Cơn bão lạm phát kéo dài hơn 6 tháng qua ở Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc, và doanh nghiệp là một trong những đối tượng gánh chịu nhiều ảnh hưởng nhất.
Doanh nghiệp “mất ăn, mất ngủ”, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc nhẹ hơn là sát nhập với các doanh nghiệp khác để có thể tồn tại trong thời kì lạm phát được xem là lớn nhất trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Bản thân các doanh nghiệp phải tự tìm ra các giải pháp hiệu quả để đối phó với khó khăn trước mắt cũng như lâu dài của lạm phát. Họ đã và sẽ phải làm gì để vượt qua thời kì khó khăn này?
Thực trạng lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Lạm phát cao, kéo dài ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã gây rất nhiều tổn thất cho các doanh nghiệp. Đáng báo động là tình trạng này sẽ còn kéo dài, đòi hỏi các doanh nghiệp phải chuẩn bị tích cực để vượt qua “hoạn nạn”.
Các con số thống kê về tình hình lạm phát khiến nhiều người phải chóng mặt. Đến cuối tháng 6/2008, lạm phát đã lên đến 25,8%, cao hơn 3,8% so với mức lạm phát dự kiến cả năm 2008 và chỉ số tối thiểu của riêng tháng 7 này lên tới 27% đã trực tiếp gây ra các khó khăn và thiệt hại cho khối doanh nghiệp.
Giá cả phục vụ sản xuất vẫn ngày một leo thang, đặc biệt giá giá xăng tăng đột ngột 30% lên 19.000 đồng/lít (từ ngày 21/7/2008), giá nguyên vật liệu xây dựng tăng 30- 40% , ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh và sản xuất của các doanh nghiệp.
Hiện tại, tăng trưởng kinh tế cả nước đang có dấu hiệu chậm lại (từ hơn 7% trong quý I còn 6% trong quý II). Nền kinh tế có khá nhiều yếu kém: Bội chi ngân sách cao (5%), thâm hụt thương mại có giảm nhưng với tình hình giá tăng, việc hạn chế thâm hụt thương mại khó đạt được như ý muốn; tình trạng thiếu điện sản xuất kinh doanh v.v... Ông Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch Hội DN TP.HCM, lo lắng: “Làm kinh tế 20 năm nhưng chưa bao giờ tôi thấy tình hình khó khăn trầm trọng như hiện nay”.
Tình hình kinh tế cả nước đang lâm vào khó khăn trầm trọng và theo dự báo thì tình trạng lạm phát này có thể sẽ kéo dài trong 3 năm. Trong thời gian tiếp theo, với chi phí vốn ngày càng tăng cao thì vấn đề tiêu thụ của các doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn. Doanh nghiệp có thể sẽ thua lỗ, thậm chí lâm vào phá sản đặc biệt là các doanh nghiệp ở khu vực tài chính – ngân hàng.
Đứng trước tình hình khó khăn như vậy, các nhà quản lý cần nghiêm túc nhìn nhận và đưa ra những chính sách ứng phó kịp thời để chèo lái doanh nghiệp thoát khỏi những trở ngại hiện tại và đối đầu với những rắc rối được dự báo sẽ xảy ra trong tương lai.
Khó khăn của doanh nghiệp Việt trong thời kì lạm phát
Lạm phát đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh, đặc biệt là nguồn vốn đầu vào của doanh nghiệp vừa và nhỏ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Hầu hết các doanh nghiệp "khát" vốn đầu vào là vì gặp khó khăn trong huy động vốn, khó khăn về đầu ra, và chi phí nhân công cao.
- Khó khăn trong huy động vốn: Đứng trước những khó khăn về vốn, doanh nghiệp phải đối mặt với chính sách tiền tệ thắt chặt của nhà nước, chi phí vốn cao, tiếp cận nguồn vốn khó khăn.
