Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tư vấn  Tủ sách Doanh nhân  Chia sẻ kinh nghiệm  Triết lý sống  Các khóa học

Văn đàn TG 2008: Trung tâm, ngoại vi và "vùng an toàn"

Thụ Nhân

Vietnamnet
Gửi email  Bản in 
11:04' AM - Thứ tư, 31/12/2008
Thực trạng này chỉ càng nhấn mạnh thêm mức độ thực tế và nhức nhối của cái câu hỏi nhàm tai nhưng không bao giờ lỗi thời về mối quan hệ giữa hội nhập và bản sắc, giữa xu hướng hợp nhất của toàn cầu hóa và nhu cầu duy trì sự đa dạng văn hóa.

Atiq Rahimi (Afghanistan, trái) và Aravind Adiga (Ấn Độ, phải), hai trong số các nhà văn "thế giới thứ ba" thành danh trong năm 2008 nhờ giành giải thưởng của "trung tâm văn chương thế giới" - châu Âu

Câu nói “hay” nhất trong năm 2008 đối với làng văn chương thế giới có lẽ là phát biểu xanh rờn của vị (cựu) thư ký Viện hàn lâm Thụy Điển Horace Engdahl: “Châu Âu vẫn là trung tâm của văn chương thế giới". Và, như để chứng minh rằng mình có cái phẩm chất không thể thiếu của bất cứ bậc trí giả hay chính nhân quân tử nào, bất luận Đông hay Tây, là “ngôn hành hợp nhất”, ngài Engdahl cùng với viện hàn lâm của ngài đã trao giải Nobel năm 2008 cho le Clézio, một nhà văn châu Âu, dẫu cho sự lựa chọn này ngay sau đó đã bị dư luận của văn đàn thế giới, kể cả tại châu Âu, phê phán là không mấy xứng đáng.

Dường như để cố minh chứng cho điều xác tín bất di bất dịch của mình vào cái châu-Âu-là-trung-tâm-thế-giới của mình, ngài Engdahl cao giọng ngợi ca “châu Âu là mảnh đất của những nhà văn lưu vong” bởi đây là “nơi ẩn náu an toàn và đặc biệt tôn trọng tự do sáng tạo” (…) Rất nhiều nhà văn đến từ các quốc gia khác nhau nhưng lại sống và sáng tác ở châu Âu. Bởi chỉ có ở đây, họ mới tìm thấy sự bình yên để viết mà không bị cái chết đe dọa. Làm nhà văn ở châu Á và châu Phi quả là điều nguy hiểm”.

Khi mạnh mồm nói vậy, ngài Engdahl không biết hay dường như/vờ như không biết rằng, tuy đúng là nhiều nhà văn “châu Á, châu Phi” đã thành danh từ khi sang châu Âu và xuất hiện trên văn đàn châu Âu, nhưng không phải ai trong số đó cũng rời khỏi quê hương mình vì lý do lưu vong, và càng không phải bất cứ nhà văn nào sống ở châu Á và châu Phi cũng là điều nguy hiểm.

Sự thiển cận và dốt nát của lời phát biểu này, qua mồm vị thư ký Viện Hàn lâm Thụy Điển đầy đạo cao vọng trọng, khiến người ta không thể không hoài nghi liệu châu Âu có thực sự còn sở hữu khả năng hiểu cái thế giới mà họ vẫn khăng khăng tự nhận là họ rất ư am hiểu, nếu không nói là am hiểu hơn bất kỳ ai khác, hay không.

Ngài Engdahl liệu sẽ nói gì về việc giải Man Booker của Anh đã nhiều năm liên tục được trao cho các nhà văn Ấn Độ như Kiran Desai (2006) hay Aravind Adiga (2008), những người từng sống nhiều năm và/hoặc hiện đang sống tại phương Tây, nhưng có lẽ thật khó mà nói rằng chọn châu Âu vì sống và viết tại Ấn Độ là “nguy hiểm”.

Cũng vậy với giải Goncourt của Pháp.

Tuy rằng, ở mức độ nào đó, người ta có thể đồng ý với ngài Engdahl rằng Atiq Rahimi, nhà văn Afghanistan đoạt giải Goncourt 2008, chắc hẳn sẽ không thể viết cuốn Viên đá đen thần kỳ của mình một cách an toàn nếu sống tại quê nhà mình, nhưng sẽ thật khó tin rằng với Jonathan Littell người Mỹ, Goncourt 2006 với Những kẻ thiện tâm, ngồi ở quê nhà Hoa Kỳ của mình mà viết thì kém an toàn hơn là ngồi viết ở châu Âu.

