ngân hàng là Cimarex Energy, công ty dù vẫn ghi được lợi nhuận hoạt động những phải tuyên bố lỗ trong quý một năm 2009 do các chi phí tổn thất tài sản phi tiền mặt lên đến hơn 500 triệu USD (đã tính thuế) đối với các bất động sản dầu và khí của công ty này.
Điểm mấu chốt là dù dưới chế độ kế toán giá gốc, các định chế tài chính sau cùng sẽ bị buộc phải báo cáo bất kỳ khoản giảm vĩnh viễn nào về giá trị thị trường của các khoản vay và chứng khoán mặc dù quá trình này diễn ra chậm hơn và với khối lượng lớn hơn so với khi áp dụng chế độ kế toán giá trị hợp lý. Hầu hết các giám đốc ngân hàng đều từ chối hình thức bút toán giảm này với lập luận rằng tổn thất của một khoản vay hay trái phiếu bảo đảm bằng tài sản cầm cố nào đó chỉ là tạm thời. Tuy nhiên, khi cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài và tốc độ vỡ nợ cầm cố liên tục tăng nhanh, các chủ ngân hàng phải đối mặt với áp lực ngày càng cao từ kiểm toán viên bên ngoài và buộc phải thừa nhận các khoản lỗ vĩnh viễn của những tài sản tài chính.
Câu chuyện 2: Hầu hết tài sản của các định chế tài chính đều quy theo thị trường
Những ai ra sức kết tội phương pháp kế toán giá trị hợp lý thường lập luận rằng các định chế tài chính sẽ chứng kiến phần lớn tài sản của mình được xác định theo giá trị trường mà hiện ngày càng tụt giảm. Trên thực tế, theo một nghiên cứu của SEC vào cuối năm 2008, chỉ 31% tài sản ngân hàng được định giá theo cách này, phần còn lại được tính theo giá gốc.
Vì sao? Theo phương pháp kế toán giá hợp lý, ban quản lý phải chia tất cả khoản vay và chứng khoán thành nhiều nhất là ba nhóm tài sản: tài sản hiện nắm giữ, tài sản hiện được kinh doanh và tài sản sẵn sàng để bán. Nếu ban quản lý có ý định và khả năng nắm giữ các khoản vay hay chứng khoán đến khi đáo hạn, những tài sản này sẽ được ghi bằng giá gốc trong sổ sách kế toán. Hầu hết các khoản vay và nhiều loại trái phiếu được giữ đến khi đáo hạn; người ta chỉ ghi bút toán giảm khi chúng bị tổn thất vĩnh viễn.
Ngược lại, tất cả tài sản được kinh doanh đều được ghi theo giá thị trường theo từng quý. Bất kỳ khoản giảm nào trong giá trị thị trường hợp lý của một tài sản mà ngân hàng nắm giữ sẽ làm giảm phần vốn trong bảng quyết toán và được ghi như một khoản lỗ trong bảng báo cáo thu nhập. Lấy một minh họa đơn giản: một ngân hàng mua lượng trái phiếu trị giá 1 triệu USD và giá thị trường của lượng trái phiếu này sau đó giảm xuống còn 900.000 USD vào cuối quý sau đó. Dù ngân hàng không bán lượng trái phiếu đó đi nhưng trong cột tài sản bên trái bảng quyết toán vẫn xuất hiện khoản giảm 100.000 USD, và cột nguồn vốn bên phải cũng xuất hiện khoản giảm tương ứng (trước khi tính các khoản thuế). Khoản ghi giảm này cũng sẽ lưu chuyển qua bảng báo cáo thu nhập của ngân hàng và được báo cáo như một khoản lỗ trước thuế của quý đó với trị giá tính toán là 100.000 USD.
