Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Chiến lược & Cạnh tranh  Thương hiệu  Marketing  Dịch vụ  PR & Quan hệ khách hàng  Ý tưởng, Công nghệ

Hàng Việt Nam: yêu và chuộng

Nhóm PV

Sài Gòn tiếp thị
Gửi email  Bản in 
10:51' AM - Thứ ba, 05/01/2010

Hàng nội đã chiếm tỷ trọng tới 83,97% trong quyết định chọn mua của người tiêu dùng, với điểm chất lượng tăng dần trong ba năm qua. Từ kết quả cuộc điều tra Hàng Việt Nam chất lượng cao (HVNCLC), lát cắt phần nào phản ánh thực lực của những đơn vị có sản phẩm được người tiêu dùng đánh giá có chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước, có thể thấy thế và lực của doanh nghiệp trong nước cũng như thách thức trong những năm tới. Ba nhân tố chính giúp hàng Việt Nam được người tiêu dùng quan tâm tới chất lượng chọn mua là: sự phát triển của doanh nghiệp, những chuyển biến về chất lượng và mẫu mã của sản phẩm và sự thay đổi trong hành vi mua sắm tiêu dùng của người Việt Nam.

Doanh nghiệp: đổi cả lượng lẫn chất

Năm 2009, Việt Tiến vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng. Việt Tiến là một trong số 117 doanh nghiệp đạt danh hiệu HVNCLC đầu tiên vào năm 1997. Trong 14 năm qua, đã có gần 6.300 lượt doanh nghiệp đạt danh hiệu này.

Bắt đầu có doanh nghiệp trong nước nhắm đến lối sống của người tiêu dùng như một lợi thế cạnh tranh. Ảnh: Phan Quang

Được xác lập qua sự bình chọn của người tiêu dùng dựa trên chất lượng cảm nhận, đội ngũ doanh nghiệp HVNCLC ngày càng tăng về số lượng, cũng như quy mô. Nếu như doanh số bình quân mỗi doanh nghiệp thuộc tập hợp này trong cả năm 2008 là 777 tỉ đồng, thì sáu tháng đầu năm 2009, dù trong đáy khủng hoảng, doanh số trung bình mỗi doanh nghiệp ước đạt 400 tỉ đồng (bảng A) Trong giai đoạn 2006 – 2009, tổng doanh số bán lẻ của đội ngũ doanh nghiệp HVNCLC chiếm khoảng 40% tổng mức bán lẻ của ngành thương nghiệp cả nước. Trong khi mức tăng doanh số bán lẻ ngành thương nghiệp trong năm 2008 là 35,4% so với cùng kỳ năm trước, thì tốc độ tương ứng cùng kỳ của doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao là 52,9%.

Nỗ lực đáng ghi nhận của doanh nghiệp trong nước là việc mở rộng kênh phân phối, phát triển cửa hàng chuyên, chăm chút cho đại lý. Gần như trong hai năm trước, yếu tố dễ mua của hàng nội chỉ chiếm 22% thì năm 2009 đã lên tới 30%. Đi cùng với việc phát triển kênh phân phối, là mức độ hài lòng về chất lượng cảm nhận của người tiêu dùng về hàng Việt Nam tăng đáng kể, giúp cho tỷ trọng lựa chọn hàng Việt Nam tăng dần (bảng B).

Các ngành hàng Việt Nam có ưu thế, với tỷ lệ chọn mua trên 90% là nhóm ngành thực phẩm, chất tẩy rửa và các sản phẩm từ cao su. Một số ngành cũng có tỷ lệ chọn mua hàng sản xuất trong nước cao hơn mức bình quân chung như đồ uống, nhựa gia dụng, kim khí gia dụng, vật liệu xây dựng, sản phẩm vệ sinh.

Ở một số nhóm ngành, vốn là ưu thế của hàng nhập khẩu như điện gia dụng, điện tử, hàng sản xuất trong nước có bước tiến đáng kể, với tỷ trọng chọn mua tăng khá. Như điện gia dụng tăng từ 48% của năm 2007 lên 59% trong năm 2009. Điện tử gia dụng tăng từ 31% trong năm 2006 lên 50,36% trong năm 2009. Cùng với sự tăng trưởng ấn tượng đó là mức độ hài lòng trong cảm nhận chất lượng của hai ngành này cùng tăng từ 7,15 lên 7,7.

