Giá trị vô hình mà nhãn hiệu có thể góp thêm vào cho sản phẩm
 Mỗi sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) không mang nhãn đều cung ứng cho người
tiêu dùng một số giá trị vật chất hoặc phi vật chất nào đó và thông
thường, luôn có nhiều nhà sản xuất khác nhau cùng đưa ra thị trường một
loại sản phẩm tương tự nhau về cấu tạo, chức năng và thẩm mỹ. Vấn đề
là, một khi đặt lên những sản phẩm cùng loại đó những nhãn hiệu riêng
biệt, mỗi sản phẩm mang nhãn hiệu khác nhau nói chung sẽ được khách
hàng cảm nhận một cách khác nhau. Một cách khái quát, sự khác biệt
trong cảm nhận này có thể phân thành ba mặt: khác biệt lý tính (ứng với
các giá trị cụ thể có thể nhận biết được trên sản phẩm), khác biệt biểu
tượng (ứng với các dấu hiệu hình hoặc chữ của nhãn hiệu về khía cạnh
ngữ nghĩa, ngữ âm, phong cách thể hiện...), khác biệt cảm tính (ứng với
các liên tưởng được gợi ra và được ghi nhớ trong quá trình truyền thông
về nhãn hiệu). Ở góc độ quản trị nhãn hiệu, mỗi mặt khác biệt đó chủ
yếu được liên kết với một mặt giá trị tương ứng sau đây của nhãn hiệu:
chất lượng cảm thụ, mức độ nhận biết, và ấn tượng liên kết. Ba mặt giá
trị đó hợp thành một khái niệm được một số nhà marketing gọi là: "giá
trị góp thêm" của nhãn hiệu vào sản phẩm (brand added value) và qua đó,
tìm kiếm và xây dựng các biện pháp tác nghiệp thích ứng nhằm bồi tụ giá
trị cho nhãn hiệu. Bảy vấn đề chủ yếu trong quản trị nhãn hiệu
Nhãn hiệu cần được nhìn nhận như một thực thể thống nhất trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với từng nhãn hiệu mà mình sử dụng, có lúc,
doanh nghiệp phải xem xét đến khía cạnh thiết kế, có lúc lại phải tiến
hành các nghiên cứu thị trường cho một bối cảnh cạnh tranh cụ thể, có
khi phải tìm kiếm ý tưởng cho một thông điệp quảng cáo, có khi phải tập
trung xử lý các tranh chấp và kiện tụng pháp lý... Ở các nước đã có nền
kinh tế thị trường phát triển, quá trình phân công xã hội thành các
lĩnh vực hoạt động chuyên sâu đã giúp hình thành các công ty tư vấn
chuyên ngành tương ứng: tư vấn thiết kế, tư vấn nghiên cứu thị trường,
tư vấn quảng cáo, tư vấn sở hữu trí tuệ... có trình độ chuyên môn sâu
và uy tín nghề nghiệp cao. Việc sử dụng hệ thống tư vấn bên ngoài là
một hoạt động quen thuộc của DN, ngay cả khi họ đã xây dựng một chức
danh hoặc một bộ phận quản trị nhãn hiệu bên trong làm đầu mối giao
tiếp và xử lý các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu, trong quá trình thuê,
khoán dịch vụ với nhiều nhà tư vấn chuyên ngành khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và doanh
nghiệp của các nước đang phát triển nói chung, doanh nhân thường chưa
có đủ thời gian để lăn lộn với các khía cạnh khác nhau của môi trường
kinh doanh, mức độ thành thục trong việc đánh giá và sử dụng có hiệu
quả hệ thống tư vấn hiện còn là một mối bận tâm đáng kể. Trong xu thế
mà tỷ lệ giá trị các tài sản vô hình so với các tài sản hữu hình của
doanh nghiệp ngày càng tăng, theo thiển ý, doanh nghiệp nên sớm tổ chức
bộ phận quản trị nhãn hiệu của mình, có thể gồm chỉ một hoặc vài quản
trị viên nhãn hiệu (brand manager/director), hoặc hoạt động độc lập,
hoặc biên chế vào một trong các bộ phận khác như marketing, phát triển
sản phẩm, quản trị công nghệ...
