Thương mại toàn cầu hay sự lầm tưởng của lãnh đạo chính trị Lịch sử của những hội nghị thương mại gần đây - từ Seattle tới Doha, Cancun và Hông Kông - đã cho thấy dấu hiệu của hệ thống thương mại toàn cầu đang có vấn đề. Đằng sau hàng loạt sự bất bình là những bằng chứng cụ thể và các giả thuyết, trong đó có cả sai lầm, hữu ý hoặc vô tình, của những nhà lãnh đạo chính trị. Bài viết của Giáo sư Joseph Stiglitz - nhà kinh tế học đoạt giải Nobel 2001. Bằng chứng
Sự sắp đặt kinh tế hiện tại đẩy người nghèo vào chỗ bí hơn. Mức thuế đối với hàng nhập khẩu mà các nước công nghiệp phát triển đặt ra đối với các nước đang phát triển cao hơn 4 lần so với chiều ngược lại.

Trên thực tế, vòng đàm phán thương mại Uruguay đã làm cho các quốc gia nghèo nhất trở nên nghèo hơn. Trong khi các nước đang phát triển bị ép phải mở thị trường của mình và chấm dứt việc trợ giá thì các nước công nghiệp phát triển tiếp tục trợ giá nông nghiệp và giữ vững hàng rào thuế quan đối với những sản phẩm chính của các nền kinh tế đang phát triển.
Chính những cơ cấu thuế quan đang được ký kết đã cản trở các nước đang phát triển có thể tiến dần tới các sản phẩm có giá trị cao hơn - chuyển đổi từ việc sản xuất hàng nông nghiệp sơ chế tới các loại thực phẩm đã được chế biến. Khi mà thuế quan được hạ thấp xuống thì Mỹ lại đẩy mạnh việc sử dụng các biện pháp khác không liên qụan đến thuế quan để bảo hộ nền kinh tế của mình. Các hiệp định thương mại không xóa bỏ bản chất của việc bảo hộ hay sự hăng hái của chính phủ trong việc bảo vệ lợi ích của người sản xuất hay công nhân của mình. Giả thuyết
Sự tự do hóa thương mại sẽ dẫn tới việc phát triển kinh tế, có lợi cho tất cả các bên. Đây là câu nói cửa miệng đang rất phổ biến. Các nhà lãnh đạo chính trị rất hăng say trong tự do hóa thương mại. Những người mà không có cùng quan điểm bị liệt vào hạng chậm tiến, đang ngược lại với lịch sử.
Vậy nhưng có một thực tế rằng, nhiều người dù đã bị toàn cầu hóa làm cho đau đớn song lại nói ngược lại trong những tuyên bố của mình. Hay nói một cách chính xác hơn, việc chỉ ra quá trình "tự do hóa"- qua việc xem xét chi tiết của những hiệp định thương mại- lại thấy rất nhiều cái khác biệt.
Việc Mexico đã trở nên tồi tệ hơn dưới NAFTA (Hiệp định tự do thương mại khối Bắc Mỹ) đã không chứng minh lợi ích của việc tự do hóa. Nếu mà có một hiệp định tự do thương mại thực sự thì nó chắc đã phải dẫn tới sự tăng trưởng bởi vì thị trường lớn nhất của thế giới đã được mở cửa cho Mexico. Nhưng sự tăng trưởng trong một thập kỷ từ khi ký hiệp định còn thấp hơn so với những thập kỷ trước 1980, và những người nghèo nhất của đất nước-những nông dân trồng ngô- chính là những người bị tác động tiêu cực nhất do sự trợ giá của ngô Mỹ.
Bằng chứng của vấn đề này - tính kinh tế của sự tự do hóa thương mại - thực ra phức tạp hơn rất nhiều so với những bức tranh mà các nhà lãnh đạo chính trị đã vẽ ra.
Có những trường hợp sự tự do hóa thương mại đem lại lợi ích to lớn - khi mà có thị trường may rủi vững vàng, tỷ lệ thất nghiệp thấp và khi nền kinh tế đã trưởng thành. Nhưng các nước đang phát triển lại không có những điều kiện này. Nếu nền kinh tế có nhiều công việc thì một người công nhân mất việc có thể nhanh chóng tìm được một công việc khác; và việc chuyển đổi từ những ngành có hiệu suất thấp được bảo hộ tới những ngành có hiệu xuất cao để xuất khẩu sẽ dẫn tới sự tăng trưởng và tăng tiền công.
