Ngày 1/1/2009 là thời điểm thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ hoàn toàn mở cửa. Điều này đồng nghĩa với việc nhiều doanh nghiệp nước ngoài sẽ đổ bộ vào mảnh đất béo bở mà trước đây họ chỉ có thể nhìn từ xa. Các doanh nghiệp Việt Nam đã chuẩn bị gì trước tình hình đó?
Sẵn sàng “nghênh chiến”
Còn gần 2 tháng nữa mới đến giờ G nhưng có không dưới 10 đại gia bán lẻ ở cả châu Âu, châu Á lẫn châu Mỹ đã chuẩn bị "vũ khí" sẵn sàng, thậm chí làm cả động tác "loan báo" trước về sự có mặt đầy quyết tâm của mình tại Việt Nam để giành giật miếng bánh bán lẻ được xem là béo bở nhất hiện nay. Điều này đã gây không ít "bối rối" cho các doanh nghiệp trong nước khi nhìn lại mình, xét về cả tiềm lực tài chính, trình độ quản lý, kho vận, nhân sự, công nghệ... đều thua xa đối thủ.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã sớm nhận ra rằng: Giải pháp tối ưu và cấp bách nhất là phải nhanh chóng tập trung sức mạnh thông qua các hình thức liên doanh, liên kết. Cuối năm 2007, 130 doanh nghiệp đã đồng lòng ký vào cam kết thành lập Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR), được xem là cơ quan tự vệ và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các thành viên. Điển hình hơn là cái bắt tay của bốn ông lớn: Satra, Hapro, Saigon Coop, Phú Thái để thành lập Công ty cổ phần đầu tư và phát triển thị trường phân phối Việt Nam (VDA) có vốn điều lệ lên đến 6.000 tỷ đồng với hy vọng sẽ nhanh chân chiếm lĩnh trước phần lớn của chiếc bánh.
Còn đối với Best Carings, họ đã chọn giải pháp liên doanh với Best Denki - một trong năm tập đoàn bán lẻ điện máy hàng đầu Nhật Bản - để khắc phục những hạn chế vốn có của một doanh nghiệp Việt Nam, sẵn sàng cho ngày hội nhập.
Rõ ràng, đây là giải pháp tối ưu nhất mà các doanh nghiệp bán lẻ trong nước đã, đang và sẽ phải làm nếu không muốn nhanh chóng bị "thôn tính" bởi các đại gia hùng mạnh.
Xét về tương quan lực lượng, các đại gia bán lẻ nước ngoài hơn hẳn chúng ta về tất cả những yếu tố cơ bản để duy trì một hệ thống phân phối: sức mạnh tài chính, con người, kinh nghiệm, công nghệ và họ thực sự chuyên nghiệp hơn chúng ta. Thực sự, họ đi trước các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ.
Tuy nhiên, chừng đó vẫn chưa đủ để đảm bao 100% sự thành công cho cuộc "càn quét" của bất kỳ thương hiệu nước ngoài nào tại thị trường nội địa. Sự thất bại của Wal-Mart tại Hàn Quốc là một ví dụ sinh động. Chúng ta có lợi thế rất lớn về "sân nhà" với sự thông thuộc, am hiểu một cách sâu sắc văn hóa, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam, trong khi "nhập gia tùy tục" không phải là chuyện đơn giản mà những "vị khách lạ" có thể làm tốt trong ngày một ngày hai. Vì vậy, nếu biết tận dụng thế mạnh này, liên tục tiếp cận, nắm bắt nhu cầu ngày càng cao và khắt khe của khách hàng, tiến hành đồng bộ các giải pháp để trang bị những điều kiện cần thiết có thể thỏa mãn được những nhu cầu đó (như liên doanh, liên kết..), các thương hiệu Việt Nam vẫn có cơ hội và khả năng làm "nên chuyện".
“Miếng bánh” thị phần để ngỏ?