Đáng chú ý là mặt hàng máy móc nông nghiệp, tỷ trọng lựa chọn hàng sản xuất trong nước đã tăng từ 6% lên 13% sau ba năm. Năm 2009 có mức tăng ấn tượng, trong đó có nguyên nhân từ chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay mua sắm thiết bị nông nghiệp. Điều đáng nói là cảm nhận về chất lượng của mặt hàng do trong nước sản xuất đạt 9,1 điểm, mà nguyên nhân đến từ khâu chăm sóc sau bán hàng.

Tuy nhiên, một số nhóm ngành hàng nội đang mất dần chỗ đứng trong lựa chọn của người dùng, chủ yếu là các mặt hàng liên quan tới nhu cầu làm đẹp, tôn vinh bản thân người sử dụng và nhóm liên quan đến công nghệ hoá chất.

Một số ngành tuy có ưu thế xuất khẩu, nhưng tỷ lệ chọn mua hàng trong nước thấp như nội thất gỗ chỉ 65,2% và may thêu 80,1%. Theo số liệu nguyên liệu gỗ nhập khẩu, trong năm 2009, Việt Nam chi 888 triệu USD nhập gỗ và sản phẩm từ gỗ. Ngành dệt may, da giày cũng nhập khẩu hơn bảy tỉ USD. Đây là bài toán khó với các doanh nghiệp các ngành này khi muốn phát triển thị trường nội địa.


Hàng nội chiếm ưu thế nhờ đâu?

Về tổng quát, tỷ trọng hàng nội sụt giảm năm 2008 và tăng trở lại vào năm 2009, khi nhập siêu bị hạn chế. Năm 2008 Việt Nam đã nhập siêu kỷ lục trên 18 tỉ USD và năm 2009, nhập siêu đã được hạn chế ở mức 12 tỉ USD. Mối lo ngại về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với hàng hoá Trung Quốc và một số nước khác, cũng như hàng giảm giá nhập khẩu từ các nước bị khủng hoảng kinh tế là một nhân tố giúp cho hàng Việt Nam được lựa chọn nhiều.

Xét về cạnh tranh, một số ngành có lợi thế cạnh tranh tự nhiên. Trong chín ngành hàng sản xuất trong nước có ưu thế nổi trội, với tỷ lệ chọn mua trên 90%, có nhiều ngành có lợi thế cạnh tranh tự nhiên như sách, nước chấm gia vị. Thực phẩm đông lạnh tỷ trọng chọn mua tăng mạnh từ 75% năm 2008 lên 95% năm 2009, điểm chất lượng cũng tăng. Điều này ngoài nỗ lực phát triển thị trường nội địa của doanh nghiệp trong nước, có một phần tác động từ các vụ bê bối trong nhập khẩu thịt đông lạnh năm qua.

Trong 22 ngành có tỷ lệ chọn mua từ 70% tới 90%, ngoại trừ ngành đồ uống không cồn có lợi thế cạnh tranh hơn hàng nhập nhờ lợi thế về chi phí vận chuyển và thị hiếu tiêu dùng, nhiều ngành có nguy cơ mất dần lợi thế do phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, hàm lượng giá trị gia tăng trong ngành thấp. Chẳng hạn như ngành may thêu tỷ trọng chọn mua gần như không thay đổi ba năm qua.

Thức ăn chăn nuôi tỷ trọng chọn mua năm 2009 chỉ 60,18% và chất lượng bị đánh giá kém so hàng ngoại, thể hiện sự yếu toàn diện của ngành này khi quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp.


Ở nhóm hàng máy móc nông ngư nghiệp, mặc dù điểm chất lượng rất cao (9,15), tỷ trọng lựa chọn hàng sản xuất trong nước đã tăng từ 6% lên 13,67% sau ba năm nhưng điều này không hoàn toàn thể hiện lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thuộc ngành này. Một trong những nguyên nhân thúc đẩy tiêu thụ hàng trong nước là chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất để mua máy móc nông, ngư, cơ khí trong nước. Trên thực tế, hàm lượng giá trị gia tăng ở mặt hàng này không cao, một số phụ tùng chính yếu phải nhập khẩu.

Ở những ngành hàng nội bị hàng nhập lấn át, hàng nhập khẩu không chỉ vượt trội nhờ chất lượng, mẫu mã, thương hiệu, mà còn ở khả năng truyền thống, định ra những giá trị sống.