Nhưng nếu tỷ lệ thất nghiệp cao, một người công nhân mất việc sẽ rơi vào tình trạng không có việc. Việc chuyển đổi từ ngành có hiệu suất thấp, được bảo vệ tới một cái vực thất nghiệp sẽ không dẫn tới sự tăng trưởng mà đẩy mạnh sự nghèo đói. Sự tự do hóa có thể đặt các quốc gia trước những rủi ro lớn, và những nước nghèo- đặc biệt là những người nghèo- không có những sự chuẩn bị để đối mặt với chúng.
Có lẽ điều quan trọng nhất, sự phát triển thành công cũng đồng nghĩa với việc chuyển hóa từ ngành truyền thống, năng suất thấp tới những ngành kinh tế hiện đại với hiệu suất tăng trưởng cao. Nhưng nếu không được bảo hộ, các nước đang phát triển sẽ không thể cạnh tranh trong các ngành kinh tế hiện đại. Họ bị trói buộc vào khu vực phát triển chậm của nền kinh tế toàn cầu.
Hàn Quốc hiểu điều này. 35 năm trước đây, những người ủng hộ tự do thương mại chủ yếu khuyên Hàn Quốc nên tập trung vào việc trồng lúa. Nhưng Hàn Quốc biết rằng cho dù có thành công trong việc nâng cao năng suất sản xuất lúa, họ vẫn chỉ là một nước nghèo. Họ phải tiến hành công nghiệp hóa.
Chúng ta hiểu như thế nào về những công trình nghiên cứu hay được nhắc đi nhắc lại cho rằng các quốc gia tự do hóa thương mại có tộc độ phát triển nhanh hơn? Nhưng bỏ qua hàng loạt những vấn đề về việc thống kê mà hầu hết các nghiên cứu "xuyên quốc gia" đều mắc phải. Chúng đều chỉ ra rằng những quốc gia buôn bán thương mại nhiều phát triển nhiều hơn.
Những nghiên cứu tập trung thẳng vào sự tự do hóa thương mại - hay nói cách khác cái gì sẽ xảy ra khi những quốc gia này bỏ đi những rào cản thuế quan - lại cho rằng bức tranh tự do hóa thương mại sẽ dẫn tới phát triển là rất kém thuyết phục.
Nhưng chúng ta biết rằng những quốc gia trên thế giới đã phát phát triển nhanh nhất: những quốc gia ở Đông Á, và sự tăng trưởng của họ dựa trên nền thương mại xuất khẩu. Họ không theo đuổi chính sách tự do thương mại không giới hạn. Trên thực tế, họ tích cực can thiệp vào thị trường để khuyến khích xuất khẩu, và chỉ bỏ các rào cản thuế quan khi mà xuất khẩu hàng hóa của họ tăng. Họ tránh khỏi những hố sâu mà như đã nói ở trên những cá nhân bị chuyển từ ngành kinh tế năng xuất thấp sang không có năng xuất qua việc duy trì nền kinh tế của mình ở mức gần như không có sự thất nghiệp.
Điểm đáng nói ở đây đó là không có một quốc gia nào tiếp cận tự do hóa thương mại như một khái niệm trừu tượng mà nó có thể hay không có thể theo đuổi vì sự tốt đẹp của thế giới. Mỗi quốc gia đều muốn biết: đối với một quốc gia với một tỷ lệ thất nghiệp và những đặc điểm nhất định, liệu tự do hóa thương mại sẽ đem lại sự phát triển nhanh hơn? Kinh tế và chính trị trong cuộc tranh giành quyền lợi
Nếu như kinh tế phức tạp thì chính trị lại hết sức đơn giản. Những cuộc đàm phán thương mại là chiến trường cho các quyền lợi đặc biệt. Chương trình của họ cũng hết sức rõ ràng: những nhà xuất khẩu muốn người khác phải mở của thị trường; những người sẽ bị đe dọa bởi sự cạnh tranh thì không muốn. Những nhà đàm phán thương mại chẳng quan tâm mấy tới nguyên tắc (mặc dụ họ cố gắng để che giấu vị trí của họ dưới tấm áo khoác nguyên tắc). Họ tập trung vào phiếu bầu và sự đóng góp cho chiến dịch vận động bầu cử.
