Từ hậu quả của khủng hoảng kinh tế, nhiều người lại đang bắt đầu đặt câu hỏi: các trường kinh doanh ấy đã dạy gì cho học viên trong những thập niên gần đây? Các trường kinh doanh hiếm khi tự mình đặt ra những câu hỏi kiểu này.
Hơn hai mươi năm trước, nhà xã hội học Robert Nisbet đã miêu tả sự xuất hiện của một loại nhân vật điển hình bắt đầu nắm giữ các tổ chức then chốt về chính trị, kinh tế và xã hội ở Mỹ. Dựa trên miêu tả của Samuel Johnson về những "cá thể tự do" - thành phần được ví là "ký sinh", "sống ngoài vòng xã hội", Nisbet đã gọi loại "nhân vật" mới này là "những cá thể tự do".
Các quy tắc ứng xử như công bằng hay bác ái được các thế hệ đúc kết từ thực tiễn xã hội không hề ràng buộc những người này. Họ không trung thành với các thể chế xã hội như quốc gia, công ty thậm chí cả với nghề nghiệp của mình, họ thiếu ý thức "trách nhiệm đạo đức", quen thói "lá mặt lá trái với người khác trong những mối quan hệ chân thành và trách nhiệm". Đằng sau cái vẻ thân thiện ấy, những mối quan hệ này cũng chỉ gắn chặt vào lợi ích cá nhân[1] của họ mà thôi.
Từ những gì Nisbet đã viết, rất nhiều người trong giới quan sát chính trường đã phát hiện ra loại nhân vật có cùng đặc điểm - từ khái niệm "tính hiện đại lỏng" (liquid modernity) của Zygmunt Bauman cho đến cách phân biệt những cam kết kinh tế mang tính hệ thuộc với những cam kết kinh tế mang tính giao dịch thuần tuý[2] của Gegrge Soros. Ngày nay, sự sụp đổ kinh tế và làn sóng phanh phui các hành vi bẩn thỉu vốn đã tồn tại cả thập kỷ từ vụ Enron đến AIG đều chỉ ra rằng có quá nhiều "cá thể tự do" đã lọt vào những chốn linh thiêng của chủ nghĩa tư bản Mỹ.

Khi đã lợi dụng được lòng tin và bằng những mánh lới của mình, "những kẻ tự do" - những "chuyên gia bậc thầy" với tâm lý "lật đổ" trong cả ngành tài chính - ngân hàng lẫn các cơ quan điều hành và các ban quản trị, đã cơ cấu lại tận gốc bộ máy tài chính, quản trị và kỹ thuật của nền kinh tế Mỹ.
Rõ ràng là có nhiều yếu tố đã sản sinh và trao quyền cho các "cá thể tự do", nhất là chế định quản lý lỏng lẻo của chính phủ dẫn đến những rủi ro do khinh suất; chế độ đãi ngộ còi cọc kích thích những hành vi và suy nghĩ thiển cận, công tác quản trị và giám sát doanh nghiệp yếu kém đã làm suy yếu các hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất - nguồn đáng kể tạo ra các "cá thể tự do" ấy là loại hình cơ sở đào tạo một số lượng lớn các lãnh đạo doanh nghiệp ưu tú nhất: các trường kinh doanh trực thuộc các đại học.
Từ hậu quả của khủng hoảng kinh tế, nhiều người lại đang bắt đầu đặt câu hỏi: các trường kinh doanh ấy đã dạy gì cho học viên trong những thập niên gần đây? Các trường kinh doanh hiếm khi tự mình đặt ra những câu hỏi kiểu này.
Joel Podolny, cựu hiệu trưởng Trường quản lý Yale, đã viết trên tạp chí Harvard Business Review số ra tháng 6/2009: "Vấn đề làm nhức nhối công tác đào tạo quản trị kinh doanh đang lan toả sâu rộng chính là ở chỗ mọi người đã tin rằng các trường kinh doanh là có hại cho xã hội vì cổ xuý tính ích kỷ, các hành vi đi ngược lại nguyên tắc ứng xử, thậm chí là những hành vi phạm pháp của những học viên tốt nghiệp". Thực vậy, đây là những điều có thể xác tín.