Nghiệp vụ kế toán cho nhóm tài sản thứ ba - tài sản sẵn sàng để bán - còn phức tạp hơn nhiều. Dù các dạng chứng khoán nợ trong nhóm này được định giá theo thị trường cách mỗi quý nhưng các khoản lời hay lỗ chưa thực hiện phát sinh từ chúng được thể hiện thành một tài khoản đặc biệt trong bảng báo cáo thu nhập của ngân hàng (gọi là "tài khoản OCI [1]") và tăng dần theo thời gian trong bảng quyết toán (gọi là "OCI tích lũy"). Nhờ nghiệp vụ đặc biệt này, các khoản lỗ chưa thực hiện nếu phát sinh cũng không làm giảm thu nhập ròng hay vốn điều lệ của ngân hàng. (Trong khi đó, những khoản vay giữ-để-bán phải được ghi với giá thấp hơn giá gốc hay giá thị trường và bất kỳ khoản giảm giá nào phát sinh cũng phải được thể hiện thành khoản lỗ trên bảng báo cáo thu nhập. Tuy nhiên các loại tài sản này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nhóm). SEC cũng nghiên cứu thấy gần một phần ba của 31% lượng tài sản định giá theo thị trường của ngân hàng là các dạng trái phiếu nợ sẵn-sàng-để-bán. Theo đó, lượng tài sản định giá theo thị trường có ảnh hưởng đến thu nhập hay vốn điều lệ của ngân hàng chỉ là 22% vào năm 2008, một con số vẫn còn khiêm tốn.
Câu chuyện 3: Tài sản phải được định giá theo giá thị trường hiện tại cho dù thị trường của những tài sản này không có tính thanh khoản
Phương pháp kế toán giá trị hợp lý sẽ dễ thực hiện nếu như tất cả tài sản tài chính đều thuộc Cấp 1 của FASB, tức có tính thanh khoản cao và dễ định giá theo giá thị trường trực tiếp. Vì không phải lúc nào các loại tài sản cũng hội đủ những đặc điểm này nên FASB tạo ra một tiêu chuẩn gọi là FAS 157 mà cho phép có thể có 2 cấp khác.
Tiêu chuẩn này quy định: bất cứ khi nào có thể, tài sản phải được định giá theo phương pháp Cấp 1: theo cơ sở giá thị trường có thể quan sát được. Nhưng tiêu chuẩn này cũng thừa nhận không phải lúc nào cũng có được giá thị trường, vì thế, nó cho phép các giám đốc tài chính định giá tài sản của mình bằng các yếu tố đầu vào của thị trường mà có thể quan sát được, đây là phương pháp Cấp 2. Các yếu tố đầu vào này có thể bao gồm: giá giao dịch và các khoản chiết khấu của những chứng khoán nào tương tự hay có liên hệ với những tài sản cần được định giá. Khi những yếu tố đầu vào này không sẵn có, ví dụ như khoản đầu tư vào một quỹ đầu tư tư nhân, tài sản sẽ được định giá theo phương pháp Cấp 3.
Khi những tài sản giao dịch được phân vào Cấp 3, vì thị trường thiếu tính thanh khoản hay vì những lý nào khác, các giám đốc tài chính sẽ được phép đánh giá chúng theo phương pháp "quy theo mô hình" chứ không phải quy theo thị trường (MTM). Khi đánh giá tài sản theo mô hình, các giám đốc tài chính có thể sử dụng những giả định hợp lý của mình để ước tính ra một giá trị thị trường hợp lý.
Khi các thị trường nợ đóng băng vào mùa thu năm 2008, FASB công bố một tài liệu nội bộ có nội dung hướng dẫn áp dụng phương pháp kế toán giá trị hợp lý vào những thị trường có tính thanh khoản thấp. Tài liệu này nhấn mạnh tính linh hoạt của tiêu chuẩn 157 và khiến nhiều công ty nhận thức được họ có thể phân loại lại tài sản từ Cấp 2 sang Cấp 3 nếu như tính thanh khoản của thị trường càng suy yếu. FASB còn nhấn mạnh rằng các công ty không được sử dụng các mức giá lấy từ những hợp đồng mua bán bắt buộc hay dành cho tài sản bị tịch biên để định giá các tài sản không có tính thanh khoản.
Tuy nhiên, những quy tắc này không khiến các chủ ngân hàng cảm thấy thoải mái để có thể chứng kiến giá trị thị trường của những tài sản độc hại mà họ đang nắm giữ tuột dốc không phanh; họ gây sức ép lên những nghị viên do họ bầu chọn, những người đã đe dọa biết các tiêu chuẩn kế toán thành luật trừ khi FASB có nhiều giải pháp hơn để xoa dịu tình hình. Kết quả là vào tháng 4 năm 2009, FASB nhanh chóng đề xuất và áp dụng một nguyên tắc mới vạch rõ các tiêu chuẩn cần thiết để xác định đâu là lúc áp dụng hình thức đánh giá quy-theo-mô-hình khi tính thanh khoản của thị trường xuống thấp. Nguyên tắc này được thiết kế để cho phép ngân hàng định giá nhiều loại chứng khoán hơn bằng các mô hình thay cho những chỉ số thị trường. Cũng trong ngày hôm đó, FASB ban hành một nguyên tắc khác quy định cách tính các loại chứng khoán bị tổn thất vĩnh viễn. Nguyên tắc này nêu rõ chỉ phần lỗ-tín-dụng của những tổn thất này mới ảnh hưởng đến thu nhập và vốn điều lệ của ngân hàng, trong khi phần còn lại (chẳng hạn như các khoản lỗ chưa thực hiện liên quan đến tính thanh khoản thấp) sẽ đi vào tài khoản đặc biệt OCI.