Ví dụ trong hầu hết các cuộc đàm phán thương mại gần đây, rất nhiều sự chú ý tới sự bảo hộ nền nông nghiệp của các quốc gia phát triển - sự tồn tại của sự bảo hộ là do quyền lực lớn nằm trong tay lĩnh vực kinh tế nông nghiệp này.
Chủ nghĩa bảo hộ như vậy đã trở thành biểu tượng của đạo đức giả của phương Tây trong khi giảng đạo về tự do hóa thương mại lại làm theo một cái khác. Khoảng 25,000 người nông dân Mỹ giàu có, dựa vào sự trợ cấp của chính phủ về bông, chia nhau khoảng 3 đến 4 tỷ đô la Mỹ một năm, làm tăng sản xuất và hạ giá thành.
Sự thiệt hại mà sự trợ cấp kia gâp ra đối với khoảng 10 triệu người nông dân trồng bông đang sống thoi thóp ở Châu Phi (dưới sa mạc Sahara) là rất lớn. Vậy mà Mỹ có vẻ sẵng sàng đặt lợi ích của 25,000 nông dân của mình lên trên hệ thống thương mại toàn cầu và cuộc sống của hàng triệu người ở các quốc gia đang phát triển. Cũng dễ hiểu nếu như những người ở khu vực đang phát triển trở nên giận dữ.
Sự giận dữ này càng trở nên mãnh liệt bởi thái độ rất đáng nghi ngờ khi "quảng cáo" những đề nghị của họ. Ví dụ, tại một hội nghị ở Hồng Kông, một đại diện thương mại của Mỹ đề nghị xóa bỏ các rào cản về nhập khẩu bông nhưng lại từ chối bất cứ cái gì về sự trợ cấp của mình. Nhờ có sự trợ cấp này mà bông sợi Mỹ có thể xuất khẩu.
Khi mà một quốc gia có thể xuất khẩu một mặt hàng nào đó thì sự nhập khẩu mặt hàng đó vào cũng không gây ra nhiều sự khác biệt. Mỹ- với sự phô trương lòe loẹt của mình - đã đưa ra một đề nghị chẳng có giá trị gì đối với các quốc gia đang phát triển và nhiếc móc họ đã không nhận lấy lời đề nghị "hào phóng" này.
Trong nước, chính quyền Bush có thể làm việc vất vả để cung cấp thuốc giá rẻ cho người dân. Trong các cuộc đàm phán thương mại, Mỹ lại đứng về phe các nhà sản xuất thuốc yêu cầu việc bảo vệ luật bản quyền, thậm chí việc bảo vệ này sẽ dẫn tới cái chết không cần thiết của hàng trăm nghìn người không đủ tiền mua thuốc với giá độc quyền và cũng không được cứu chữa nếu như không có thuốc sinh học Nếu đàm phán nằm trong tay các bộ trưởng?
Trên thực tế có một chương trình thoáng hơn của việc tự do hóa thương mại (vượt lên trên hẳn nông nghiệp) có thể giúp các quốc gia đang phát triển. Nhưng tầm quan trọng của thương mại quá lớn để nó nằm trong tay của các bộ trưởng thương mại.
Nếu cơ chế của thương mại toàn cầu phản ảnh những giá trị chung thì các cuộc đàm phán về các điều khoản không thể nào để trong tay các bộ trưởng bộ thương mại, phần lớn trong số họ đều có ơn nghĩa với các tập đoàn kinh tế và các quyền lợi đặc biệt hơn bất kỳ các bộ khác.
Trong vòng đàm phán cuối cùng, các bộ trưởng thương mại tranh luận về các điều khoản của hiệp ước tài sản trí tuệ. Hiện nay, nó là một chủ đề được nhiều người quan tâm nhất trong xã hội.
Với các đặc quyền quá trớn về luật bản quyền rất có thể dẫn tới việc độc quyền nâng cao giá thành và ngăn cản các phát minh mới. Các quốc gia nghèo sẽ không có những thuốc thang để cứu sống mạng người. Đây cũng chính là vấn đề cả Cơ quan về chính sách công nghệ và kỹ thuật và Hội đồng cố vấn kinh tế đều phản đối các điều khoản của TRIPS (quyền sở hữu trí tuệ) trong vòng đàm phán Uruguay. Nó chỉ đại diện cho quyền lợi của các công ty thuốc và nền công nghiệp giải trí của Mỹ (không phải là nơi làm ra trí thức quan trọng nhất), và những người trong giới học thuật. Chắc chắn nó không phản ánh quyền lợi của người tiêu dùng ở các nước phát triển hay không phát triển.