Tuy nhiên, để hiểu được nguyên nhân, cần có sự chiêm nghiệm về vấn đề mấu chốt: "Tại sao các đại học lại cứ phải có các trường đào tạo kinh doanh?"
Nguồn gốc của ngành đào tạo kinh doanh
Đối với những ai còn lạ lẫm với mô hình trường kinh doanh hiện đại của Mỹ thì vấn đề này cũng na ná như câu hỏi tại sao các đại học lại có các trưởng khoa, nhà ăn hoặc có các bộ phận phát triển. Các trường kinh doanh giờ đây là diện mạo khả kính và đáng tin cậy trong phân hiệu của các đại học như những toà nhà hành chính theo kiến trúc Gothic hoặc các khu liên hợp thể thao hiện đại. Người ta cũng có thể băn khoăn tại sao đền thờ Taj Mahal lại có nhiều mái vòm hoặc tại sao người ta lại thuê các nhà điêu khắc để vẽ bích hoạ trên trần nhà nguyện Sistine Chapel.
Thực tế, mô hình trường kinh doanh thuộc các đại học là một thành công rực rỡ. Hàng năm, có hơn 146.000 bằng Thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA) được cấp tại Mỹ, tăng hơn gấp đôi so với năm 1981 và gấp nhiều lần so với con số của năm 1955 với 3.200 bằng. Từ chỗ chỉ là "hiện tượng của nước Mỹ", ngày nay, bằng MBA đã được cấp tại hơn 100 quốc gia và đang trở thành một thứ "bằng cấp toàn cầu".
Mở rộng đào tạo quản trị kinh doanh bậc đại học là nhằm hướng tới một quy mô rộng lớn hơn nhờ vào những bằng cấp sẽ được trao sau khi hoàn thành khoá đào tạo. Tấm bằng MBA do một trường kinh doanh nổi tiếng cấp là hành trang tốt nhất để có được công việc ổn định, thu nhập cao trong các lĩnh vực như tư vấn, ngân hàng, đầu tư góp vốn tư nhân và các quỹ đầu tư bảo hộ.

Những giáo sư của các trường kinh doanh giờ đây có thể tạo được dấu ấn trước công chúng như những học giả có uy tín hàng đầu trong nhiều lĩnh vực truyền thống. Họ không chỉ viết bài cho những tạp chí học thuật có tên tuổi mà đảm nhiệm vị trí trong ban lãnh đạo các công ty, hành nghề với tư cách là những chuyên gia tư vấn được trả lương hậu hĩnh và đưa ra những nhận định có giá (chứ không hẳn là có giá trị) đối với giới truyền thông. Những hoạt động của họ được các mạnh thường quân khả kính như Eli Broad và Michael Bloomberg tài trợ ngày càng nhiều hơn. Những người này đã hào phóng tài trợ cho các trường kinh doanh về cơ sở vật chất và học bổng.
Đây là điều chưa từng xảy ra. Chức năng của giáo dục đại học trong đời sống nước Mỹ đã từng chỉ bó hẹp trong việc đào tạo những thanh niên dòng dõi quý tộc để cung cấp cho các ngành nghề truyền thống như luật, y và thần học. Nhưng trong thế kỷ XVIII và XIX, hàng loạt cải cách đã mở rộng ngành nghề của các trường đại học Mỹ. Năm 1787, Sắc lệnh Tây Bắc đã mở rộng quy mô giáo dục đại học thông qua việc thiết lập hệ thống đại học và cao đẳng quốc lập. Đạo luật Morril 1862 công nhận nông nghiệp và "kỹ thuật cơ khí" là những ngành phù hợp để giảng dạy tại các trường đại học quốc lập mới được thành lập. Hoạt động tài trợ cho giáo dục đại học được phân bổ thiết thực hơn càng được đẩy mạnh sau Nội chiến. Đây là thời kỳ mô hình trường đại học định hướng nghiên cứu kiểu Đức được du nhập vào Mỹ trong những năm 1870 và 1880 để tạo ra các trường đại học - "sản phẩm lai tạo" [3] đặc biệt thành công và mang "màu sắc Mỹ".