Hai nguyên tắc giúp nhiều ngân hàng lớn của Mỹ cắt giảm đáng kể quy mô khoản bút toán giảm trên giá trị của những tài sản có trong quý đầu năm 2009. Hai nguyên tắc này giúp cải thiện bức tranh tài chính ngắn hạn của những ngân hàng lớn mặc dù nó ngăn không cho các giám đốc ngân hàng bán tháo những tài sản độc hại ở mức giá mà các nhà đầu tư nghĩ là hợp lý. Một khi các yếu tố mập mờ được làm sáng tỏ, phương pháp kế toán giá gốc hóa ra lại có quan hệ gần gũi với phương pháp kế toán giá trị hợp lý hơn những gì người ta vẫn nghĩ. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa hai tiêu chuẩn nghiệp vụ kế toán này.
Ba khuyến nghị để hoạt động báo cáo thiết thực hơn
Vào những tình huống như thế này, nguyện vọng chính đáng của các chủ ngân hàng nhằm mô tả tài sản họ nắm giữ theo cách thuận lợi cho họ nhất nhiều khả năng sẽ xung đột với lợi ích cũng không kém phần chính đáng của các nhà đầu tư để hiểu rõ đâu là những nguy cơ tiềm ẩn của ngân hàng. Vì vậy, chúng ta cần cân nhắc kỹ cách các ngân hàng công bố báo cáo tài chính mà trong đó thường bao hàm cả những thực tế phức tạp về tình hình tài chính của họ.
Tăng cường độ tin cậy của phương pháp "đánh giá quy theo mô hình"
Theo hai công bố mới nhất của FASB về những tài sản thuộc Cấp 3, không còn nghi ngờ việc nhiều ngân hàng sẽ tiếp tục đánh giá những chứng khoán phi thanh khoản bằng phương pháp quy theo mô hình. Trong quý đầu năm 2009, những tài sản Cấp 3 tại 19 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ tăng 14,3% so với quý trước. Do ngân hàng được phép đưa ra những đánh giá hợp lý dựa trên các phép tính ước lượng về tỷ lệ lợi nhuận thu được từ các khoản vay dưới chuẩn, chứng khoán đảm bảo bằng nợ cầm cố cũng như nhiều tài sản xấu khác qua nhiều năm, những đánh giá quy-theo-mô-hình thường cho kết quả cao hơn những đánh giá dựa trên các giao dịch mới nhất của các loại tài sản tương tự. Phương pháp đánh giá quy theo mô hình cho phép các ngân hàng vẽ nên một bức tranh lạc quan về tình hình tài chính của họ.
Điều này chắc chắn sẽ khiến những nhà đầu tư thực sự thêm lo lắng về tính chuẩn xác trong những báo cáo đánh giá của ngân hàng về các loại tài sản xấu. Như Warren Buffett từng nhận xét, phương pháp quy theo mô hình có thể thoái hóa thành "quy theo giai thoại".
Chúng ta làm thế nào để hóa giải sự hoài nghi này và duy trì cơ sở cho các đánh giá? Để giúp nhà đầu tư hiểu được cách tính giá trị của tài sản theo phương pháp quy về mô hình, ngân hàng nên công bố một danh sách những tài sản thuộc Cấp 3 và tóm tắt đặc điểm của chúng. Nhưng quan trọng nhất, ngân hàng nên công bố đầy đủ thông tin về những giả định đằng sau các mô hình để cho phép nhà đầu tư theo dõi cách ngân hàng đạt được các đánh giá.

Xóa bỏ sợi dây liên kết giữa kế toán và tiêu chuẩn về vốn
Lời chỉ trích cơ bản nhất nhằm vào phương pháp kế toán giá trị hợp lý chính là phương pháp này khiến cho nhiều ngân hàng phải đứng trước nguy cơ phá sản khi nguồn vốn của họ dần cạn kiệt.
