Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tư vấn  Tủ sách Doanh nhân  Chia sẻ kinh nghiệm  Triết lý sống  Các khóa học

Sẽ phải liên kết ba "nhà"

Phi Tuấn thực hiện

Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Gửi email  Bản in 
03:05' PM - Thứ hai, 14/12/2009

Đổi mới khoa học công nghệ là một vấn đề sống còn của các doanh nghiệp, thế nhưng tỉ lệ ứng dụng công nghệ của các doanh nghiệp còn rất thấp, trong khi nhà nước hàng năm dành ra hơn 750 tỉ đồng cho các họat động nghiên cứu và triển khai (R&D) nhưng vẫn không được sử dụng.

Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi với phó giáo sư tiến sĩ Trần Quốc Thắng, cán bộ cao cấp của bộ Khoa học Công nghệ, người có nhiều năm gắn bó với các công trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia.

P.V: Xin ông đánh giá đôi nét về tình hình chuyển giao khoa học công nghệ trong nước hiện nay?.

Chúng ta có một đội ngũ làm công tác khoa học hùng hậu từ các trường đại học, viện và trung tâm nghiên cứu. Chúng ta lại có một đội ngũ doanh nghiệp đông đảo, lên tới hơn 400.000 doanh nghiệp. Thế nhưng các nghiên cứu của giới khoa học phần lớn cất trong tủ, và phần lớn các doanh nghiệp hoặc đi mua công nghệ nước ngoài, hoặc giữ lại công nghệ lạc hậu. Đây là một nghịch lý.

Chúng tôi nhận thức được rằng doanh nghiệp chính là trung tâm trong chuyển giao công nghệ. Đổi mới khoa học ứng dụng ở doanh nghiệp là mục đích cuối cùng, nhưng vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng.

Nhiều nhà khoa học đánh giá thị trường khoa học công nghệ của nước ta hiện còn manh mún, nhỏ lẻ. Ông nghĩ gì về điều này?

Thị trường công nghệ việt Nam bắt đầu hình thành, nhưng động lực và điều kiện phát triển chưa nhiều.

Giới doanh nghiệp chưa coi đổi mới công nghệ có tính chất sống còn. Trong số hơn 400.000 doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ chiếm rất ít. Niềm tin của các doanh nghiệp đối với công nghệ trong nước chưa cao, và họ thường chú ý đến công nghệ nước ngoài, dù chưa chắc công nghệ đó thích ứng và phù hợp với điều kiện Việt nam.

Còn về phía các nhà nghiên cứu, tư duy khoa học của các trường, viện và trung tâm nghiên cứu còn xa rời tư duy của các doanh nghiệp, nói cách khác là yêu cầu của doanh nghiệp chưa “gặp” được nhà nghiên cứu.

Sắp tới Bộ Khoa học Công nghệ sẽ tìm cách liên kết ba nhà: nhà nghiên cứu, nhà doanh nghiệp và nhà quản lý bằng cách phát triển một bộ phận trung gian để tìm ra những vấn đề của doanh nghiệp và kiếm những công nghệ phù hợp với doanh nghiệp để tham mưu, tư vấn cho họ.

Ngoài ra còn phải có bộ phận đánh giá công nghệ, định giá công nghệ xem công nghệ đó có xứng đáng, có hiện đại, đưa ra được các sản phẩm phù hợp với các thị trường xuất khẩu hay không.

Là một nhà quản lý nhiều năm gắn với các chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm quốc gia, ông đánh giá gì về hiệu quả của các chương trình này?

Thời gian qua đã có nhiều chương trình trọng điểm quốc gia đưa lại hiệu quả lớn, và được ứng dụng rộng rãi. Chúng ta đã làm chủ công nghệ và chế tạo được các thiết bị nâng hạ siêu trường siêu trọng trong lĩnh vực đóng tàu thủy, xây dựng thủy điện lớn như Sơn La, Lai Châu… hay các lĩnh vực y tế, thủy sản, cơ khí, nông nghiệp, thủy sản…

Các chương trình nghiên cứu về tế bào gốc, công nghệ sinh học có nhiều công trình không thua kém bất kỳ nước nào trong khu vực và trên thế giới.

Đến năm mới thì chúng ta mới có thể đánh giá được toàn diện các kết quả họat động của các chương trình đề tài cấp nhà nước trong giai đoạn 5 năm hay mười năm trong thời gian vừa qua, nhưng bây giờ tôi có thể khẳng định rằng chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.

Một trong những trở ngại lớn để thúc đẩy thị trường khoa học công nghệ chính là tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ. Sắp tới bộ có giải pháp gì để chấn chỉnh vấn đề này?

Vi phạm sở hữu trí tuệ là cái giá phải trả của các nước đang phát triển. Dù rằng ở nước ta công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ trong thời gian qua cũng đã có những tiến bộ nhiều. nhất là cơ sở nền tảng luật phát đã đầy đủ, tuy nhiên tôi nghĩ chế tài xử phạt vẫn chưa đủ mạnh, đội ngũ giám định vẫn còn thiếu.

Chúng tôi nghĩ cần phải đề xuất tăng chế tài xử phạt, và tăng cường thêm lực lượng giám định để bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ cho các nhà khoa học và doanh nghiệp.

Ngoài lực lượng từ các đại học, viện, trung tâm nghiên cứu và các doanh nghiệp, ông nghĩ gì về vấn đề thu hút công nghệ từ giới trí thức Việt Kiều?

Đây không phải là một chính sách riêng của bộ, mà là một chính sách chung của chính phủ: Việt kiều là một bộ phận của Việt Nam. Tuy nhiên khi triển khai cụ thể còn phụ thuộc nhiều vấn đề.

Thứ nhất nhu cầu thực sự của các doanh nghiệp, và sự kết nối của các doanh nghiệp đó với trí thức Việt kiều. Thứ hai là sự chia sẽ của trí thức Việt kiều với công việc của các doanh nghiệp và giới khoa học trong nước. Thứ ba điều kiện cơ sở vật chất hiện nay chưa thực sự đầy đủ nên việc đãi ngộ, lương bổng, chỗ ở cho trí thức Việt kiều vẫn chưa thực sự thỏa đáng để tạo ra một sức hút hấp dẫn với họ. Tôi nghĩ sớm muộn chúng ta cũng phải thay đổi tình hình để thu hút thêm trí tuệ, công nghệ, và vốn của lực lượng này.

Số lượt đọc:  202  -  Cập nhật lần cuối:  14/12/2009 03:04:59 PM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