Nhưng những cuộc đàm phán này được diễn ra một cách bí mật ở Geneva. Đại diện thương mại của Mỹ (cũng như các bổ trưởng thương mại khác) không phải là chuyên gia về quyền sở hữu trí tuệ; ông ta chỉ nhận những khóa đào tạo ngắn hạn từ các công ty sản xuất thuốc, và nhanh chóng học cách hùa theo quan điểm của họ. Hiệp định này chỉ phản ánh quan điểm một chiều. Con đường cho thay đổi
Nhiều cải cách khác trong cơ cấu của các cuộc đàm phán thương mại sẽ rất có thể dẫn tới một kết quả tốt đẹp hơn. Điều đầu tiên cần phải thay đổi con đường cơ bản mà qua đó các cuộc đàm phán thương mại được tiến hành. Hiện tại, nó là một cuộc đàm phán rõ ràng. Mỗi một quốc gia đều cố gắng dành được các điều kiện tốt đẹp nhất cho các công ty của mình. Điều này hoàn toàn trái với pháp chế mà theo đó các chính sách chung ở tất cả lĩnh vực khác được xây dựng.
Nói một cách chung nhất, chúng ta muốn biết đâu là mục tiêu của mình, và làm cách nào tốt nhất để đạt được chúng. Tất nhiên xung quanh các chủ đề này đều có các cuộc đàm phán. Và thông thường sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về mục đích và làm thế nào để đạt được chúng một cách tốt nhất.
Nếu chúng ta bắt đầu các cuộc đàm phán thương mại từ xuất phát điểm như thế này (tranh luận và điều tra) chúng ta có thể thấy được vòng đàm phán phát triển thật sự như thế nào.
Nếu coi nhiệm vụ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) như một khung luật pháp thể hiện các nguyên tắc về sự công bằng xã hội và tính hiệu quả - giống như chúng ta chúng ta nghĩ về các luật lệ trong nước và các điều khoản quản lý hành động kinh tế- thì nó sẽ giúp chúng ta nghĩ tới việc cải cách khác là cần thiết. Chúng ta chỉ đơn thuần cần nghĩ về cách mà chúng ta muốn nâng cao các quá trình dân chủ trong nước và pháp chế qua việc tăng cường tính linh hoạt và cải cách hành chính.
Tính linh hoạt là cốt lõi, vì vậy có thể tranh luận cởi mở hơn về cái được của các đề xuất khác nhau và có cơ hội để kiểm soát sự lạm dụng các quyền lợi đặc biệt. Rõ ràng nếu như có sự linh hoạt và tranh luận công khai thì ta đã có thể tránh được những khoản quá đáng về việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong vòng đàm phán Uruguay.
Ngày càng nhiều các quốc gia đòi hỏi phải có tiếng nói trong các cuộc đàm phán thương mại, nhưng cũng thường có sự luyến tiếc về hệ thống trước đây mà trong đó 4 cộng sự (Mỹ, Châu Âu, Canada và Nhật Bản) có thể quyết định luật chơi.
Có nhiều phàn nàn rằng do có nhiều thành viên mà hệ thống thương mại toàn cầu hiện tại không hoạt động được. Tuy nhiên chúng ta đã học cách giải quyết vấn đề này trong các bối cảnh khác bằng cách sử dụng nguyên tắc đại diện.
Chúng ta cần phải hình thành một hội đồng quản trị bao gồm đại diện của các thành viên từ các “nhóm” khác nhau - nhóm của các quốc gia chậm phát triển nhất, các quốc gia xuất khẩu nông nghiệp v.v… Mỗi một đại diện phải đảm bảo các mối quan tâm của các thành viên khác trong nhóm mình phải được tính đến. Một hệ thống như thế sẽ chắc tốt hơn rất nhiều so với các bước tiến hành hiện tại trong “phòng xanh” nơi một số quốc gia nhất định được xếp vào ghế (trong phòng xanh) để đàm phán toàn bộ hay một phần của sự thỏa thuận.
