Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Văn hóa doanh nghiệp  Tầm nhìn tổ chức  Kỹ năng lãnh đạo  Quản trị Thay đổi  Gương lãnh đạo

Công bằng - Cơ sở của văn hóa doanh nghiệp

Đào Mai

VHDN
Gửi email  Bản in 
02:02' PM - Thứ tư, 30/07/2008
Công bằng - Cơ sở của văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và mang theo mình như một phương thức sống. Công bằng là một giá trị tinh thần, con người nghĩ ra, sáng tạo ra công bằng, khát khao công bằng, coi công bằng là mục tiêu xã hội phải vươn tới...
Nhưng công bằng chỉ thực sự có khi nó trở thành phương thức sống của mỗi cá nhân, của cả cộng đồng xã hội. Con đường để công bằng đi từ ý tưởng đến hiện thực thật khó, đã hàng ngàn năm nay loài người biết đến công bằng nhưng công bằng hiện thực thì ai nhìn thấy. Theo cái logic của cuộc sống thì công bằng khi đã được làm rõ nó là cái gì thì dần dần sẽ trở thành quan niệm chung, chung nhất được tất cả mọi người thừa nhận, trở thành những nguyên tắc để xây dựng nên những thể chế luật phát, nguyên tắc dẫn dắt hành vi cá nhân và cộng đồng thì đó là văn hóa công bằng – một bước phát triển của văn minh nhân loại.

Công băng là gì?
Công bằng là quan niệm xã hội xuất hiện trong ý thức loài người khi trong xã hội có những bất công, nó là sự phản ánh những quan hệ xã hội, là biểu hiện sự phản kháng về mặt tinh thần đối với những bất công đó. Công bằng (Justice) là môt khái niệm rất xưa trong lịch sử triết học, công lý và công bằng là câu chuyện (narative) từng được kể trong Nền cộng hòa của Platon đã cách đây hơn 2000 năm.

Công bằng là một khái niệm quan trọng trong hệ thống khái niệm của triết học chính trị, của luân lý (moral), một khái niệm được dung trong nhiều lĩnh vực. Cũng đã từ lâu, người ta coi công băng là một chuẩn mực xã hội để giải quyết những vấn đề cụ thể song bất công vẫn cứ tồn tại, còn công bằng vẫn chỉ là mong ước. Thực tế cho thấy nếu công lý, nếu công lý, công bằng được coi là chuẩn mực để xem xét, đánh giá các quan hệ xã hôi, là căn cứ của các lựa chọn xã hội, của sự phân phối các lợi ích kinh tế… thì cần phải định nghĩa cho được khái niệm này, nhưng đã hàng ngàn năm nay việc định nghĩa khái niệm công bằng vẫn là điều khó khăn cho các nhà triết học, các nhà tư tưởng trong lịch sử.

Nguyên nhân của những khó khăn trong việc định nghĩa khái niệm công bằng trước hết là vì nó là một giá trị, là cái người ta đặt ra và tin vào nó, nó có tính chủ quan cho nên cách hiểu khái niệm công bằng có khác nhau, ví dụ như coi công bằng là sự chia đều, sự bằng nhau, là bình đẳng… và nếu coi công bằng là sự chia đều tất cả cho mọi người thì lại là bất công cho những đóng góp nhiều hơn. Công bằng như thế sẽ cản trở phát triển vì nó sẽ gây ra những xung đột xã hội. Phạm vi khái quát của khái niệm công bằng rất rộng, tính trừu tượng của nó rất sâu, nó là ngôn ngữ chung của nhiều khoa học, nó vừa có tính tương đối ổn định và lại vừa biến đổi theo thời gian, cho nên đã hàng nghìn năm trôi qua loài người vẫn không thể thống nhất với nhau về các trả lời câu hỏi công bằng là gì?