Các ngân hàng tăng cường thắt chặt nguồn vốn cho vay nhằm bằng cách tăng lãi suất lên 21%. Hơn thế nữa, trong thời gian tới ngân hàng sẽ ưu tiên các khoản vay lớn hơn để giảm chi phí giao dịch. Hầu hết các công trình đầu tư, những dự án….đều phải hoãn lại do không có tiền để thực hiện, thậm chí nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tính đến việc chuyển nhượng những dự án lớn cho những doanh nghiệp có đủ khả năng. Do đó, giới doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sẽ khó tiếp cận các khoản vay hơn. Họ khó tiếp cận nguồn tín dụng hơn, hay nói cách khác, chi phí vốn của họ sẽ phải tăng nhiều hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Ngoài ra, khi lạm phát tăng cao, tiền mất giá, người dân không muốn giữ tiền mặt hoặc gửi tiền trong ngân hàng bởi lẽ mức lãi suất danh nghĩa của tiền gửi thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Họ chuyển sang nắm giữ vàng, bất động sản, ngoại tệ mạnh... khiến một lượng vốn nhàn rỗi đáng kể của xã hội nằm im dưới dạng tài sản “chết”. Thiếu vốn đầu tư, không thể tích lũy để mở rộng sản xuất, sự tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung sẽ chậm lại.
- Khó khăn trong đầu ra: Đối với doanh nghiệp sản xuất, ảnh hưởng mạnh nhất của lạm phát là sự tăng giá ngoài dự đoán và ngoài kiểm soát của nguyên vật liệu đầu vào.
Hàng loạt các mặt hàng động loạt tăng giá như xăng dầu, sắt thép, xi măng….đã khiến các doanh nghiệp lao đao. Chi phí cho đầu vào tăng tất yếu dẫn đến việc các mặt hàng tăng giá. Trong thời kỳ lạm phát như hiện nay hầu hết các các doanh nghiệp chân chính đều muốn giảm giá thành sản phẩm, nhưng lại phải đối mặt với tình trạng hàng hóa đầu vào liên tục tăng cao. Tăng giá thì dễ, nhưng bán được lại là vấn đề, vì túi tiền của mọi người đều rỗng. Dấu hiệu dễ thấy là nhiều doanh nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh trở nên đình trệ, thậm chí phải ngừng hoạt động. Nhiều công ty đã được đầu tư hoàn chỉnh, công nghệ hiện đại, lao động đã sẵn sàng, thị trường đều có, nhưng chỉ vì giá nguyên vật liệu tăng cao, mặt khác họ lại không tìm được nguồn vốn, vì vậy họ phải ngừng sản xuất hay bán lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp. Hoặc các sản phẩm làm ra lại không tiêu thụ được trên thị trường như giai đoạn trước kia.
- Chi phí lao động tăng cao: Một vấn đề cũng trực tiếp tác động tới doanh nghiệp là chi phí lao động tăng rất mạnh.Trong tình hình lạm phát như hiện nay, một số doanh nghiệp tại Việt Nam (chủ yếu là các công ty kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại vàdịch vụ hay các công ty có ít nhân viên) đã tăng lương và tăng thêm phụ cấp cho nhân viên nhằm đối phó với tình hình giá cả tăng cao và xem đây là một giải pháp đối với công tác nhân sự trong bối cảnh lạm phát.
Trong khi đó, các công ty trong lĩnh vực sản xuất, do số nhân viên đông nên chọn giải pháp tăng lương cho người trực tiếp sản xuất, vốn lương thấp và chịu ảnh hưởng mạnh nhất từ lạm phát. Tuy nhiên, tỷ lệ công ty chấp nhận tăng lương bổ sung cho công nhân trực tiếp là rất thấp. Và dù có tăng lương đến đâu thì doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với sự thay đổi của đời sống nhân viên và tâm lý bất ổn của họ trước thời cuộc ảnh hưởng đến năng suất lao động. Do ảnh hưởng chính sách nhân sự như doanh nghiệp phải cắt giảm số lao động, cắt giảm tiền lương và các khoản đãi ngộ khác… mà ảnh hưởng lớn tới tâm lý những nhân viên còn lại ở công ty. Mặt khác, với những nhân viên giỏi, doanh nghiệp lại không giữ chân họ được đi tìm nơi có ổn định tốt hơn. Cơ hội cho doanh nghiệp trong thời kì lạm phát
Lạm phát cao ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng tạo ra cho doanh nghiệp như cơ hội để cơ cấu lại tổ chức cũng như để thu hút đầu tư.
Để ứng phó với lạm phát, không ít doanh nghiệp đã thực hiện biện pháp cắt giảm nhân sự và mua bán, sáp nhập doanh nghiệp với nhau. Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ về cơ bản đúng hướng nhưng cùng một lúc áp dụng quá nhiều biện pháp chặt chẽ lại gây khó khăn cho doanh nghiệp. Sẽ có không ít doanh nghiệp không đủ sức chèo chống trong bão lạm phát sẽ chịu hậu quả nặng nề và có thể phải ngừng hoạt động.
