"Cuộc khủng hoảng kinh tế vừa rồi nên được xem như hệ quả không thể tránh khỏi. Đó là cái giá chúng ta phải trả cho những chính trị gia tự cao và quá tự tin khi xử lý vấn đề thị trường. Việc ra sức đổ lỗi cho thị trường thay vì nhận lỗi về mình là điều không thể chấp nhận được".
Đại gia bị qua mặt
Thay vào đó, những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ “ngôi nhà giấy” đã bắt đầu, theo nghĩa đen thì giống như vấn đề ngân sách của từng hộ gia đình vậy. Những khoản thế chấp nhà nhỏ bé có thể dễ dàng qua mặt các “đại gia” tài chính. Họ đã không những không thể ngăn cản nguy cơ sụp đổ thị trường, mà còn để cho con quái vật khủng hoảng hoành hành dữ dội.
Vì vậy, cả những người khờ dại và những người sáng suốt ở London cũng như Washington đều lúng túng khi cuộc khủng hoảng được chứng minh là có mầm mống ngay tại nước họ. Tuy nhiên, không phải tất cả đều như vậy.
Khi Vince Cable xuất bản cuốn “Bão tài chính: Khủng hoảng kinh tế thế giới và ý nghĩa” (The Storm: The World Economic Crisis and What It Means) hồi đầu năm, tác giả đã chọn những từ ngữ và tựa đề với thái độ phê phán mạnh mẽ. Mở đầu cuốn sách đi sâu vào phân tích cuộc khủng hoảng đã làm chao đảo ngân hàng Northern Rock của Anh.
Giá trị của Keynes
Ông Cable, phát ngôn viên kinh tế của Hạ Viện Anh, là người từ lâu bày tỏ nghi ngờ “sự bùng nổ Brown”. Ông đã cảnh báo rằng cần siết chặt nợ đối với thị trường tài sản thế chấp.
Thủ tướng Anh Brown, người đã từng được coi là một tấm gương điển hình về sự thận trọng, khôn ngoan trong chính sách kinh tế, giờ đây cần phải biết ơn ông Cable vì đã ủng hộ một cách thích đáng cho chiến lược kích thích kinh tế theo trường phái Keynes, ở Anh cũng như ở Mỹ.
Lý do nào đã khiến tên tuổi của John Maynard Keynes được nhắc tới và gây nhiều tranh cãi như vậy trong cuộc khủng hoảng hiện nay? Dù ông đã là một nhà kinh tế vĩ đại trong thời đại của mình, nhưng thời kỳ đó đã qua lâu rồi. Ông sinh năm 1883, đúng năm Karl Marx qua đời. Cha mẹ và người anh trai duy nhất của ông tất cả đều sống tới hơn 90 tuổi nhưng Keynes đã qua đời năm 1946 ở tuổi 62 sau khi chịu nhiều áp lực từ những công việc trong chiến tranh.
Ông mới chỉ được thấy bước đi khởi đầu cho kỷ nguyên của kinh tế quốc tế hai năm trước đó, khi Hiệp định Bretton Woods ra đời vào năm 1944. Đây là những chuyển động ban đầu để dẫn đến sự ra đời của WTO.
Nếu còn sống, ông bây giờ đã 126 tuổi. Ông nổi tiếng về khả năng đổi mới tư duy. Chưa có ai ít bị ràng buộc bởi những quan điểm chính thống như Keynes, và ông luôn sẵn sàng từ bỏ những ý tưởng cũ - bao gồm cả của chính mình - khi thấy những điều mà ông cho là tốt hơn. Sau khi mất, Keynes đã trở thành một học thuyết kinh tế được nhiều người nghiên cứu kế thừa.
Có thể nói, bánh xe của thời gian đã trở lại, và có lý do rất rõ ràng. Sự phục hưng và tái phát hiện Keynes là một trong những sản phẩm phụ tốt của cuộc khủng hoảng kinh tế. Thổi đi lớp bụi của hơn 70 năm trên cuốn “Lý thuyết Tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, chúng ta tìm thấy một cách nhìn mới mang tính thời đại, như trong một số đoạn ông nói về Wall Street. "Tình hình sẽ là nghiêm trọng khi doanh nghiệp trở thành bong bóng trên một vực xoáy của đầu cơ" - ông viết.