Ở Phương Tây (Anh, Mỹ, Pháp) Justice có nghĩa là công lý, công bằng, cũng có khi được dùng đồng nghĩa với equality là bình đẳng, ngang bằng như nhau… Gốc của từ justice là just – chân lý, sự đúng đắn, hợp lẽ phải, thích đáng. Công bằng đối lập với bất công (unjust) – trái lẽ…

Theo nghĩa Hán - Việt công lý và công bằng có lúc được dùng như nhau, cũng có lúc có sự phân biệt nhau. Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà nội năm 1998, Công lý là lý lẽ của sự công bằng, là lẽ phải được xã hội thừa nhận, phù hợp với đạo lý và lợi ích chung của xã hội; Công bằng là quan niệm dựa trên công lý để hiểu và cư xử đối với mọi người như nhau, không thiên vị.

Như vậy, xét về ngữ nghĩa của hai từ trên thì công lý là cái gốc của công bằng, nó sâu sắc và khái quát hơn công bằng. Về nghĩa của từ công bằng người ta thường hiểu đó là cái gắn với quyền tự nhiên của con người, quyền tự do lựa chọn cuộc sống cho mình. Công lý và công bằng là hai khái niệm thường được coi là những ngôn từ của luật phát, luật lệ mà theo đó thì công lý, công bằng là cái được pháp luật thừa nhận còn trái với pháp luật thì là bất công. Công lý, công bằng còn gắn bó với quan niệm về sự bình đẳng trong quan niệm xã hội về đạo đức, nó biểu hiện ra như là những chuẩn mực đạo đức nhằm điều chỉnh hành vi con người bằng lương tâm, bằng sự tự ý thức của mỗi người.

Trong các quan hệ kinh tế, công bằng gắn với hiệu quả, là điều kiện của tăng trưởng và phát triển bởi vì nó gắn lợi ích của con người, nó là khát vọng, là mục tiêu xã hội cho nên nó chính là một động lực mạnh mẽ nhất của phát triển xã hội.

Khái niệm công lý như là công bằng vừa là điều kiện vừa là kết quả của sự phát triển xã hội. Đối diện với khái niệm công lý như là công bằng, ta băn khoăn tự hỏi, công lý là cái gì mà nó lại như là công bằng? Công lý có chính là công bằng không? Có gì khác giữa công lý và công bằng? Cái bí mật, cái trừu tượng nhất nằm ở đây.

Trước hết cần xem xét quan hệ giữa “công lý như là công bằng” (justice) với các đúng (right), cái thiện (good). Quan hệ này được sắp xếp trong một trật tự không thể đảo ngược, theo đó, ta có thể hiểu rằng đã là công lý như là công bằng thì phải vừa đúng vừa thiện, nhưng ngược lại có cái đúng nhưng không phải là thiện, không phải là công bằng, có cái vừa là thiện, vừa là đúng chưa chắc đã là công bằng. Vì thế ứng xử, trong kinh doanh, người ta luôn phải hướng về cái công băng. Đây chính là lý lẽ để ta bác bỏ Thuyết vị lợi chỉ chạy theo lợi nhuận tối đa mà bỏ qua những yếu tố phi đạo đức. Với khái niệm mang tính phổ quát này người ta có thể vượt qua đuợc những khó khăn của các lý thuyết học kinh tế đương thời, kéo người ta về với một đòi hỏi chính đáng và cao thượng là cuộc sống người dứt khoát dựa trên lý tưởng công lý như là công bằng để phân biệt và lựa chọn những cái đúng, cái thiện hợp lý nhất cho sự phát triển con người và phát triển xã hội.

Thứ hai là thừa nhận công bằng là cái tiên thiên – cái có trong phẩm chất người hay là cái đức hạnh tinh thần, đức hạnh trí tuệ, là cái ước muốn tối thượng, là một hình thức hoạt động tinh thần. Đó là sự hoàn thiện tối cao trong những trật tự khác nhau của nhận thức. Chúng sẽ mách bảo cho người ta nhận ra đúng lợi ích cá nhân của mình trong quan hệ với ccs cá nhân khác. Trong mọi tình huống chúng bổ sung cho nhau, tôn vinh nhau và là lẽ sống của Con người – sống đúng, sống thiện, sống phải cư xử với nhau theo những nguyên tắc công lý như là công bằng. Công lý như là công bằng là mẫu mực của cuộc sống, là cái tinh thần của luật pháp vì thế nó là cơ sở để giữ gìn sự thanh bình của cuộc sống, đảm bảo sự ổn định để phát triển kinh tế, phát triẻn xã hội.