Và cuối cùng, các cuộc đàm phán thương mại cần phải tập trung hơn. Các vấn đề như quyền sở hữu trí tuệ không nên có mặt trong vòng đàm phán Uruguay. Đã có một cơ quan quốc tế làm việc về các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Đó không chỉ là việc các bộ trưởng thương mại không được chuẩn bị chu đáo về các vấn đề liên quan, và do đó họ bị rơi vào sự ảnh hưởng không đáng có từ những mối quan tâm đặc biệt. Điều này đã giật dây các bộ trưởng thương mại. Mở rộng chương trình nghị sự cũng đặt các quốc gia đang phát triển vào thế bí bới vì họ không có nguốn sức lực để tham gia vào mặt trận lớn có nhiều vấn đề.
Tuy nhiên, những thay đổi quan trọng nhất không phải là những thay đổi về tổ chức mà thay đổi về quan điểm. Phải có một nỗ lực từ tất cả các quốc gia suy luận về thể loại nào của luật lệ và điều khoản quốc tế sẽ đóng góp vào hệ thống thương mại toàn cầu công bằng, hiệu quả và thúc đẩy phát triển.
Mười lăm năm trước đây, có nhiều sự lạc quan về lợi ích của sự toàn cầu hóa và thương mại sẽ đem lại cho tất cả các quốc gia. Nó đã đem lại lợi ích to lớn cho một số quốc gia; nhưng không phải cho tất cả. Một vài quốc gia đã trở nên tồi tệ hơn. Phát triển đã đủ vất vả. Một chế độ buôn bán không công bằng sẽ làm cho nó càng khó hơn.
Cải cách WTO sẽ không đảm bào việc chúng ta sẽ có được một chế độ thương mại toàn cầu công bằng và hiệu quả, nhưng nó sẽ củng cố các cơ hội mà thương mại và toàn cầu hóa sẽ xích lại gần hơn với tiềm năng nâng cao đời sống cho tất cả mọi người. Vài nét về tác giả Joseph Stiglitz
Giáo sư Joseph Stiglitz, sinh năm 1943, người Mỹ.
Sau khi lấy bằng tiến sĩ tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) năm 1967, ông trở thành giáo sư của trường Đại học Yale năm 1970. Năm 1979 ông giành được giải thưởng John Bates Clark, giải thưởng hai năm một lần do Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ trao tặng cho những nhà kinh tế tuổi dưới 40 có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực này.
Ông từng dạy và làm việc tại nhiều trường đại học danh tiếng khác như: Đại học Princeton, Stanford, MIT, Drummond, Oxford.
Hiện giờ, ông là giáo sư tại Đại học Columbia ở New York. Năm 2001, ông đoạt giải Nobel về kinh tế.
Hai trong số những công trình nổi bật nhất của ông là cuốn “Toàn cầu hóa và những điều bất bình của nó” (Globalization and Its Discontents, 2001, đã được dịch ra 35 thứ tiếng với hơn 1 triệu bản) và “Để cho toàn cầu hoá thành hiện thực” (Making Globalization Work, 2006).
Ông từng là thành viên Hội đồng Cố vấn Kinh tế Hoa Kỳ từ năm 1993 đến 1995, giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng này từ năm 1995 đến năm 1997. Từ năm 1997 đến 2000, ông là Chuyên gia Kinh tế trưởng và Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB). Với cương vị này, ông là một trong số ít người có được góc nhìn cận cảnh về sự vận hành của nền kinh tế thế giới với chiếc áo khoác ‘toàn cầu’.
Lịch sử đã nhanh chóng khẳng định sự ảnh hưởng to lớn của giáo sư Joseph Stiglitz đối với nền kinh tế chính trị trên thế giới từ cuối thập niên 90 đến nay. Giải thưởng Nobel kinh tế năm 2001 cũng chỉ là một trong rất nhiều các giải thưởng, huân chương ông được các quốc gia, các viện nghiên cứu, các tổ chức trao tặng trên toàn thế giới.
Nhờ các công trình nghiên cứu của ông, những người ‘thường dân’ có thể nhìn thấy những lỗ hổng quan trọng trong bánh quay của sự toàn cầu hóa. Đặc biệt những phê bình của ông đối với 2 tổ chức tài chính thế giới-Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đã làm thức tỉnh nhiều quốc gia đang lên men say với những biến chuyển trên chính trường hiện tại. Số lượt đọc:
97
-
Cập nhật lần cuối:
08/10/2008 01:39:13 PM |