Keynes vẫn có thể trao đổi với chúng ta trong vai trò một nhà lý luận. Khả năng phân tích nền tảng của nhà kinh tế xuất sắc này về các thiếu sót của một thị trường tự do đã cho chúng ta cái nhìn sâu sắc do ông đưa ra, và những diễn biến liên quan trong một năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của ông. Quan điểm của Keynes sẽ giúp chúng ta tìm ra những phương thuốc hữu hiệu để khôi phục thị trường và huy động sức mạnh của thị trường để phục hồi kinh tế.
Những phân tích của Keynes về sự sụp đổ của thị trường đã không được công bố rộng rãi cho tới khi Lý thuyết Tổng quát của ông được giới thiệu năm 1936. Khi đó, Tổng thống Mỹ Franklin Delano Roosevelt, đang ứng cử cho nhiệm kỳ thứ hai, đã mở cuộc tranh luận với Bộ trưởng Tài chính Mỹ về việc cân đối ngân sách ngay trong thời kỳ kinh tế đình trệ.
Phải mất vài năm (cùng với những trải nghiệm thực tế), Franklin D. Roosevelt mới bị thuyết phục và chấp nhận một điều: thà chịu đựng thâm hụt ngân sách còn hơn để tình trạng thất nghiệp trở nên tồi tệ.
Khó có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng của học thuyết Keynes đối với chính sách Kinh tế Mới (New Deal) của Tổng thống Franklin D. Roosevelt nhằm thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái. Tuy nhiên, từ lâu trước khi đưa ra Lý thuyết Tổng quát, Keynes đã chỉ ra rằng trong một thế giới không hoàn thiện, không nên để các nguyên tắc của thị trường tự do thuần khiết ngăn cản chúng ta theo đuổi những kế sách thực dụng để có được những giải pháp phù hợp với thực tiễn. (Điều đó có thể được thấy trong chính sách của Tổng thống Franklin D. Roosevelt).
Liệu hiện nay chúng ta có rút ra điều gì tốt hơn từ học thuyết của Keynes? Đừng vội cho rằng tất cả các nhà lãnh đạo thế giới sẽ lập tức tìm đến Keynes ngay khi họ thấy bóng ma suy thoái này. Những vấn đề như quan điểm riêng, thành kiến ý thức hệ, có thể tác động đến cách nhìn nhận cuộc khủng hoảng và gây phản ứng khác nhau.
Thủ tướng Canada Stephen Harper, người vốn là một nhà kinh tế học hàn lâm có quan điểm bảo thủ, hiển nhiên đã sai khi phát biểu vào thời điểm cuối tháng 8/2008 rằng: "Mọi người đang nói đến một cuộc suy thoái về mặt kỹ thuật". Sau đó, vào thời điểm tháng 10, khi cuộc khủng hoảng đang lan rộng trên thị trường tài chính, nhà lãnh đạo này vẫn nhận định: "Có một số cơ hội lớn để mua vào trên thị trường chứng khoán, đó là hệ quả của toàn bộ cơn hoảng sợ này".
Tổng thống Cộng hòa Séc Vaclav Klaus trả lời tờ Financial Times vào tháng 1/2009 rằng: "Cuộc khủng hoảng kinh tế này nên được xem như hệ quả không thể tránh khỏi, và vì vậy, chỉ là cái giá chúng ta phải trả cho những chính trị gia tự cao và quá tự tin khi xử lý vấn đề thị trường”. Ông nhấn mạnh: "Họ ra sức đổ lỗi cho thị trường thay vì nhận lỗi về mình. Đó là điều không thể chấp nhận được".
Đến nay, quan điểm của cả hai nhà lãnh đạo trên đều đã “mềm” xuống so với trước, một phần là do áp lực từ sự đồng thuận cần đạt được trong nhóm các quốc gia phát triển và mới nổi (G-20). Theo Bộ tưởng Tài chính Anh Alistair Darling: "Phần nhiều những gì Keynes đã viết vẫn còn ý nghĩa."