Trong khuôn khổ bài viết này, xin được giới thiệu
một cách xem xét và giải quyết vấn đề, thông qua việc xác định khái
quát bảy nội dung thiết yếu mà một bộ phận quản trị nhãn hiệu như vậy
nên nắm bắt trong hoạt động tác nghiệp của mình. Nhãn hiệu và phong cách kinh doanh
Mỗi con người trong giao tiếp đều có một phong cách
riêng. Cũng vậy, mỗi doanh nghiệp trong kinh doanh cũng sẽ có một phong
cách riêng mà thường ít được doanh nghiệp quan tâm quản trị. Phong cách
kinh doanh nói chung được thể hiện trên ba mặt: truyền thông, giao tiếp
và biểu tượng. Bốn môi trường truyền thông chủ yếu của phong cách là:
bản thân hàng hóa và dịch vụ phương tiện bài trí và trưng bày, phương
thức ứng xử của nhân viên, và các thông điệp quảng cáo. Các đối tượng
giao tiếp mà doanh nghiệp cần hướng đến, tùy theo từng mục tiêu trong
hoạt động kinh doanh, có thể là: chính quyền các cấp, giới tài chính,
giới ngân hàng, giới đầu tư, giới báo chí, đối thủ cạnh tranh, cổ đông,
khách hàng, nhân viên trong doanh nghiệp... Về mặt biểu tượng, phong
cách kinh doanh sẽ kết tụ chủ yếu vào ba dấu hiệu chính là: thương
hiệu, logo (biểu tượng kinh doanh) và các nhãn hiệu của doanh nghiệp.
Thương hiệu (trade name) trong cách nhìn này là phần
tên riêng trong tên thương mại, tên pháp nhân, tên công ty (corporate
name)... của doanh nghiệp (thường bao gồm ba bộ phận là: loại hình
doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh, và tên riêng).
Theo cách nhìn đó,
quá trình bồi tụ thương hiệu với tư cách là dấu hiệu để phân biệt các
chủ thể kinh doanh có nhiều khía cạnh rất khác so với quá trình bồi tụ
nhãn hiệu (brand), vốn chỉ là dấu hiệu để phân biệt các sản phẩm cùng
loại do các chủ thể kinh doanh khác nhau đưa ra thị trường. Đứng ở góc
độ biểu tượng, nhiều doanh nghiệp thường lấy luôn thương hiệu hoặc logo
làm nhãn hiệu và được gọi là theo phong cách nhất thể; nhiều doanh
nghiệp khác lại muốn đưa ra thị trường những nhãn hiệu hoàn toàn độc
lập với nhau và thậm chí với cả thương hiệu của mình, theo đó, người
tiêu dùng chỉ cần biết đến bản thân nhãn hiệu mà không cần biết đến ai
đứng đằng sau nhãn hiệu đó, và được gọi là theo phong cách đa nhãn.
Mỗi
dạng phong cách kinh doanh có một số ưu thế và hạn chế trong các lĩnh
vực và/hoặc bối cảnh kinh doanh khác nhau cũng như phù hợp với một
chiến lược nhãn hiệu riêng biệt. Nhãn hiệu và khách hàng
Một cách tổng quát, khách hàng luôn cảm nhận nhãn
hiệu một cách tổng thể, thông qua việc gán các nhãn hiệu một tính cách
nào đó tổng hòa từ nhiều nét tính cách và giá trị cụ thể của nhãn hiệu.
Theo đó, từng yếu tố cụ thể trong tâm lý tiêu dùng (cảm giác, tri giác,
chú ý, tâm trạng, tình cảm, ý chí...) nên được chú ý để có thể phân
tích và khai thác một cách hiệu quả nhất các dấu hiệu thông tin trong
một thông điệp truyền thông. Các nhà nghiên cứu thị trường cũng nhận
thấy có một số mô thức đáp ứng của khối đông khách hàng trong thị
trường mục tiêu với nhãn hiệu như thói quen sử dụng nhãn hiệu, tầm quan
trọng của nhóm khách hàng thân thiết...
Việc nắm bắt nhiều dạng động cơ hoặc ước muốn khác
nhau xuất phát từ cùng một nhu cầu cụ thể của khách hàng, là cơ sở để
xác định được đúng các lợi ích mà khách hàng mong đợi trong tập hợp các
giá trị và các nét tính cách mà nhãn hiệu có thể cung ứng, giúp giảm
thiểu các chi phí truyền thông kém hiệu quả về các giá trị không quan
trọng đối với khách hàng, không chỉ trên các phương tiện truyền thông
đại chúng (vốn là một trong các hạn chế của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ), mà cả trên các dấu hiệu ngoại kết khác của sản phẩm mang nhãn
như: bản thân tên nhãn (ngữ âm, ngữ nghĩa), phong cách trình bày nhãn
hiệu, bao bì, nhãn hàng hóa, các khẩu ngữ (slogan), các thông điệp
marketing trực tiếp... Tất cả đều nhằm tăng hiệu quả duy trì và phát
triển liên tục mối quan hệ với khách hàng, và làm nảy sinh mặt giá trị
thứ tư của nhãn hiệu: ý hướng trung thành của khách hàng, bên cạnh các
khái niệm mức độ nhận biết, chất lượng cảm thụ, và ấn tượng liên kết đã
đề cập.