Thực tế thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nay chưa đủ khả năng bao sân, do đó sẽ để ngỏ cửa cho một số đại gia trên thế giới tham gia. Thực tế, khi đã quyết định nhảy vào một thị trường mới, cái mà các đại gia nước ngoài mong muốn không phai chỉ là những mẩu bánh thị phần bán lẻ Việt Nam còn chừa lại nhưng phải là phần bánh hợp khẩu vị nhất.
Muốn sống sót và sống khỏe, các thương hiệu bắt buộc phải xác lập định vị rõ ràng để chỉ tập trung "chiều chuộng" một nhóm đối tượng khách hàng có cá tính và nhu cầu cụ thể. Doanh nghiệp nào có ý định "tham lam" thâu tóm hết mọi phân khúc, thì việc phá sản chỉ còn là sớm muộn. Vì vậy, đây không phải là cuộc chiến "xáp lá cà" của tất cả các doanh nghiệp bán lẻ, mà chỉ là những cuộc chiến có quy mô nhỏ hơn của các thương hiệu có cùng một phân khúc. Do đó, nếu các doanh nghiệp Việt Nam phát huy được thế mạnh sân nhà, trung thành với định vị, linh động trong liên kết thì có thể nắm phần lớn của miếng bánh sẽ mang tên "made in VietNam", như điều đã từng xảy ra tại Nhật Bản và Hàn Quốc.
Mở cửa thị trưởng bán lẻ theo lộ trình hội nhập WTO, các nhà bán lẻ Việt Nam đều có những thuận lợi và khó khăn nhất định so với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong "cuộc chiến" này, thế mạnh lớn nhất của các doanh nghiệp trong nước chính là sự am hiểu, thông thuộc tâm lý của người tiêu dùng Việt Nam.
Về khó khăn, ai cũng nhìn thấy, đó là sự yếu kém hẳn so với các đại gia nước ngoài về tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản lý, trình độ công nghệ, sự chuyên nghiệp trong điều hành. Và một thách thức cũng rất đáng lo ngại nữa đó là tâm lý "thích hàng ngoại" của người tiêu dùng Việt Nam, khiến các doanh nghiệp trong nước càng phải "gồng mình" nhiều hơn.
“Ngành công nghiệp bán lẻ”, đến bao giờ?
Câu hỏi "Tới khi nào lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam được gọi là ngành công nghiệp bán lẻ?" thì không biết bao giờ mới có lời đáp. Bởi cho tới nay, kênh phân phối hiện đại chỉ mới chiếm hơn 10% doanh thu của toàn bộ thị trường bán lẻ. Điều này cho thấy sự "để mắt" của người tiêu dùng đến hình thức này chưa phải là nhiều lắm, sự phát triển của ngành này còn rất manh mún và đang trong những bước đi "dò dẫm", chưa thể mạnh dạn gọi tên là một ngành "công nghiệp".
Tuy nhiên, khi các "ông lớn" vào cuộc với các chiến dịch quảng bá thương hiệu bài bản, rầm rộ, những phương thức "chiều chuộng" khách hàng chuyên nghiệp, chắc chắn kênh bán lẻ hiện đại sẽ trở thành "tâm điểm" thu hút sự tập trung của khách hàng, hình thành thói quen mua sắm tại các trung tâm thương mại, siêu thị, đại siêu thị thường xuyên hơn. Khi đó, cả thị trường sẽ bắt đầu hình thành một ngành bán lẻ chuyên nghiệp hơn, xã hội sẽ đầu tư nhiều hơn cả về cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, cải cách chính sách liên quan.
Có lẽ, lúc đó chúng ta mới có thể mạnh dạn thừa nhận một ngành công nghiệp bán lẻ thực sự tại Việt Nam, có thể là khoảng hai năm nữa chăng? Hy vọng là như vậy!
Nguồn:
Tạp chí Thế giới doanh nhân Số lượt đọc:
454
-
Cập nhật lần cuối:
11/12/2008 01:21:45 PM |