Các trường tư thục hàng đầu như Đại học Harvard và Đại học Pennsylvania đã mạnh mẽ áp dụng mô hình trường đại học định hướng nghiên cứu mới của Mỹ với ba nhiệm vụ chính là giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Khả năng xung đột giữa định hướng đào tạo nghề nghiệp và định hướng học thuật thuần tuý tại những trường này là lớn nhất. Và mô hình trường kinh doanh trực thuộc các đại học đã trở thành tâm điểm của xung đột ấy.
Những người ủng hộ quản trị kinh doanh phải chính thức trở thành một ngành học danh giá trong trường đại học đã đứng về một phía. Sự ủng hộ này có được, trước hết là từ nỗi quan ngại trong "Kỷ nguyên Tiến bộ" đối với sự xuất hiện các công ty đại chúng. Đội quân doanh nhân tiên phong, gồm cả giới học thuật và các lãnh đạo doanh nghiệp cấp tiến, đã nhận thấy quyền lực ngày càng gia tăng của các tập đoàn hùng mạnh lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thách thức to lớn đối với trật tự xã hội hiện thời.
Thực vậy: việc bán cổ phiếu ra công chúng đã dẫn đến quá trình tách quyền sở hữu và kiểm soát các tập đoàn lớn; ranh giới giữa sở hữu tư nhân và ảnh hưởng của công chúng không rõ ràng, kết quả là cổ đông, người lao động và nhà nước đều đòi quyền quản lý những tập đoàn kinh tế mới và hùng mạnh này.
Một nhóm người mới nổi lên từ những xung đột đau đầu nhức óc này là các nhà quản lý. Nhà quản lý làm việc cho các chủ doanh nghiệp nhưng cũng phải liên hệ qua lại với người lao động và các cổ đông. Vì thế, những người khởi xướng thành lập trường kinh doanh thuộc các đại học nhấn mạnh: ngành quản trị tiên tiến phải trở thành một ngành nghề được đào tạo trong hệ thống đại học.
Để làm được như vậy, lãnh đạo các trường quản trị kinh doanh phải tự gắn mình với ba định chế được xem là trụ cột của trật tự xã hội được hình thành trong Kỷ nguyên Tiến bộ đó là: khoa học, các ngành nghề và các trường đại học định hướng nghiên cứu kiểu mới của Mỹ. Thông qua mạng lưới liên minh ấy, bằng cách đưa quản trị trở thành một ngành nghề theo đúng nghĩa của từ này, trường quản trị kinh doanh thuộc các đại học muốn đảm bảo chắc chắn rằng những tập đoàn lớn được vận hành để phục vụ các lợi ích xã hội.
Đã nổ ra tranh luận về quan điểm cho rằng quản trị nên trở thành một bộ môn nghiên cứu học thuật (có bản chất khoa học thuần tuý và không tham gia hoạt động kinh doanh) hoặc trở thành một ngành nghề tương tự các ngành nghề truyền thống như luật và y. Các trường kinh doanh phải khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống đại học. Họ thực hiện điều này bằng cách theo đuổi chiến lược với ba mũi nhọn bao quát ba sứ mạng về khoa học, tính chuyên nghiệp và nhiệm vụ của trường đại học định hướng nghiên cứu.