Xu hướng mua bán – sáp nhập công ty sẽ là lựa chọn của nhiều doanh nghiệp thời lạm phát. Đối với những nhà đầu tư chuyên nghiệp, đây là cơ hội tốt để sở hữu một doanh nghiệp với giá hợp lý. Nhiều doanh nghiệp có triển vọng nhưng gặp khó khăn về tài chính hoặc yếu về kinh nghiệm quản trị sẽ phải chào bán bớt một số cổ phần, hợp tác liên doanh liên kết hoặc tìm cổ đông chiến lược. Các cổ đông này không chỉ tăng tiền mà còn công nghệ, kỹ năng quản lý, điều hành công ty, giúp bao tiêu sản phẩm đầu ra... Sẽ có những phương thức liên kết theo nhiều mô hình khác nhau, kể cả việc hình thành tập đoàn, để tạo ra các khả năng tập trung vốn và tăng nhanh khả năng thâm nhập thị trường.
Đây cũng cơ hội để nhiều nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam hiệu quả, nhanh chóng và đỡ tốn kém nhất. Theo nhận định của ông Phan Xuân Cần, Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư Tài chính Việt Nam (TigerInvest) thì: Với một chiến lược đầu tư rõ ràng, một khoản đầu tư hợp lý, sau khoảng 2, 3 năm, khi nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng trở lại thì những doanh nghiệp hôm nay gặp khó khăn và phải đem bán, khi đó có thể là "vàng ròng". Đặc biệt , một số ngành có rào cản thâm nhập ngành như: Bất động sản, dược, ngân hàng, tài chính, cty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, phân phối,... trước đây gặp khó khăn trong hoạt động có đầu tư nước ngoài thì nay đã được mở rộng hơn. . Các giải pháp ứng phó với lạm phát
Lạm phát không thể được đẩy lùi một sớm, một chiều, vì vậy, doanh nghiệp phải tìm cách sống chung với nó và vượt qua nó. Có một số giải pháp đang chứng tỏ có khả năng giúp doanh nghiệp kiềm chế tình trạng lạm phát khá hiệu quả, đó là: thực hiện triệt để tiết kiệm, vận dụng nguồn nhân lực đúng với thời thế, và đổi mới chiến lược kinh doanh phù hợp với yêu cầu của hoàn cảnh. Với mỗi biện pháp, các doanh nghiệp cần áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, đòi hỏi sự chung sức, chung lòng của mọi thành viên trong doanh nghiệp.
- Tiết kiệm triệt để: Đây được xem là sách lược tối ưu nhất chống cơn bão lạm pháp. Doanh nghiệp cần phải cắt giảm mọi khoản chi tiêu tiết kiệm không cần thiết, phát động phong trào tiết kiệm trong mọi bộ phận, cán bộ công nhân viên trong tổ chức. Rà soát lại tình hình nhân sự để tinh giản lại bộ máy, giám bớt một số lao động thừa, không cần thiết". Doanh nghiệp FPT đã làm rất tốt điều này với hai chính sách C10 và C20 nghĩa là nhân viên FPT phấn đấu cắt giảm ban đầu là 10% sau đó là 20 % chi phí hoạt động của toàn bộ các bộ phận trong công ty. Nhiều doanh nghiệp chuyển ca làm việc từ giờ cao điểm sang giờ khác để tiết kiệm điện, tận dụng dùng giấy 2 mặt để tiết kiệm, sử dụng phương tiện tin học để trao đổi trong công việc, hạn chế hội họp…
- Sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả. Gốc của nước là dân, gốc của doanh nghiệp là người lao động, nước sống nhờ dân, công ty tồn tại nhờ người lao động, nhất là trong thời kỳ khó khăn. Doanh nghiệp có thể cắt giảm nguồn nhân lực, nhưng phải có chọn lọc và hết sức cẩn thận, hoặc thực hiện chính sách chuyển đổi hợp đồng lao động phù hợp. Theo con số tinh toán của FPT, cắt giảm một nhân viên không hiệu quả có thể tiết kiệm được 8000 USD/ năm, hoặc chuyển một số nhân viên chính thức thành nhân viên tạm thời hay cộng tác viên, giúp cho công ty có thể cắt giảm nguồn chi phí.