Theo quan điểm của nhiều chủ ngân hàng, phương pháp kế toán giá trị hợp lý tạo nên một khoản giảm "giả tạo" trong giá trị tài sản mà nhiều khả năng sẽ phục hồi khi cuộc khủng hoảng tài chính tạm lắng xuống. Mặc khác, với các nhà đầu tư, không gì giả tạo hơn việc tuyên bố tài sản xứng đáng với mức giá mà thực sự không ai sẵn lòng trả. Hơn nữa, một nhà đầu tư điển hình không có vẻ gì sẽ tin rằng sự tụt giảm về giá trị thị trường của nhiều tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ chỉ là một kết quả tạm thời của tình trạng thiếu tính thanh khoản trong hoạt động kinh doanh mà không phải là hậu quả dai dẳng của hàng loạt vụ phá sản.
Có thể không cần thiết phải hợp nhất những quan điểm khác biệt này. Hoàn toàn có thể dung hòa hai quan điểm trên nếu như các ngân hàng buộc phải công bố kết quả tính toán theo phương pháp kế toán giá trị hợp lý mà không làm giảm vốn điều lệ của họ. Như đã giải thích ở phần trên, nếu một ngân hàng có trái phiếu trong nhóm tài sản có-sẵn-để-bán, cứ mỗi quý họ phải định giá chúng theo thị trường - tuy nhiên, các khoản lời hay lỗ chưa thực hiện của những trái phiếu này sẽ không ảnh hưởng đến vốn điều lệ của ngân hàng. Kế toán và các tiêu chuẩn về vốn có thể cũng không liên quan gì nhau ở những lĩnh vực khác miễn là ngân hàng chịu công bố đầy đủ các phương pháp tính khác nhau của họ.
Lấy ví dụ như, những khoản lỗ hay lãi chưa thực hiện hằng quý trên trái phiếu trong danh mục tài sản kinh doanh có thể được phản ánh chính xác trên bảng quyết toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng. Nhưng nhằm phục vụ mục đích điều tiết, nguồn vốn của ngân hàng này được tính toán theo cơ sở giá trị trung bình trên thị trường của các loại trái phiếu nói trên trong hai quý gần nhất. Sự kết hợp này giúp các nhà đầu tư biết được giá trị thị trường hiện tại của các loại trái phiếu này đồng thời làm giảm tính bất ổn của nguồn vốn điều lệ tính theo từng quý của ngân hàng.
Tính toán thu nhập ròng trên một cổ phần (EPS) bằng cả hai cách
Nếu những nhà làm luật tiếp tục tách rời phương pháp tính toán vốn của ngân hàng với kế quả tài chính theo phương pháp kế toán giá trị hợp lý, các ngân hàng có lý do để tiếp tục lo lắng khi nguồn thu nhập ròng hằng quý của họ vẫn bất ổn. Thu nhập ròng từng quý của một ngân hàng với tổng doanh thu ròng ổn định từ các khoản phí thu khách hàng và thu nhập ròng từ lãi suất sẽ biến động đáng kể trong từng quý do giá trị thị trường của những loại tài sản và trái phiếu mà họ nắm giữ luôn luôn thay đổi. Và sự bất ổn này có thể khiến giá cổ phiếu của ngân hàng đi xuống nếu như những nhà đầu tư tìm kiếm thu nhập ổn định không thực sự hiểu thấu vấn đề này.
Liệu có thể dung hòa lợi ích của nhà đầu tư và ngân hàng thông qua bảng báo cáo thu nhập của ngân hàng hay không? Có thể. Nếu ngân hàng công bố hai phiên bản EPS của nó trong mỗi quý - một phiên bản được tính theo phương pháp kế toán giá trị hợp lý trong khi phiên bản kia thì không. Giả sử ngân hàng báo cáo EPS trong quý là 54 đồng bao gồm 63 đồng thu nhập hoạt động và 8 đồng lỗ do những khoản lỗ chưa thực hiện theo giá trị thị trường trong danh mục trái phiếu của mình. Ngân hàng khi đó cũng có thể báo cáo EPS là 62 đồng cho một cổ phần kèm theo lời giải thích là EPS này chưa tính các khoản lỗ chưa thực hiện.