Trong khi các cuộc tranh luận kinh tế quốc tế đang diễn ra, mọi người trên thế giới đặc biệt chú ý đến nước Mỹ, nơi Tổng thống Obama lên nắm quyền cùng với chính phủ mới của ông. Người ta kỳ vọng sẽ được thấy những giải pháp “đến từ Mỹ". Một trăm ngày đầu cầm quyền của ông Obama trôi qua với một gói kích thích kinh tế và những dấu hiệu báo trước về các khó khăn trong cải cách lĩnh vực chăm sóc y tế mà ông gặp phải sau đó.
Có thể nhiều người không nhận ra sự khác biệt về quan điểm trong chính sách đối phó với cuộc khủng hoảng giữa một bên là Anh-Mỹ và một bên là mô hình châu Âu. Anh và Mỹ là hai nước đã dẫn đầu trong việc đưa ra những biện pháp kích thích tài chính như phản ứng thích hợp đối với cuộc suy thoái kinh tế này, và chấp nhận thâm hụt ngân sách. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo châu Âu công khai bày tỏ sự hoài nghi đối với chính sách trên.
Tiêu xài quá mức
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ Financial Times vào cuối tháng 3/2009, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã cho rằng những khó khăn kinh tế nảy sinh vì "chúng ta đã đã sống vượt quá khả năng của mình", đồng thời cảnh báo cuộc khủng hoảng xảy ra không phải vì chúng ta chi tiêu quá ít, mà vì chúng ta đã chi tiêu quá nhiều nhằm tạo ra tăng trưởng. Điều đó là không bền vững".
Chỉ một tuần sau đó, tại hội nghị thượng đỉnh G-20 ở London, mô hình Anh-Mỹ đã bị Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy chỉ trích. Thủ tướng Anh Brown (với tư cách một lãnh đạo châu Âu) cũng chia tay với sự “đồng thuận Washington", nhưng lại cho biết Anh (với vai trò của mình trong phe Anh-Mỹ) sẽ “đi cùng với thế giới” trong những chính sách kích thích kinh tế.
Tuy vậy, sự có mặt của vị Tổng thống mới của nước Mỹ đã mang đến một bầu không khí khá gắn kết. Đối với Tổng thống Obama, đối thủ thực sự của ông là ở trong nước, nơi những biện pháp kích thích kinh tế và cải cách chính sách chăm sóc sức khỏe bị chỉ trích.
Thực ra, khác biệt giữa những gì người Mỹ và người châu Âu đang thực hiện để đối phó với suy thoái ít hơn nhiều so với ta nghĩ. Nếu tính trên GDP, khối lượng kích thích tài chính ở Đức tương đương với Canada và lớn hơn ở Anh, tuy vẫn nhỏ hơn so với Mỹ.
Những người tin vào ưu điểm của mô hình đối phó khủng hoảng Anh-Mỹ cho đến gần đây vẫn dự đoán rằng hai nền kinh tế Anh và Mỹ, vốn là những quốc gia đầu tiên lâm vào khủng hoảng, là những nước đầu tiên thoát ra khỏi suy thoái. Tuy nhiên, những con số gần đây cho thấy có lẽ không phải như vậy.
Tại Mỹ, hiện nay những người trong phe đối lập cho rằng các khoản chi kích thích kinh tế không hiệu quả và không cần thiết. Trong khi đó, những tin tức từ Pháp và Đức cho thấy trong quý II/2009, hai nền kinh tế này đã đạt được nhiều tiến bộ. Trước những thông tin này, Tạp chí Phố Wall đã chỉ trích gay gắt đường lối của chính phủ Obama, người bị đánh giá là hô hào giỏi nhưng lại quá kém trong kích thích kinh tế. Theo Keynes, mọi chuyện không phải chỉ đơn giản như vậy. Số lượt đọc:
130
-
Cập nhật lần cuối:
08/10/2009 05:16:54 PM |