Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Chiến lược & Cạnh tranh  Thương hiệu  Marketing  Dịch vụ  PR & Quan hệ khách hàng  Ý tưởng, Công nghệ
Trước cơn bão suy thoái kinh tế toàn cầu:

Làng nghề lao đao

Nguyễn Hà Minh

Thời báo Doanh nhân
Gửi email  Bản in 
02:59' PM - Thứ hai, 15/12/2008

Cơn bão tài chính trên thế giới đang diễn ra hiện nay, không chỉ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp lớn, mà còn tác động trực tiếp đến các làng nghề truyền thống ở nước ta. “Vạn bán người” trăm người mua là cảnh chung diễn ra tại hầu hết làng nghề trong thời gian này.

Thua lỗ triền miên

Bụi, tiếng ồn vẫn là đặc trưng của làng nghề luyện và cán thép Đa Hội (phường Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh) từ hàng chục năm nay. Những ngày này Đa Hội vẫn diễn ra cảnh trên, chỉ có điều mức độ bụi và tiếng ồn đã giảm đi rất nhiều nguyên nhân chính là do sản xuất cầm chừng vì giá thép xuống quá nhanh. Thực tế này diễn ra trong suốt thời gian qua và đẩy hàng chục cơ sở sản xuất thép ở Đa Hội vào cảnh thua lỗ triền miên. Ông Dương Quang Sắc, Phó chủ tịch phường Châu Khê ví von: "ở Đa Hội, nhiều hộ sản xuất, buổi sáng mở mắt chưa kịp làm gì đã mất vài trăm triệu đồng vì giá thép giảm. Mức giá thép giảm từ 16.000 đồng/kg xuống 8.000 đồng/kg trong những tuần vừa qua, với quy mô hàng ngàn tấn thép, các DN làng nghề, cơ sở sân xuất không. . . khóc ròng mới là lạ". Nhà ít cũng mất vài trăm triệu, nhà nhiều mất tới 5 - 7 tỷ đồng, trong khi cả làng có tới 1.700 cơ sở sản xuất lớn nhỏ. Vì thế mà đã có cơ sở sản xuất đang... nuốt nước mắt khi đống nợ ngân hàng, chủ nợ ngày một lớn chỉ có nước tuyên bố phá sản.

Ông Sắc cho biết thêm trong 1 tuần qua, sau tháng 8 thị trường sụt giảm, làng Đa Hội có vẻ “gượng dậy" khi lượng bán ra có nhúc nhích tăng, giá nhích lên chút ít và dừng lại ở con số 10.200 đồng/kg. Nhưng giống như người ốm mới dậy, số lượng đơn hàng không đủ để cứu vãn tình thế.

Nông sản xuống giá

Cơ sở sản xuất sắt thép ê chề do giá dầu thô giảm, nhu cầu xây dựng tụt dốc đã đành, nhưng ngay cả hàng nông sản chế biến cũng không thoát khỏi cảnh này. Hưng Yên nổi tiếng với đặc sản long nhãn cũng đang . . . khóc dở mếu dở do giá xuống kỷ lục. Ông Nguyễn Văn Long, chủ một lò sấy long nhãn ở địa phương này chia sẻ, từ đầu năm giá xăng dầu tăng cộng thêm giá nhân công leo thang, lãi suất ngân hàng cao khiến cho đầu vào chế biến long nhãn tăng vọt trong khi nhu cầu thị trường sụt giảm mạnh. Trước tình cảnh này, hàng loạt cơ sở chế biến long nhãn ở Hưng Yên phải ngừng sản xuất. "Hàng không bán được mà đi vay vốn ngân hàng để thu mua nhãn về chế biến lúc này thì chẳng khác nào mua dây tự trói mình" - ông Long phân bua.

Tắc đầu ra long nhãn làm cho người người trồng nhãn ở Hưng Yên lao đao. Bà Phạm Thảo Lan (TX Hưng Yên) ngồi nhìn đống nhãn khô không tiêu thụ nổi bộc bạch: "Tôi không thể hiểu nổi, thời buổi giá cả tăng cao đáng lẽ giá nhãn ngon đầu mùa phải đạt 25 - 30.000 đồng/kg, vậy mà chỉ bán được 12.000 đồng.