Khía cạnh pháp lý của nhãn hiệu
Trong quá trình thâm nhập và phát triển thị trường của mình, nhãn hiệu
chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định pháp lý trong nhiều ngành luật
khác nhau: dân sự, thương mại, quảng cáo, sở hữu trí tuệ, hành chính,
hình sự, chống cạnh tranh không lành mạnh, các điều ước quốc tế mà Việt
Nam ký kết hoặc tham gia..., và bên cạnh đó là các chính sách của chính
phủ và chính quyền địa phương trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc phân tích các giới hạn và các
ảnh hưởng của các chính sách và pháp luật hiện hành lên quá trình bồi
tụ giá trị nhãn hiệu, thông qua năm mặt giá trị nhãn hiệu đã đề cập
trên, hoặc thông qua một phương án phân tích khác, sẽ góp phần hữu ích
trong việc vận dụng các kỹ thuật và công cụ tiếp thị nhãn hiệu. Bên
cạnh đó, việc nắm bắt các nội dung cơ bản của các quy định pháp lý về
nhãn hiệu trong luật sở hữu công nghiệp cũng là một yêu cầu cần thiết
trong quá trình quản trị nhãn hiệu, có lúc nhằm giúp tránh các rủi ro
và tranh chấp không đáng có, có khi để bảo vệ giá trị đã kết tụ được
vào nhãn hiệu nhờ phương pháp quản trị đúng cách, kết hợp với tầm nhìn
và sự nhạy cảm của lãnh đạo doanh nghiệp trong việc khai thác tốt các
thời cơ thị trường.
Cũng không khó khăn gì để doanh nghiệp có thể nhận
biết rõ hệ thống và vai trò riêng của các cơ quan, tổ chức liên quan
trong khía cạnh sở hữu công nghiệp như Cục sở hữu công nghiệp, Thanh
tra khoa học công nghệ, Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp, Quản lý
thị trường, Công an kinh tế... trong quá trình hỗ trợ xử lý các xung
đột và tranh chấp về nhãn hiệu đã được bảo hộ độc quyền (trademark). Nhãn hiệu trong kinh doanh quốc tế
Trước hết, nhiều kinh nghiệm và mô thức đối phó với
áp lực cạnh tranh của các nhãn hiệu đa quốc gia thâm nhập vào thị
trường sở tại như: phối thuộc thành chi nhánh, phòng ngự, tránh né trên
thị trường nội địa, tránh né ra thị trường nước ngoài, trực tiếp đối
đầu,... đã được nhiều nhà nghiên cứu đúc kết và có giá trị tham khảo
tốt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước đang phát triển.
Động cơ
phát triển một nhãn hiệu đa quốc gia tất nhiên không chỉ do sức ép quá
mạnh trên thị trường nội địa. Sự bùng nổ thông tin, sức hút và tính
giao hòa lẫn nhau giữa các nền văn hóa, sự phát triển của du lịch quốc
tế đã tạo ra ngày càng nhiều nét tương đồng trong tâm lý tiêu dùng và
đôi khi trong cả kết cấu tiêu dùng giữa các khách hàng thuộc nhiều quốc
tịch khác nhau trên các lục địa, nhất là lớp người tiêu dùng thuộc thế
hệ trẻ, tạo nên các mảng thị trường tương đồng trong từng thị trường
quốc gia mà theo đó, một nhãn hiệu cụ thể với một tính cách cụ thể sẽ
có điều kiện xác lập cho mình một thị trường quốc tế nhằm mở rộng quy
mô sản xuất, cung ứng để tận dụng các ưu thế về phí cố định lẫn phí lưu
động.
