Trang chủ   Giới thiệu   Hỗ trợ   Liên hệ 
Home
 
Thị trường
 
Lãnh đạo
 
Quản lý
 
Kinh doanh
 
Kiến thức
 
Giao lưu
 
Cuộc sống
 
Mua sắm
 
Tủ sách Doanh Nhân
  Tư vấn  Tủ sách Doanh nhân  Chia sẻ kinh nghiệm  Triết lý sống  Các khóa học

Cần đánh giá khách quan về đầu tư nước ngoài

GS. TSKH Nguyễn Mại

Vietnam Investment Review
Gửi email  Bản in 
04:00' PM - Thứ sáu, 29/08/2008

Kỳ I: Thành tựu là mặt chủ đạo

Nếu lấy ngày 29/12/1987, ngày Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam làm cột mốc trong việc mở cửa để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thì đã hơn 20 năm nước ta trải qua các giai đoạn thăng trầm, có đủ thực tế để nhận thức và hành động đúng trong việc đề ra chính sách, định hướng, cũng như đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, các vấn đề đặt ra cần giải quyết đối với hoạt động FDI.

Sau làn sóng FDI thứ nhất từ năm 1991 đến năm 1997, hiện đang diễn ra làn sóng FDI thứ hai được bắt đầu từ năm 2005, sau khi nước ta trải qua giai đoạn suy thoái FDI kéo dài từ năm 1998 đến năm 2002 và được hồi phục vào năm 2003 và năm 2004. Làn sóng mới được đặc trưng bởi những yếu tố sau.

-Thứ nhất, nhiều nhà đầu tư đã được cấp phép và chuẩn bị thực hiện những dự án lớn trong các ngành kinh tế quan trọng. Nếu như ở làn sóng FDI thứ nhất, bình quân vốn đầu tư/dự án là 8 triệu USD, thì 7 tháng đầu năm 2008 là 68 triệu USD/dự án. Đã có những dự án lập kỷ lục về vốn đầu tư như dự án Khu liên hợp gang thép và cảng biển của Tập đoàn Formosa (Đài Loan) tại Hà tĩnh, giai đoạn 1 dự kiến hoàn thành vào năm 2010, có vốn đầu tư 7,879 tỷ USD; nếu tính cả giai đoạn 2 lên đến 15 tỷ USD.

-Thứ hai, nhiều tập đoàn đa quốc gia với tiềm lực kinh tế dồi dào đang và sẽ đầu tư vào các ngành và lĩnh vực được kỳ vọng tạo ra động lực tăng trưởng của đất nước. Dự án xây dựng Khu đô thị đại học tại TP.HCM có vốn đầu tư 3,5 tỷ USD của Công ty Berjaya Leisure (Malaysia); dự án liên doanh xây dựng Tổ hợp hóa dầu tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có vốn đầu tư 3,77 tỷ USD của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty hóa chất Việt Nam và Thai Plastic.

-Thứ ba, nhiều dự án vừa được cấp giấy phép đã làm lễ động thổ triển khai nhanh xây dựng công trình để đưa vào hoạt động trong vòng vài ba năm. Đặc trưng này vừa nói lên tiềm năng thực sự của các nhà đầu tư; họ đã có sẵn vốn tự có và sắp xếp xong vốn tín dụng trước khi có giấy phép; vừa thể hiện lòng tin của họ đối với triển vọng trung hạn của nền kinh tế nước ta, sẵn sàng bỏ vốn đầu tư vào một nước đang trong tình trạng lạm phát cao, bất ổn về thị trường tiền tệ, để đón đầu sau hai hoặc ba năm tình hình kinh tế trở lại ổn định, sẽ tăng trưởng nhanh với thị trường đầy tiềm năng.

Nên vui hay “vừa mừng vừa lo lắng không nguôi” như có người đã viết(?). Là một người đã có nhiều năm trực tiếp gắn bó với công tác quản lý và tư vấn về FDI, tôi cho rằng, thật đáng vui mừng khi nước ta là điểm đến đầy hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư tiềm năng của thế giới. Không dễ gì có được tình huống như vậy nếu dân tộc Việt Nam không chứng minh cho các nhà đầu tư quốc tế thấy được “sức sống mới” như cách nói của một chuyên mục VTV mà tôi ưa thích; nếu Chính phủ Việt Nam không bằng nhiều cải cách liên tục về thể chế, hành chính, tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi. Đã có không ít bài báo nước ngoài viết về lực hấp dẫn đối với FDI ở Việt Nam hiện nay, kể cả gọi nó là thanh nam châm FDI.