Thứ ba, công lý như là công bằng là cái thế thăng bằng của xã hội, bản thân nó là ở chính giữa, nếu thái quá sẽ là bất công, làm tổn hại xã hội. Công lý như là công bằng còn là bình đẳng, tự nó tạo ra khoảng cách như nhau giữa lợi ích và sự mất mát hay thua thiệt trong quan hệ xã hội. Công lý như là công bằng như thế còn được hiểu là sự sòng phẳng, không thiên vị, sự vô tư trong ứng xử giữa người với người.

Thứ tư, công lý như là công bằng là sức mạnh tinh thần, là “mệnh lệnh tuyệt đối” cho hành động của từng cá nhân. Coi công lý như là công bằng tức là thừa nhận đó là một phẩm hạnh trọn vẹn của đạo đức, luân lý, là một đặc tính của các thể chế xã hội. Với ý nghĩa này, công lý như là công bằng là niềm tin của luật pháp là hạt nhân của đạo đức và là điều kiện tiên quyết của xã hội công dân. Vậy thì công lý như là công bằng – cái tiên thiên ấy sẽ quy định một cách tức thời ý chí và hiện ra như một cái thiện – cái công lý như là công bằng là cái thiện, do đó nó là mệnh lệnh tuyệt đối có tính chất cưỡng bách thôi thúc người ta hành động và do vậy nó là một giá trị.

Thứ năm, tính tương đối của công bằng. Công bằng là có vì trong cuộc sống xã hội nó là ý chí, là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần để con người sống, hành động và hi vọng ở tương lai. Công lý cũng là không vì trong đời sống thực nhiều khi người ta không thấy nó, sự thiếu vắng nó là nguyên nhân của những mâu thuẫn, những xung đột xã hội. Đó là mâu thuẫn giữa cá nhân với xã hội, mâu thuẫn trong công việc, mâu thuẫn trong việc phân phối của cải xã hội, mâu thuẫn giữa quyền lực nhà nước và công dân… do đó ý chí về công bằng phải dẫn dắt người ta hành động sao cho công bằng hiện hữu trong cuộc sống.

Thứ sáu, công lý như là công bằng là một giá trị phổ quát, cho nên từ Phương đông xa xôi, ta vẫn hiểu được công lý như là công bằng của Rawls ở Mỹ, nó là cái có có không không của triết lý phật giáo là cho cuộc đời là vô thường, vô ngã. Công lý như là công bằng , nó vừa là tuyệt đối vừa là tương đối. Cái chung nhất là công lý như là công bằng phải được thể nghiệm trong cái riêng là từng cá nhân người tự do và luôn luôn khao khát tự do, công bằng vậy thế nên công lý như là công bằng chứ không phải chính là công bằng.


Công bằng là phương thức sống của con người
Ý thức về công bằng sẽ trở thành phương thức sống khi người ta tự nguyện chấp nhận hai nguyên tắc công bằng để tự dẫn dắt hành vi của mình theo các nguyên tắc đó. Để ý tưởng công bằng trở thành hiện thực cần một sự trừu tượng hóa, đó là coi con người – những cá nhân cụ thể trong tình huống ban đầu, ở một vị thế mà những cá nhân duy lý và không vụ lợi nhau. Điều đó có nghĩa là dù cho cá nhân nào cũng có một vài quan tâm về tiền tài, danh vọng và quyền hành, địa vị nhưng họ sẽ không vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến lợi ích của người khác. Các cá nhân trong điều kiện trừu tượng đó – “vị thế khởi thủy” sẽ lựa chọn hai nguyên tắc công bằng khác nhau sau đây:

Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi người được hoàn toàn bình đẳng trong phân chia quyền lợi và nghĩa vụ;

Nguyên tắc thứ hai là: Mọi sự bất bình đẳng về mặt kinh tế - xã hội sẽ chỉ được chấp nhận khi chúng đem lại lợi ích cho xã hội nhất là khi những bất bình đẳng đó có lợi cho những thành viên kém may mắn nhất trong xã hội.