Như vậy, trong khi hoạt động xuất khẩu đòi hỏi chủ
yếu ở khả năng phát hiện nhu cầu của đối tác nước ngoài, bảo đảm chất
lượng sản phẩm và dịch vụ đi kèm với một giá cả có tính cạnh tranh, thì
việc phát triển một nhãn hiệu đa quốc gia (global branding) còn yêu cầu
phải có một nhận thức tương đối rõ ràng về một chiến lược giúp định
hình được một hoặc một tập nhãn hiệu không chỉ có các giá trị vật lý và
vô hình tương đẳng hoặc vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh, mà còn
có các nét tính cách đặc thù để tạo nên một khả năng phân biệt, vốn là
yêu cầu cơ bản nhất trong việc xây dựng một nhãn hiệu. Quản trị tài sản nhãn hiệu
Giá trị ban đầu của một nhãn hiệu thực ra không có
gì khác hơn ngoài một số chi phí như thuê nghiên cứu phân tích, thiết
kế, bảo hộ pháp lý. Quá trình bồi tụ tiếp theo đó đòi hỏi việc sử dụng
có hiệu quả không chỉ các kỹ thuật tiếp thị (4P/7P) mà cả các kỹ thuật
quản trị các giá trị và các nét tính cách của nhãn hiệu. Một khi đã
hình thành, một mặt, có thể phân tích giá trị tổng thể của nhãn hiệu
thành nhiều mặt khác nhau (như đã giới thiệu bên trên) và vận dụng các
kỹ thuật bồi tụ thích ứng cho từng mặt trong từng giai đoạn của quá
trình cạnh tranh; mặt khác, cũng có thể mổ xẻ nhãn hiệu như một thực
thể "có tính cách" đảm nhiệm vai trò thỏa mãn, bổ túc, chia sẻ, hay
diễn đạt tâm lý của khách hàng mục tiêu... Phương pháp so sánh tương
đối các mặt mạnh, yếu của nhãn hiệu so với nhãn hiệu cạnh tranh bằng
cách sử dụng các cột điểm cũng thường được áp dụng để xác định các
chiến thuật nhãn hiệu thích hợp với từng giai đoạn trên thương trường.
Cuối cùng, các cơ sở để tiến hành định giá nhãn hiệu dưới quan điểm của
bên giao hoặc bên nhận trong quá trình mua bán nhãn hiệu, cấp đặc quyền
nhãn hiệu (franchising), chuyển giao công nghệ có kèm nhãn hiệu,...
cũng cần được nắm bắt, kể cả việc xác định mức độ thiệt hại trong các
tranh chấp pháp lý.
Tóm lại, nếu kết quả của hoạt động marketing chủ yếu
hướng đến việc bảo đảm đưa đúng sản phẩm đến đúng khách hàng vào đúng
thời điểm với đúng giá cả có thể làm hài lòng cả đôi bên doanh nghiệp
và khách hàng, thì kết quả của hoạt động quản trị nhãn hiệu, trong một
góc tiếp cận vừa hẹp hơn vừa chuyên nghiệp hơn, hướng đến việc xây
dựng, duy trì và phát triển một tài sản vô hình trong dài hạn, gắn với
một quan điểm rõ ràng về văn hóa và chiến lược kinh doanh, không chỉ
đòi hỏi một tham vọng lớn, một quyết tâm cao, một tầm nhìn rộng của
giới lãnh đạo doanh nghiệp, mà còn đòi hỏi năng lực tổ chức được một bộ
phận tác nghiệp sắc sảo biết cách vận dụng linh hoạt nhiều kỹ thuật
quản trị nhãn hiệu cụ thể bằng một phong cách nhất quán.
Cũng xin được lưu ý rằng, hiện nhiều chức danh quản
trị viên nhãn hiệu tại một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
với thời hạn tại chức thường chỉ đôi ba năm, chỉ được giao nhiệm vụ tập
trung phát triển doanh số của một hay một tuyến nhãn hiệu cụ thể. Điều
này thường có nguyên nhân ở chỗ các nhãn hiệu tương ứng đã là những
nhãn hiệu thành danh và đang nằm trong nhóm nhãn hiệu lãnh đạo thị
trường. Khi này, những mục tiêu chiến thuật của chi nhánh quốc gia
(thường là các mục tiêu tài chính trung và ngắn hạn) có phần quan trọng
hơn các yêu cầu chiến lược.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam,
nhiệm vụ quản trị nhãn hiệu xuất phát từ một thế đứng hoàn toàn khác và
nên được xem xét, phát triển một cách có hệ thống trong quá trình chuẩn
bị cạnh tranh với các nhãn hiệu đến từ các nước lân cận trong khu vực,
hoặc đã và đang chuẩn bị xâm nhập thị trường nội địa, hoặc đang cùng
đua chen vào thị trường các nước phát triển. Nắm bắt được thời cơ sẽ dễ
dàng khuếch đại nội lực, nhưng quản trị chính tắc và linh hoạt mới tạo
được cơ chế phát triển một nguồn nội lực thực sự bền vững có thể chịu
đựng được các thử thách khắc nghiệt của một cuộc chơi và cũng là cuộc
chiến dấu hiệu (signs war) đầy tính cạnh tranh. Số lượt đọc:
117
-
Cập nhật lần cuối:
24/09/2008 02:17:38 PM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|