Doanh nghiệp cũng cần quan tâm tới đời sống, tâm lý của nhân viên hơn, tạo sự yên tâm, tin tưởng của nhân viên vì trong nhân viên xuất hiện tư tưởng chán nản do sợ mất việc và tiền lương thực tế giảm. Doanh nghiệp có thể gắn kết nhân viên với mình bằng những yếu tố ngoài tiền lương, như văn hóa, môi trường làm việc...Trong thời kỳ khó khăn, những yếu tố này cần sử dụng triệt để.
- Tìm vốn cho doanh nghiệp trong thời kì lạm pháp: Khi không có được nguồn vốn từ ngân hàng, các doanh nghiệp hãy tìm mọi nguồn huy động vốn khác nhau: huy động vốn từ các khoản khách hàng nợ doanh nghiệp, từ người thân, từ các hội ngành nghề. Ông Nguyễn Chí Nguyện, Phó Chủ tịch Hội Lương thực thực phẩm TP.HCM, cho biết trên địa bàn TP.HCM, có khoảng 30 hội ngành nghề 4.000 hội viên. Nếu tính cả các câu lạc bộ, các ngành hàng thì con số lên đến 100 tổ chức hội. Mỗi hội đều có kinh phí hoạt động huy động từ nhiều nguồn với nguồn vốn nhàn rỗi khoảng vài trăm triệu đồng, cá biệt có những hội có hàng chục tỉ đồng.
- Đổi mới chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp đối phó với khó khăn trước mắt cũng như lâu dài của lạm phát. Một chiến lược kinh doanh phù hợp trong thời kì lạm phát được thể hiện qua việc đầu tư có trọng điểm, tái cơ cấu tổ chức hợp lý và vạch ra được các kế hoạch kinh doanh lâu dài.
- Đầu tư có trọng điểm: Thời buổi bão giá, doanh nghiệp cần tránh đầu tư đa ngành, dàn trải, kém hiệu quả. Các danh mục đầu tư của doanh nghiệp cần phải được thu gọn và chỉ tập trung vào các dự án có tiềm năng và vốn đầu tư đảm bảo. Doanh nghiệp nên dũng cảm từ chối các dự án không khả thi như khả năng thanh toán không rõ ràng, lợi nhuận 20% (lỗ so với tỉ lệ lạm phát 26% hiện nay)…Các dự án đầu tư có thời gian thu hồi vốn lâu như bất động sản, khu công nghiệp nên được tính toán và cân nhắc kỹ càng. Ngược lại, các dự án "đánh nhanh thắng nhanh" như đầu tư vào các mặt hàng tiêu dùng nên được doanh nghiệp ưu tiên để thu hồi vốn, luân chuyển nhanh luồng tiền.
- Thực hiện tái cấu trúc tổ chức: Cơ cấu lại sản xuất kinh doanh theo tinh thần “đánh nhanh thắng nhanh, đánh chắc thắng chắc”, tập trung sản xuất những mặt hàng có lợi nhuận cao, tạm dừng những mặt hàng lợi nhuận thấp hoặc chưa có thị hiếu tiêu dùng… Các doanh nghiệp cũng có thể tạo ra cơ cấu tổ chức mới, bằng phương thức liên kết nhiều mô hình khác nhau, như hình thành các tập đoàn để tạo ra những khả năng tích tụ, tập trung vốn và tăng nhanh tham nhập thị trường…
- Thiết lập các chiến lược kinh doanh lâu dài: Doanh nghiệp không nên đầu tư dàn trải, mà nên có chiến lược đầu tư trọng điểm, lâu dài. Các doanh nghiệp nếu lựa chọn được các công ty niêm yết có triển vọng kinh doanh tốt và bất động sản ở vị trí đắc địa thì có thể đầu tư và kì vọng lãi cao về dài hạn. Doanh nghiệp cũng không vì khó khăn trước mắt mà cắt giảm chi phí marketing bởi khi các đối thủ cạnh tranh cắt giảm quảng cáo thì các thương hiệu tăng quảng cáo trong thời kì suy thoái sẽ có hiệu quả. Nếu buộc phải cắt giảm quảng thì có thể chuyển từ quảng cáo 30 giây sang quảng cáo 15 giây, từ tivi sang đài phát thanh…
Số lượt đọc:
4422
-
Cập nhật lần cuối:
17/11/2008 06:27:36 PM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|