Hai nguyên tắc của công bằng nhất thiết được đặt trong trật tự ưu tiên đầy đủ cho nguyên tắc thứ nhất nghĩa là công bằng và tự do của con người phải được đảm bảo, do vậy tất cả các cá nhân tự do có lý trí thì muốn bảo vệ và tăng cường lợi ích của mình, họ sẽ tự nguyện chấp nhận trong điều kiện là tất cả mọi người đều bình đẳng để cùng nhau nhất trí xác định những điều căn bản nhất, chung nhất trong cộng đồng của họ. Ý nghĩa quan trọng của nguyên tắc thứ nhất là sự công bằng được tôn trọng nên tạo ra được sự đồng thuận xã hội vì mỗi người khi tham gia vào các quá trình xã hội họ đều là những cá nhân duy lý và tự do, họ biết làm chủ lấy mình do đó tất cả mọi người đều quan tâm đến việc cần phải tìm cho ra những nguyên tắc chung nhất (phổ quát) cho các hình thức liên kết xã hội sao cho sự liên kết đó vừa tạo ra sức mạnh bảo vệ mọi thành viên vừa khién cho mỗi thành viên khi thừa nhận và tuân theo các nguyên tắc đó họ vẫn có tự do đầy đủ. Công lý như là công bằng - quan niệm nền tảng của lý thuyết về công lý là sự chống lại Thuyết vị lợi bằng một tinh thần cải cách – mọi thiết chế, mọi quy định dù đầy đủ và được tổ chức tốt đến đâu thì cũng phải thay đổi hay bỏ đi nếu chúng là bất công. Mỗi người có quyền bất khả xâm phạm được xây dựng trên công lý; các nguyên tắc công lý có chức năng điều hòa những xung đột lợi ích nảy sinh không tránh khỏi từ việc phân bổ những thành quả của sự hợp tác. Tư tưởng về quyền bình đẳng và tự do cho mọi người là nguyên tắc bất di bất dịch nó không phải là điều kiện để đem ra thỏa thuận càng không thể bị tùy thuộc vào những thỏa hiệp chính trị.

Nguyên tắc thứ 2, còn gọi là nguyên tắc chênh lệch là căn cứ quy định các thể chế cơ sở là công lao của một vài cá nhân lại được bù đắp bằng tổng số lớn hơn những cái họ làm cho xã hội. Cách này có thể bị đánh giá là không công bằng khi một số người vẫn phải chịu thiệt thòi để những nguời khác được hưởng nhiều hơn cái họ làm ra. Thế nhưng nó sẽ không là bất công khi ta nhận ra rằng những người được hưởng lợi nhiều hơn ấy lại là những người kém may mắn, yéu thế, dễ bị tổn thương, là những người nghèo khó nhất. Nhờ có nguyên tắc thứ hai này mà tình hình của những người nghèo khổ sẽ dần được cải thiện, sự hợp tác xã hội bền vững, xã hội phát triển. Hơn nữa không thể ảo tưởng ngồi trông chờ ở một hạnh phúc thần tiên có ngay sự sung sướng và bình đẳng cho tất cả mọi người, khi điều kiện kinh tế chưa cho phép. Hai nguyên tắc nói trên dường như là cơ sở để xây dựng một xã hội thịnh vượng.

Làm thế nào để các cá nhân có thể tự nguyện lựa chọn hai nguyên tắc công bằng như đã nêu trên?

Xây dựng lý thuyết về công lý, tác giả của nó đã tính đến điều kiện để thực hiện công bằng với giả định về một trạng thái xã hội được ông gọi là Vị thế khởi thủy. Rawls suy tư về điều kiện nào có thể thống nhất được ý chí của họ và thế là ý tưởng về Vị thế khởi thủy ra đời – vị thế khởi thủy được định nghĩa như là một cách diễn giải về trạng thái ban đầu, vì đó là “tình trạng thích hợp ban đầu đảm bảo cho những thỏa thuận đạt được là công bằng. Nó đã làm nảy sinh ra cái tên gọi công lý như là công bằng”. Vị thế khởi thủy đã làm cho khái niệm công lý như là công bằng vượt qua tất cả không gian, thời gian, vượt qua tất cả những rào cản của dân tộc hay giai cấp để trở thành vô điều kiện, thành siêu việt, thành tuyệt đối, cho nên cái công lý như là công bằng là cái giá trị.