Đáng chú ý là ở khâu phân phối, hàng nội mạnh hơn không hẳn vì những nỗ lực bán hàng của doanh nghiệp, mà có phần vì năm 2009 hàng ngoại bị hạn chế nhập khẩu nên người tiêu dùng khó tìm mua hơn. Về giá, tỷ giá tăng đã khiến hàng nhập đắt đỏ hơn. Nhược điểm cố hữu của hàng nội vẫn là thương hiệu chưa được nhận biết rộng rãi, khả năng thiết kế, sáng tạo kém nên nghèo nàn về mẫu mã, kỹ năng tiếp thị còn hạn chế nên hiệu quả khuyến mãi chưa cao.

Việc yếu tố mẫu mã ít được quan tâm, một phần là do trong suy giảm kinh tế, doanh nghiệp ít chú trọng tới đầu tư mẫu mã, ít có sản phẩm mới, một phần do hàng trong nước chủ yếu là nhóm hàng thiết yếu, nên người dùng chỉ quan tâm tới các yếu tố thương hiệu, dễ mua, rồi tới giá hơn là mẫu mã. Đó có thể là lợi điểm của hàng trong nước trong giai đoạn suy giảm kinh tế, nhưng lợi điểm này có thể biến mất khi kinh tế hồi phục. Điều này cộng thêm với hàm lượng giá trị gia tăng của doanh nghiệp HVNCLC vẫn chưa được cao, tạo nên thách thức lớn cho hàng Việt Nam trong giai đoạn tới.


Người dùng: cảm tình với hàng nội

Do tác động của khủng hoảng, người tiêu dùng có xu hướng giảm chi tiêu các mặt hàng không thiết yếu. Chi tiêu bình quân hàng tháng/hộ cho các sản phẩm tiêu dùng nhanh, ghi nhận từ nhật ký tiêu dùng trong hai năm qua, tăng gấp đôi, lên mức 2,9 triệu đồng của năm 2009. Về giá trị tiêu dùng thì ngành sữa là ngành dẫn đầu, chiếm 25,1% trong tổng chi tiêu 11 ngành so với năm 2008 (24,8%) không thay đổi nhiều, với mức chi tiêu trung bình là 732.000đ/hộ/tháng (so với 353.000đ năm 2008). Điều này phản ánh chi tiêu tăng do giá tăng là chính chứ không phải do nhu cầu tăng. Bên cạnh đó, một số ngành hàng khác có số giao dịch rất hạn chế, ít hơn hoặc khoảng 1 lần/tháng/hộ, cụ thể là rượu bia (0,6 lần), văn phòng phẩm (0,4lần) giảm so với năm 2008 (1,1 lần) …

Ở khâu phân phối, việc người tiêu dùng dễ tiếp cận hàng hoá để mua là yếu tố tích cực giúp hàng nội được lựa chọn nhiều hơn. Yếu tố này mang tính “kỹ thuật” nhiều hơn là cạnh tranh bằng “nội lực” sản phẩm.

Cũng như mọi năm, các kênh thông tin cơ bản mà người tiêu dùng thường tham khảo về sản phẩm nhiều nhất là sự trải nghiệm bản thân về tiêu dùng. Sự trải nghiệm này từ chính người tiêu dùng sản phẩm, chiếm đến 37,87% hoặc được thông tin từ người thân, người quen, cũng là người trực tiếp sử dụng sản phẩm, chiếm 25,05%. Với kết quả này, có thể nói rằng hàng nhập được người tiêu dùng đánh giá có mẫu mã tốt hơn, khuyến mãi có hiệu quả hơn, và thương hiệu được đánh giá cao hơn. Do vậy, hàng sản xuất trong nước chưa thật sự thuyết phục người tiêu dùng so với hàng nhập nói chung.

Do vậy, việc hàng nội có tiếp tục giữ được vị thế trong lựa chọn của người tiêu dùng đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều thay đổi về mô hình phát triển. Đánh giá của chuyên gia kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển nhờ mở rộng quy mô bằng vốn và thâm dụng lao động. Điều này khiến cho tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản có xu hướng giảm dần, dù doanh thu tăng. Vì vậy thách thức trong những năm tới với các doanh nghiệp là tăng hàm lượng giá trị gia tăng, tăng năng suất và khả năng phát triển thị trường cũng như khả năng thuyết phục người dùng thông qua định hình lối sống, tiêu dùng.

Số lượt đọc:  253  -  Cập nhật lần cuối:  05/01/2010 10:51:35 AM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