Trước hết, họ đã cố chứng minh quản trị thực sự là một khoa học có nguồn gốc từ các bộ môn truyền thống. Thứ hai, họ đề xuất nâng tầm quản trị lên vị trí của một ngành nghề đích thực bằng việc xây dựng hệ thống quy phạm và tri thức của ngành. Cuối cùng, họ cam kết phụng sự ba sứ mệnh của trường đại học định hướng nghiên cứu kiểu mới của Mỹ đó là giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Ba mục tiêu đó đã trở thành cơ sở cho "dự án chuyên nghiệp hoá" trong đào tạo quản trị kinh doanh của Mỹ, một dự án thu hút sự tham gia của lãnh đạo các trường quản trị kinh doanh từ khi trường Wharton được thành lập ở Penn năm 1881 đến trước thềm Chiến tranh Thế giới II.
Tuy nhiên, ngay sau khi chiến tranh kết thúc, dự án chuyên nghiệp hoá, vốn chỉ gặt hái được chút ít thành công, đã bắt đầu được tháo gỡ. Sự bùng nổ trong đào tạo quản trị kinh doanh thời hậu chiến do GI Bill khởi xướng đã chứng kiến sự ra đời của hàng chục trường quản trị kinh doanh mới, dẫn đến sự thay thế các chuẩn đào tạo. Hiệp hội các trường cao đẳng kinh doanh Mỹ (AACSB) do hiệu trưởng các trường quản trị kinh doanh thuộc các đại học hàng đầu như Harvard, Chicago và Dartmouth thành lập. Hiệp hội này là công cụ thiết yếu của dự án chuyên nghiệp hoá và nhanh chóng trở thành cơ quan đại diện cho dự án này.
"Đòn chí mạng" kết liễu dự án chuyên nghiệp hoá vào cuối thập niên 1980, khi tờ Business Week công bố xếp hạng các chương trình MBA của Mỹ dựa chủ yếu vào quan điểm của nhà tuyển dụng và học viên năm thứ 2. Ngay sau đó, các ấn phẩm khác cũng nối đuôi nhau đưa ra xếp hạng, tập trung vào các yếu tố như mức lương khởi điểm của học viên mới tốt nghiệp, sự hài lòng của học viên về cơ sở vật chất và chất lượng làm việc khi đầu quân cho nhà tuyển dụng - tất cả những lĩnh vực ấy không mảy may ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo học viên mà chỉ giúp hình thành và nâng cao nhận thức đối với người xin việc, nhà tuyển dụng và đội ngũ cựu học viên.
Hiệu trưởng các trường quản trị kinh doanh, những người luôn quan tâm đến môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động của mình, đã ngay lập tức biện hộ về thứ tự xếp hạng trước các cơ quan công bố, nhiều chuyên gia đào tạo quản trị kinh doanh bắt đầu bỏ thói giả ngây giả ngô rằng mình không hề đào tạo ra một sản phẩm thương mại. Đây là sự chấm dứt quan niệm của Kỷ nguyên Tiến bộ về đào tạo quản trị kinh doanh như một phương tiện để quản lý và kiểm soát quyền lực của các tập đoàn nhằm phục vụ lợi ích của công chúng.
Có một số nguyên nhân dẫn đến quá trình "phi chuyên nghiệp hoá" các trường quản trị kinh doanh, trong đó phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của các quỹ từ thiện Mỹ khi những tổ chức hùng mạnh và có nhiều đối tác hùn vốn này dấn thân vào lĩnh vực đào tạo quản trị kinh doanh. Trong những năm 1950, Quỹ Ford (một tổ chức mới nổi) cùng với Tập đoàn Carnegie đã khởi đầu sự nghiệp cải tổ các trường quản trị kinh doanh của Mỹ. Mặc dù có mục đích vô cùng tốt đẹp, song sự can thiệp của Quỹ Ford nói riêng đã gây ra những hệ luỵ trầm trọng cho tương lai của các trường quản trị kinh doanh và thảm hoạ cho dự án chuyên nghiệp hoá.