Có thể nói rằng vị thế khởi thủy là một tình trạng thích hợp kiểu mẫu, do đó những thỏa thuận căn bản đạt được là công minh, lương thiện. Điều này lý giải tính “chân thực” của quan niệm “công lý như là công bằng”, ý nghĩa của nó là những nguyên tắc của công lý được thống nhất trong một tình huống sơ khai có tính chất giả định. Song mệnh đề này không có nghĩa là khái niệm công lý và công bằng làm một, cũng như khi người ta nói “thơ là phép ẩn dụ” không có nghĩa khái niệm thơ ca và khái niệm phép ẩn dụ là một. Như vậy, công lý như là công bằng xuất hiện trong nhận thức khi con người cùng nhau thực hiện sự lựa chọn và thống nhất các nguyên tắc đầu tiên của công lý. Cái chung nhất được thừa nhận này sẽ giúp cho việc giải quyết tất cả các tình huống tranh chấp về sau cũng như khi cần cải tổ các thể chế. Sau khi đã thống nhất lựa chọn được một quan niệm về công lý, công bằng, người ta sẽ lựa chọn một hiến pháp và cơ quan lập pháp để thực thi luật pháp, một điều lệ và cơ cấu tổ chức… và rồi tất cả sẽ hoạt động đều tuân theo nguyên tắc công lý đã thống nhất ban đầu. Khi đó xã hội của chúng ta sẽ thực sự có công bằng vì mọi việc diễn ra đúng như trong tình huống giả định trên. Thế là từ cái Vị thế khởi thủy có tính chất tưởng tượng trên mà hai nguyên tắc công bằng sẽ dẫn dắt hoạt động của chúng ta xây dựng nên một xã hội công bằng hiện thực.


Công bằng là cơ sở của văn hóa doanh nghiệp
Như vậy, công bằng là ý thức, là quan niệm, là mục tiêu, là động lực thúc đẩy xã hội cũng như nhân tố con người đối với sự phát triển xã hội. Song ý thức về công bằng phải thông qua thực tiễn để trở thành hiện thực công bằng trong cuộc sống. Cái thực tiễn khi được dẫn dắt bằng ý tưởng công bằng của người sản xuất kinh doanh sẽ là văn hóa doanh nghiệp, là phương thức sống của các chủ thể trong thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Công bằng là cơ sở của văn hóa doanh nghiệp. Công bằng là cơ sở tạo lập và duy trì các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp. Muốn xây dựng văn hóa doanh nghiệp phải có sự hiểu biết sâu sắc về công bằng, có sự thống nhất từ đầu quan niệm về công bằng, các nguyên tắc công bằng để từ đó mà tạo lập những thể chế công bằng, những hành lang pháp lý đảm bảo công bằng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhờ đó mà tất cả các cá nhân có thể tự do hành xử công bằng trong hoạt động kinh doanh vì lợi ích của mình của doanh nghiệp và của toàn xã hội.

Lý thuyết về công lý ra đời ở Mỹ, ở một xã hội có sự phát triển thị trường trước Việt Nam ta. Nước Mỹ đi trước, thành công, trả giá… lý thuyết này đã khái quát từ những đòi hỏi của xã hội thị trường Mỹ để trở thành những nguyên lý có tính phổ quát. Do vậy chúng ta xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN có thể học hỏi – học hỏi cái lý luận để kế thừa có phê phán, để vận dụng trong thực tiễn Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững.

Số lượt đọc:  208  -  Cập nhật lần cuối:  30/09/2008 02:09:49 PM
Ý kiến của bạn:
Bài liên quan:
 Công sở xanh
[22/05/2010]
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