Điều này chỉ tiếp nối một “truyền thống” trong những năm gần đây, là các giải thưởng ManBooker, Goncourt, Renaudot… liên tục về tay các nhà văn ngoài châu Âu. Đơn cử, giải Renaudot 2006 thuộc về Alain Mabanckou, nhà văn người Congo viết bằng tiếng Pháp.

Ngài Engdahl, và cùng với ngài là một lớp học giả (già?) thủ cựu của châu Âu, cố tình không nhìn thấy rằng việc ngày càng nhiều nhà văn của “thế giới thứ ba” xuất hiện rất thành công trên văn đàn châu Âu, lần lượt “ẵm” hết giải thưởng này đến giải thưởng khác của châu lục già cỗi này (trừ giải Nobel) không phải là dấu hiệu cho thấy “châu Âu vẫn là trung tâm của văn chương thế giới” như ngài Engdahl khăng khăng nghĩ, mà chỉ cho thấy rằng châu Âu nói riêng, phương Tây nói chung, đang ngày càng buộc phải thu hút những tiếng nói khác, những sinh lực khác - từ những vùng khác và khí quyển văn hóa khác - vào mình, để tiếp tục làm giàu chính mình.

Dĩ nhiên mọi vấn đề đều phải nhìn từ hai mặt.

Một mặt, như nhiều người đã nói, văn học châu Âu nói chung, văn học những nước có truyền thống văn chương hàng đầu như Anh và Pháp nói riêng, hiện đang lâm vào tình trạng “thiếu máu”, thiếu sức sống. Hình như sau thế hệ những người khổng lồ cuối cùng thuộc trào lưu Tiểu thuyết mới, nước Pháp không còn sinh ra nổi một “cự nhân” nào ở tầm cỡ Marcel Proust, Jean-Paul Sartre, George Perec, Alain Robbe-Grillet… nữa. Một Michel Houellebecq ngày nay bất quá chỉ là nhà văn hạng nhì so với họ mà thôi. Cũng vậy, nước Anh – cùng với Ireland – trong vài chục thập niên cuối thế kỷ 20 đã không còn khiến nảy nòi những cây đại thụ văn chương cỡ James Joyce hay Samuel Beckett nữa. Vì vậy, các giải thưởng văn chương của những nước này, dù muốn dù không, cũng phải hướng ra những “vùng biên” tức là thế giới thứ ba, nơi đang tiếp tục chứng tỏ một sinh lực văn chương dồi dào không vơi cạn và không ngừng mới mẻ.

Mặt khác, việc nhiều nhà văn Á - Phi chỉ thật sự thành danh trên thế giới từ sau khi đoạt giải thưởng A, B nào đó của châu Âu tiếp tục cho thấy một thực tế: rằng châu Âu, ở mức độ nào đó, vẫn tiếp tục là “trung tâm”, nơi ấn định các chuẩn mực văn chương và có thẩm quyền “chứng thực” giá trị văn chương cho những người viết ở ngoài cái trung tâm đó. Về mặt này, ngài Engdahl không đến nỗi sai.

Nhà văn thế giới thứ ba, dù công khai hay ngấm ngầm, hữu thức hay vô thức, vẫn đang tiếp tục mong chờ sự “chứng thực”, “cấp dấu chất lượng” đó của phương Tây, bởi chỉ khi nào họ được trao giải nào đó của phương Tây và được giới truyền thông phương Tây nói đến nhiều với đủ thứ lời tán tụng, chừng đó họ mới có thể tự tin nói rằng mình là nhà văn “có tiếng tăm trên thế giới”. Vẫn chưa hề có điều ngược lại – nhà văn phương Tây, Anh, Pháp, Đức, v.v. – ngong ngóng chờ đợi cái vị thế “nhà văn thế giới” của mình được chứng thực bằng một giải thưởng văn chương của Hàn Quốc hoặc Singapore.