Người ta thường nói, giống như tấm huân chương, cái gì cũng có hai mặt, mặt phải của tấm huân chương rất đẹp, mặt trái thì sần sùi. Thu hút FDI cũng có mặt trái của nó. Đã có những lời cảnh báo của nhiều nhà nghiên cứu có tầm cỡ thế giới đối với các nước đang phát triển và chuyển đổi sang kinh tế thị trường như nước ta rằng, nếu Chính phủ không có những biện pháp phòng ngừa và đối phó khi mở cửa thị trường và thu hút vốn đầu tư quốc tế thì khó tránh khỏi nguy cơ tiềm ẩn mất ổn định kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa, nhất là lĩnh vực tài chính, tiền tệ.

Nhưng các chuyên gia quốc tế cũng khuyên các nước này nên coi trọng FDI, vì đó là nguồn vốn đầu tư mà phần lớn là của tư nhân, khá ổn định và có tính lan tỏa rộng khắp đối với đầu tư trong nước, nhất là đầu tư tư nhân. Nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp dân tộc hợp tác với các doanh nghiệp quốc tế, nếu các doanh nghiệp dân tộc có chiến lược phát triển đúng, chủ động tham gia từng bước vào chuỗi giá trị toàn cầu, để tiến tới hình thành những tập đoàn kinh tế lớn, các công ty xuyên quốc gia của đất nước thì FDI là nguồn vốn quốc tế có lợi cho các nước đang phát triển.

Thực tế hơn 20 năm thu hút FDI của nước ta cũng đã chứng minh rằng, chủ trương thu hút FDI với Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 đã được dư luận quốc tế lúc đó đánh giá là thông thoáng nhất trong khu vực, là chủ trương rất đúng của Đảng và Nhà nước. Tuy đã xảy ra những khiếm khuyết mang tính cá biệt trong hoạt động FDI, như gây ô nhiễm môi trường đến mức báo động đã được báo chí đề cập như trường hợp Hyundai - Vinashin tại Khánh Hòa; trốn thuế, lậu thuế, đình công, bãi công, nhiều dự án chậm hoặc không được triển khai…; nhưng thành tựu rất ấn tượng và là mặt chủ đạo của hoạt động FDI.

Tính từ đầu năm 1998 đến tháng 7 năm 2008, đã có 46,452 tỷ USD vốn từ nước ngoài đưa vào Việt Nam; tùy theo từng thời kỳ, chiếm tỷ trọng co dãn từ 16,2 đến 29,9% vốn đầu tư xã hội; đóng góp từ 16 đến 24,2% GDP; chiếm khoảng 45% kim ngạch xuất khẩu, tạo ra việc làm cho 1,38 triệu lao động trực tiếp (chưa kể hàng triệu lao động gián tiếp), tạo ra nhiều ngành, nghề mới, du nhập những công nghệ hiện đại, phương thức kinh doanh và quản lý tiên tiến; góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của nước ta.

Kỳ II: Hai cách tiếp cận về FDI

Khi nghiên cứu về FDI quốc tế đối với những nước đang trong thời kỳ tiếp nhận từ nước ngoài là chủ yếu, còn đầu tư ra nước ngoài mới bắt đầu với quy mô nhỏ như nước ta, thì việc đặt ra vấn đề “Chiến lược FDI tất nhiên phải phù hợp và phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” cần được lưu ý đến đặc điểm của nguồn vốn quốc tế này.

Lý thuyết đầu tư quốc tế có rất nhiều, nhưng lợi nhuận cận biên là một căn cứ quan trọng để nhà đầu tư lựa chọn nước và dự án đầu tư. Họ có thể thực hiện dự án đã được lựa chọn nếu có sự gặp nhau - hài hòa giữa lợi ích của nhà đầu tư với lợi ích của nước nhận đầu tư. Không ai ép buộc được nhà đầu tư nếu họ không thu được lợi nhuận cần có. Do vậy, có hai cách tiếp cận vấn đề đối với việc thực hiện chiến lược kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia.

