Tri thức chỉ là phương tiện, sử dụng tri thức có hiệu quả mới là mục đích.
Những quy luật chi phối tri thức khác với những quy luật chi phối thế giới vật thể. Của cải hữu hình hư hoại dần theo lẽ sinh, trị, dị, diệt nhưng với thời gian, tri thức cứ tăng lên mãi. Tôi tặng anh một vật, tôi không còn vật ấy nữa nhưng tôi truyền đạt tri thức cho người khác thì tri thức đó được nhân lên. Vật phẩm càng dùng càng hao mòn giá trị, tri thức càng được sử dụng giá trị càng tăng.
Hãy bắt đầu bằng khai thác cái “của kho vô tận biết ngày nào vơi” này. Tri thức có nhiều cấp độ, nhiều dạng. Nhận biết từ cuộc sống đời thường, gom góp và chắt lọc, ta có kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm của cộng đồng tích lũy qua nhiều thế hệ, từ những hiểu biết cụ thể đến những giá trị lắng đọng trong tầng sâu văn hóa, góp phần tạo nên nền tảng tinh thần xã hội. Do phương thức tồn tại rời rạc, tản mạn, phần lớn lại là “tri thức ẩn” không thể hiện dưới dạng văn bản mà có trong đầu, hiện ra trong cung cách làm việc, ứng xử của các bậc trưởng lão nên tri thức kinh nghiệm rơi rụng khá nhiều.
Cấp độ cao là tri thức lý luận khoa học, thành tựu rực rỡ của văn minh nhân loại, gia tài khổng lồ vô giá mà con người có lý trí đã sáng tạo ra và tích lũy đươc. Đới với những nước kém phát triển, công việc trước hết là học tập, tiếp tục khoa học, nếu không thì cứ loay hoay tìm cách chế tạo và thử nghiệm cái bánh xe trong khi phát minh này đã có từ xưa! Từ thời Minh Trị, để duy tân, Nhật Bản không ngại tốn phí công sức và tiền của tổ chức biên dịch hầu hết những công trình khoa học có giá trị của phương Tây ra tiếng dân tộc mình. Ý thức tầm quan trọng của nâng cao dân trí, từ đầu thế kỷ trước, chí sĩ Phan Châu Trinh đã nhiệt thành cổ xúy việc này. Cần thiết không phải là con cá, cũng không phải là chiếc cần câu, mà là biết cách thức đánh bắt nuôi trồng thủy sản.
Khối lượng tri thức lớn, mức độ hấp thụ của mỗi người lại có hạn, nên phải lựa chọn. Nhà trường cũng chỉ có thể trang bị cho học sinh tri thức nền cơ bản, điều cần hơn là dạy cách thức tìm kiếm, xử lý, vận dụng và sáng tạo tri thức. Tri thức không chỉ gia tăng mà còn không ngừng đổi mới, loại trừ cả những quan niệm một thời được coi là chân ly. Biết học cũng là biết quên vậy!
Tri thức chỉ là phương tiện, sử dụng tri thức có hiệu quả mới là mục đích. Khi nói tri thức là sức mạnh thì sức mạnh của tri thức chỉ được thể hiện thông qua hoạt động thực tiễn. Sự học ngày xưa tạo ra tầng lớp kẻ sĩ thuộc làu kinh sử, nghĩ ra được những câu thơ đối nhau chan chát, kể cũng thông minh nhưng nếu trí thông minh ấy hướng đến sáng tạo khoa học kỹ thuật và ứng dụng vào sản xuất và đời sống thì lợi ích lớn hơn nhiều.
Học để đi thi, học để có bằng cấp còn hại hơn cả lối học “chi, hồ, giả, dã”. Sử dụng tri thức không chỉ có con đường áp dụng tri thức vào thực tiễn, mà còn có con đường thực tiễn vươn lên tầm khoa học. Biết bao công nhân, nông dân, doanh nhân dám nghĩ, dám làm, nhạy bén nắm bắt kỹ thuật, công nghệ, phương thức làm ăn mới, tạo năng suất, chất lượng, hiệu quả cao trong sản xuất, kinh doanh. Lại có cả doanh nghiệp tư nhân thành lập viện nghiên cứu trong doanh nghiệp của mình cũng như xuất hiện công ty trong trường đại học làm thu hẹp khoảng cách giữa khoa học và sản xuất; ranh giới giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa sản xuất tinh thần và sản xuất vật chất dần bị xóa bỏ. Nhân tố tạo ra lợi thế cạnh tranh không còn là đất đai, vốn hay công nghệ nữa mà là khả năng nắm giữ tri thức và sử dụng hiệu quả đến đâu.
Khai thác và sử dụng tri thức là quản trị cái đã có, quan trọng hơn là sáng tạo ra tri thức mới. Ai cũng có năng lực sáng tạo trí tuệ và địa bàn thể hiện sáng tạo nhiều nhất là hoạt động thực tiễn. Nhưng tri thức không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà nó có quy luật phát triển tương đối độc lập; từ tri thức sản sinh tri thức và như vậy đội ngũ tri thức là chủ lực thực hiện sáng tạo tri thức. Nguồn:
Người lao động Số lượt đọc:
831
-
Cập nhật lần cuối:
06/01/2009 04:22:29 PM |