Long nhãn chất đống ở Hưng Yên chưa biết tiêu thụ bằng cách nào thì các đầu mối bao tiêu XK long nhãn ở Lạng Sơn cũng đang đầy kho do đầu ra là thị trường Trung Quốc chưa khai thông. Đại diện Công ty Minh Hoà chuyên XK long nhãn sang Trung Quốc nhận định: "Nếu tình trạng này kéo dài đến năm 2009 thì nhiều DN chế biến long nhãn sẽ đi đến chỗ phá sản”.

Không chỉ long nhãn mà hàng loạt mặt hàng nông sản XK khác tại Hưng Yên như dưa, bí, ngô bao tử... cũng đang tắc đầu ra và chưa biết thời điểm nào sẽ thoát khỏi cảnh khốn khó này. . .

Thiếu vốn trầm trọng

Một trong những khó khăn nhất đối với các làng nghề hiện nay là hầu hết cơ sở sản xuất đều thiếu vốn. Khi lạm phát tăng cao, không có cách nào khác, các cơ sở sản xuất làng nghề bắt buộc phải tăng lương để người lao động đảm bảo cuộc sống. Trong khi đó, hàng loạt chi phí đầu vào khác như nguyên liệu, năng lượng... tăng theo mà thị trường lại suy giảm. Để giữ mối hàng, nhiều cơ sở làng nghề vẫn phải duy trì sản xuất trong khi thiếu vốn. Phó chủ tịch UBND phường Đồng Quang (Từ Sơn - Bắc Ninh) Phan Đình Lượng cho hay, trong tổng số 193 DN và hàng nghìn cơ sở sản xuất gỗ ở làng Đồng Kỵ (thuộc địa bàn xã) thì chỉ có hơn 30 cơ sở và vài DN là được vay vốn mới từ ngân hàng trong thời gian qua, số còn lại không được vay mới mà chỉ thực hiện đáo nợ.


Cùng cảnh khó khăn thiếu vốn, bà Nguyễn Thị Bắc, Công ty Việt Hà (Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bác Ninh) thừa nhận: "Cơ sở sản xuất càng nhỏ, vốn ít thì khó khăn càng chồng chất. DN nào có khách hàng nội địa thì còn nhúc nhắc, DN nào chuyên làm hàng bán sang Trung Quốc thì chỉ có nước đóng cửa”

Bà Phạm Thị Mai, chủ CSSX luyện phôi thép ở Đa Hội (Từ Sơn, Bắc Ninh):

Chưa có lúc nào các cơ sở sản xuất ở Đa Hội gặp khó khăn như giai đoạn này: sản phẩm bán giá rẻ khách hàng cũng chẳng mặn mà mua, bán chịu cũng không xong. Nhìn đống thép cứ xuống giá từng ngày thì “của đau con sót”. Gia đình tôi có 200 tấn phôi trị giá 1,8 tỷ đồng cộng thêm 350 triệu cho phí sản xuất nhưng bán ra chỉ được 1,1 tỷ đồng, lỗ mất hơn 1 tỷ đồng. Đến bao giờ mới thu lại được? Hàng không bán được, số tiền tích cóp duy trì trong thời gian qua đã cạn, giờ cơ sở tôi chẳng có cả vốn mà đáo nợ ngân hàng, chắc phá sản mất. Rất mong nhà nước có những chính sách thiết thực hỗ trợ chúng tôi vượt qua giai đoạn khó khă này.

Ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam:

Vừa qua một số ngân hàng đã quan tâm, dành ưu đãi về vốn vay lãi suất cho các DN làng nghề. Song trên thực tế, DN vẫn gặp vô vàn khó khăn trong việc tiếp cận vốn. Cụ thể, các điều kiện để được vay lại khắt khe hơn rất nhiều: từ việc đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố thường quá thấp so với thực tế, việc xem xét phương án kinh doanh và khả năng hoàn trả vốn chặt chẽ hơn trườc, chưa kể một số tiêu cực của nhân viên ngân hàng...Nhiều doanh nghiệp làng nghề buộc phải tìm đến tín dụng “đen” với mức lãi suất 7 – 8%/tháng hoặc cao hơn để đảo nợ, tránh tình cảnh phải siết nợ tài sản đối với ngân hàng. Theo tôi, chúng ta cần phải đẩy nhanh việc thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng dành riêng cho DN nhỏ và vừa ở các địa phương. Đây là một loại quỹ thuộc Nhà nước nhằm bảo lãnh về vốn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp trả nợ ngân hàng khi họ không đủ khả năng trả nợ, cùng “chia sẻ rủi ro”, bảo toàn vốn cho ngân hàng.

Ông Vũ Đức Tốn, Giám đốc DN tư nhân Tốn Hoàn (Đồng Kỵ, Bắc Ninh):

Sản phẩm của chúng tôi chủ yếu xuất sang Trung Quốc. Với lợi thế gỗ thịt, hàng thủ công, mẫu mã đẹp, giá lại cạnh tranh so với các nước Đông Nam Á, các sản phẩm của Đồng Kỵ được Trung Quốc dành nhiều ưu ái. Riêng thị trường này đã tiêu thụ tới 70% tổng lượng hàng của Đồng Kỵ. Chỉ trong 6 tháng qua, số lượng hàng giảm xuống một nửa, tiêu thụ “chậm như rùa”, mặc dù các doanh ngheiepj đều đã hạ giá thành sản phẩm tới 30 – 40%. Với tình hình như năm nay, cả làng Đồng Kỵ chỉ hòa hoặc lãi không đáng kể. Gần 200 DN vẫn phải duy trì vì giữ nghề và giữ lao động.

Ông Vũ Ngọc Bình, Giám đốc công ty TNHH Phương Lan:

Hiện XK hàng thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề bị đình trệ thì đó là tình hình chung, do khủng hoảng tài chính quốc tế. Để duy trì sự phát triển, tại sao chúng ta không sản xuất và tiêu thụ tại thị trường trong nước (XK vẫn phải là chủ lực)? Làm việc gì cũng phải đứng bằng cả hai chân mới vững. Ví dụ, làng nghề dệt chiếu cói XK, gặp khó khăn, phải nghĩ ngay đến việc sản xuất sản phẩm khác cũng bằng ngueyen liệu cói để bán trong ước, lấy tiền tái sản xuất, trả lương nhân công….Ngành nghề gì cũng phải có chu kỳ của nó, không có nghề gì phồn vinh mãi, lúc thăng phải có lúc trầm. Mỗi DN, muốn tồn tại phải có hướng đi riêng, ngay từ khi bắt đầu ra sản phẩm phải nghĩ đến vấn đề sản phẩm của mình làm ra có bằng người ta không, cạnh tranh tới đâu….Từ đó có chiến lược cụ thể và dài hơi.

Ông Dương Thế Vinh, Chủ nhiệm HTX Đồ gỗ mỹ nghệ Thành Vinh (Đồng Kỵ, Bắc Ninh):

Trong hoàn cảnh khó khăn như hiện nay, vốn luôn là bài toán đau đầu đối với chúng tôi. Vay vốn ngân hàng thì gần như không thể vì các ràng buộc bởi thủ tục thẩm định cho vay quá phức tạp hoặc có vay được nhưng hạn mức cho vay thấp, thời gian vay ngắn không đảm bảo cho việc cầm cự, duy trì sản xuất và thu mua nguyên liệu, xử lý nguyên liệu trước khi sản xuất; lãi suất cho vay cao trong khi giá mua nguyên liệu cũng cao nên đồng vốn có được cũng khó mà sử dụng hiệu quả. Vì vậy, chúng tôi phải sản xuất theo đơn đặt hàng với điều kiện tiền nguyên vật liệu do người mua ứng trước, bù lại lợi nhuận thu về cũng bị khấu trừ. Thời điểm này, hoạt động cầm chừng đã là giỏi lắm rồi.

Số lượt đọc:  283  -  Cập nhật lần cuối:  19/12/2008 02:30:26 PM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