Việc công bố 2 phiên bản EPS vào mỗi quý cũng từng được khuyến nghị trong báo cáo mang tên Những cải tiến cho nghiệp vụ báo cáo tài chính do Ủy ban cố vấn của SEC ban hành. Trong bảng báo cáo này, một bảng biểu được sử dụng để thể hiện sự dung hòa tương đối giữa thu nhập ròng theo phương pháp kế toán giá trị hợp lý và dòng ngân lưu vốn loại trừ các điều chỉnh thị trường hợp lý. Phân tích dòng ngân lưu của một công ty từ bảng báo cáo thu nhập của nó là công việc điển hình của nhiều chuyên gia phân tích chứng khoán nhằm hiểu rõ hơn về tình hình tài chính của công ty ấy.
Nếu các ngân hàng thực hiện khuyến nghị của quỷ ban, cả hai nhóm đều được hưởng lợi. Các nhà đầu tư sẽ hiểu rõ hơn về thu nhập ròng của ngân hàng mà bao nhiêu phần trong đó đến từ thu nhập hoạt động, bao nhiêu phần đến từ biến động của thị trường chứng khoán. Đồng thời, giám đốc các ngân hàng cũng có thể giải thích được họ làm cách nào để đạt được nguồn lợi nhuận ổn định từ những chức năng hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng, bất kể các biến động về giá của những loại chứng khoán mà họ đang nắm giữ.
Để cuộc tranh luận phức tạp này đi đến kết quả tốt đẹp và để ứng dụng những cải tổ cần thiết, các chính trị gia và giám đốc điều hành doanh nghiệp phải nhận thức được rằng không chỉ có một cách tốt nhất để đánh giá tài sản của các định chế tài chính. Giá trị một số loại tài sản có thể được tính toán chính xác hơn nếu áp dụng phương pháp kế toán giá trị hợp lý trong khi một số khác thì phù hợp hơn với phương pháp kế toán giá gốc. Trong một tương lai không xa, các ngân hàng sẽ áp dụng hệ thống đánh giá hỗn hợp, kết hợp cả hai phương pháp. Theo đó, chúng ta nên xây dựng những tiêu chuẩn báo cáo mới, chẳng hạn như trình bày hai dạng EPS, có khả năng làm rõ các loại thu nhập trong bảng báo cáo thu nhập.
Điều quan trọng cần nhớ là các bảng báo cáo tài chính luôn được nhiều nhóm đối tượng nghiên cứu cẩn thận với nhiều mục đích khác nhau. Các nhà đầu tư sử dụng chúng để đánh giá những rủi ro thị trường cũng như tiềm năng tăng trưởng thu nhập trong khi cơ quan quản lý sẽ sử dụng chúng để đảm bảo rằng ngân hàng có đủ nguồn vốn và thu nhập để duy trì các khoản lỗ phát sinh từ cho vay hay từ những tài sản khác. Với những mục tiêu đó, cơ quan quản lý nên tách rời nghiệp vụ báo cáo tài chính và những yêu cầu về vốn cho các ngân hàng.
Phương pháp kế toán giá trị hợp lý không phải là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại, tuy nhiên cuộc khủng hoảng có thể đã phát sinh từ những ngộ nhận thông thường về các tiêu chuẩn kế toán. Nhiều nhà đầu tư mặc định một cách sai lầm là hầu hết tài sản của ngân hàng đều được quy về giá trị thị trường khi giá trái phiếu giảm đột ngột. Những nhà đầu tư không nhận ra rằng sự tụt giảm đáng kể về giá của các loại trái phiếu sẵn sàng để bán không thể khiến ngân hàng vi phạm những tiêu chuẩn về vốn điều lệ. Nếu chúng ta có thể làm cho những khái niệm kế toán phức tạp này rõ ràng hơn bằng cách áp dụng một phương pháp báo cáo tài chính đa chiều thì khi đó, cả công ty và nhà đầu tư đều được trang bị tốt để phản ứng một cách sáng suốt trước những biến động của thị trường tài chính.
(1) Có thể hiểu OCI là một bảng báo cáo thu nhập "con", thể hiện những thay đổi về giá của các khoản tài sản hay nợ mà công ty đang nắm giữ mà từ đó làm phát sinh các khoản lời hay lỗ chưa thực hiện. Các loại tài sản ở đây là chứng khoán, hợp đồng phái sinh, nợ hưu trí và tài sản hoạt động ở nước ngoài.
Số lượt đọc:
337
-
Cập nhật lần cuối:
28/12/2009 05:28:15 PM |