Sự phân bố và phân biệt “trung tâm-ngoại vi”, “dòng chính-ngoại biên” vẫn đang nghiêng về phía phương Tây. “Dĩ Âu vi trung” vẫn đang tiếp tục là một xu hướng thực tế, nói riêng trong văn chương, dù người ta có muốn thừa nhận nó hay không.

Thực vậy, nhiều nhà văn ở các nước thứ ba đã và đang tiếp tục tìm những con đường ngắn nhất để đến với “trung tâm” và được cái “trung tâm” đó. Cụ thể là, sang phương Tây (bằng cách này hay cách khác), sống ở phương Tây, và viết bằng một ngôn ngữ phương Tây.

Bằng cách đó, những nhà văn Trung Quốc “rặt” – theo nghĩa chỉ sang phương Tây ở tuổi trưởng thành – như Cáp Kim (Ha Jin), Yiyun Li… đã đạt được thành công tương đối đáng kể trên văn đàn phương Tây, kể cả đoạt giải thưởng văn học quốc gia của Hoa Kỳ.

Người ta có thể đặt câu hỏi rất đơn giản: liệu Ha Jin hay Yiyun Li có sẽ được “thừa nhận” ở phương Tây như thế không nếu họ tiếp tục sống tại Trung Quốc và viết bằng tiếng mẹ đẻ?

Cũng vậy, các nhà văn Ấn Độ như Salman Rushdie, Anita Desai, Aravind Adiga, viết bằng tiếng của nước từng đô hộ mình là Anh quốc, đang giành lần lượt hết vinh quang này đến vinh quang khác trên văn đàn “mẫu quốc” xưa kia của mình.

Chắc hẳn họ sẽ không, hoặc khó làm được điều đó nếu viết bằng một trong hơn hai mươi thứ tiếng bản địa Ấn Độ - Hindi, Bengali, Punjabi, Tamil… - như rất nhiều đồng nghiệp và đồng hương của họ.

Thực trạng này chỉ càng nhấn mạnh thêm mức độ thực tế và nhức nhối của cái câu hỏi nhàm-tai-nhưng-không-bao-giờ-lỗi-thời về mối quan hệ giữa hội nhập và bản sắc, giữa xu hướng hợp nhất của toàn cầu hóa và nhu cầu duy trì sự đa dạng văn hóa.

Xét tình hình thế giới về toàn cục, khó có thể nói rằng điều này sẽ thay đổi trong vài năm tới. Và, Việt Nam chúng ta càng dấn sâu hơn vào “sân chơi” thế giới, thì người viết văn Việt Nam càng không thể không quan tâm đến điều đó và có một thái độ-hành động phù hợp trước thực tế đó. Nhà văn chúng ta từ lâu đã không còn là kẻ ngoài cuộc.

Là người sống ở một trong những vùng “ngoại biên” của văn chương thế giới và viết bằng một thứ tiếng rất hiếm người phương Tây biết tới hoặc thậm chí quan tâm tới, nhà văn Việt Nam không thể không tự đặt cho mình câu hỏi đó: làm thế nào để vẫn tiếp tục viết bằng thứ tiếng mang phận “hẩm hiu” đó mà vẫn đạt tới được sự thừa nhận của quốc tế thậm chí dù sự thừa nhận đó không phải là mục tiêu tối hậu của anh? Còn, nếu điều anh muốn nhất là được “thế giới” thừa nhận càng nhanh càng tốt thì liệu anh có áy náy gì không khi quyết định viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp – giả thiết là anh làm được điều đó? Sự thừa nhận đó của “thế giới” – nói chính xác hơn là của phương Tây – có xứng đáng để anh từ bỏ tiếng mẹ đẻ của mình không? Rốt cuộc thì câu hỏi tối hậu của nhà văn không phải anh viết cho ai, mà là vì sao anh viết? Anh viết vì cái gì? Đó là những câu hỏi mà mọi nhà văn đích thực đều phải luôn luôn trăn trở - việc được ai đó trao giải thưởng hay tung hô hoàn toàn không phải là bận tâm của anh.

Có như vậy thì, khi giải thưởng - dù của phương Tây hay của ai đi nữa - đến với anh, nó mới thực sự là giải thưởng có chân giá trị đích thực, vượt ngoài mọi sự phân biệt trung tâm-ngoại vi mà thực chất là hời hợt và ấu trĩ này.

Số lượt đọc:  52  -  Cập nhật lần cuối:  31/12/2008 11:04:28 AM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