Để giải quyết vấn đề chất lượng không đồng đều giữa các trường quản trị kinh doanh, Quỹ Ford đã tập trung nỗ lực cải thiện năng lực trí tuệ của ngành đào tạo quản trị kinh doanh hướng tới hai mục tiêu chính: tăng cường tính "khoa học" trong công tác nghiên cứu và chương trình giảng dạy tại các trường quản trị kinh doanh bằng cách đưa hai tiêu chí này vào phân tích định lượng; nâng cao "tính chuyên nghiệp" của đội ngũ giảng dạy tại các trường quản trị kinh doanh bằng cách tuyển dụng những nhân sự từ các chuyên ngành có liên quan mật thiết, chủ yếu thuộc lĩnh vực kinh tế học.
Bằng việc tập trung vào một số ít "trung tâm đào tạo nhân tài", ban quản lý Quỹ Ford đã tiên lượng chính xác các biện pháp và phương pháp đã triển khai tại các trường quản trị kinh doanh nổi tiếng sẽ thẩm thấu sang các trường khác. Tuy nhiên, họ đã hiểu sai kết quả của quá trình thẩm thấu ấy.
Trong lớp học của các trường quản trị kinh doanh, những khái niệm mới của môn kinh tế học (nay đã được củng cố vững chắc về phương pháp luận và tách khỏi quy phạm truyền thống của môn kinh tế-chính trị) đã bắt đầu thống trị. Có ảnh hưởng đặc biệt đó là lý thuyết chi phí giao dịch (transaction-cost theory) và lý thuyết đại diện (agency theory).
Giờ đây, dưới ánh sáng của các học thuyết kinh tế, các nhà quản lý được nhìn nhận là những người đại diện dễ bảo của các cổ đông. Vì động cơ kinh tế họ phải gắn chặt với lợi ích của các cổ đông. Vì được "nhồi sọ" nếp tư duy quan niệm nhà quản lý là "lính đánh thuê" cho nên ngày càng có nhiều học viên tốt nghiệp các trường quản trị kinh doanh nổi tiếng chọn những công việc không phải là quản lý mà làm chuyên gia tư vấn quản trị, giám đốc ngân hàng đầu tư và quản lý danh mục đầu tư.
Rốt cuộc, quá trình "phi chuyên nghiệp hoá" ngành đào tạo quản trị kinh doanh đã gây ra phản ứng. Vào những năm 1990, đội ngũ giảng viên khả kính của các trường quản trị kinh doanh bắt đầu chỉ trích định hướng điều chỉnh phạm vi kiến thức trong các trường quản trị kinh doanh và mối quan hệ giữa phạm vi kiến thức và quá trình giảng dạy để đào tạo ra những nhà quản lý tương lai.
Những chỉ trích này chĩa mũi nhọn vào những giảng viên đã theo đuổi các chương trình nghiên cứu chuyên sâu về những đề tài xa vời với thực tiễn quản trị kinh doanh, hệ quả là công tác dạy - học trong các trường quản trị kinh doanh ngày càng xa rời thực tế [4]. Henry Mintzberg, tác giả của cuốn Managers Not MBAs (MBA: tốt gỗ hơn tốt nước sơn - 2004) đã chỉ ra rằng với vỏn vẹn một hoặc hai năm kinh nghiệm làm việc thì một học viên bình thường ngành quản trị kinh doanh hệ chính quy khó mà nắm vững hết các khái niệm được giảng dạy trong các trường quản trị kinh doanh.
(còn nữa)
[1] Nisbet, The Present Age: Progress and Anarchy in Modern America (Harper & Row, 1988).
[2] Một phân tích tương tự của Richard Sennett thuộc phái cánh tả "The Culture of the New Capitalism" (Nxb Yale University Press, 2006).
[3] Xem Itamar Rabinovich, "The American Advantage", The American Interest (May/June 2009).
[4] Warren Bennis và James O'Toole, "How Business Schools Lost Their Way", Tạp chí Harvard Business Review (số tháng Năm-2005). Số lượt đọc:
224
-
Cập nhật lần cuối:
26/05/2010 04:25:31 PM |