Cách thứ nhất, Chính phủ xét thấy dự án đầu tư không phù hợp với Chiến lược đó về địa bàn, ngành và lĩnh vực thì từ chối tiếp nhận FDI.

Cách thứ hai, Chính phủ với tư cách là người điều hành kinh tế vĩ mô, áp dụng những biện pháp khuyến khích đầu tư trong nước, sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện những dự án thuộc ngành, lĩnh vực và địa bàn mà hiện tại chưa hấp dẫn đối với FDI, chấp nhận dự án do nhà đầu tư nước ngoài đề nghị để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững; tất nhiên có chọn lọc chứ không phải bằng mọi giá. Phần lớn các nước đang phát triển áp dụng cách thứ hai, vì có lợi cho việc thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội trong điều kiện nguồn lực trong nước còn có hạn.

Hơn 20 năm vừa qua, nước ta cũng lựa chọn dự án FDI theo cách tiếp cận thứ hai. Ví dụ, miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực xã hội có tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc phi lợi nhuận thì Chính phủ phải đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, phát hành trái phiếu, vốn ODA và các nguồn vốn viện trợ khác; phải chấp nhận FDI ở các thành phố lớn, các tỉnh có điều kiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm; dù làm tăng thêm chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng.

Cũng có những lo ngại chính đáng về đầu tư khai thác tài nguyên, vì “không gì tai hại và thiệt thòi cho nền kinh tế và các thế hệ mai sau bằng việc xúc tài nguyên đi bán thô với giá rẻ…”. Nhưng cũng cần thấy được chủ trương đúng đắn của Chính phủ đối với một vài loại tài nguyên, điển hình là dầu khí, không những trước đây, mà hiện tại vẫn tiếp tục ký các hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí với các nhà đầu tư quốc tế, bởi trên thực tế điều đó là cần thiết để Petro Việt Nam tiếp cận nhanh hơn công nghệ thăm dò, khai thác của các tập đoàn hùng mạnh của thế giới.

Trên thực tế, FDI ngành dầu khí đã đóng góp đáng kể cho xuất khẩu, thu ngân sách, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý. Có lẽ vấn đề đối với lĩnh vực dầu khí nằm ở chỗ khác. Nước ta đã có hơn hai thập kỷ xuất khẩu dầu thô, nhưng chưa có công nghiệp lọc và hóa dầu nên giá trị gia tăng của ngành này khá thấp, phần lớn nguyên liệu được sản xuất từ dầu mỏ vẩn phải nhập khẩu; mà đáng ra nếu thực hiện đúng Chiến lược phát triển đất nước thì nhà máy lọc dầu đầu tiên đã đi vào vận hành từ năm 1998, sau đó vài ba năm đã có khu có khu công nghiệp hóa dầu chí ít cũng cung ứng được một nửa nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp.

Cũng có kiến nghị nên xem xét việc có quá nhiều dự án FDI về sân golf, khu đô thị, khu resort, khu công nghiệp, cảng biển, nhà máy lọc dầu…; không phù hợp với quy hoạch phát triển lâu dài của nước ta. Có lẽ tác giả của các kiến nghị như vậy cần nghiên cứu nghiêm túc hơn thực trạng các dự án trên đây ở nhiều địa phương, để có cách tiếp cận đúng đắn hơn. Trong phạm vi một bài báo tôi không thể đề cập đến từng ngành, lĩnh vực được, chỉ xin nói về sân golf thôi.

Thời gian vừa qua đã có tình trạng một số chính quyền địa phương cấp phép vô tội vạ việc xây dựng sân golf, cả ở trên đất trồng lúa rất có hiệu quả. Chính phủ đã kịp thời ngăn chặn tình trạng đó. Với xu hướng gia tăng giá lương thực trên thế giới thì nước ta cần tận dụng lợi thế của việc trồng và xuất khẩu lúa gạo, cũng như bảo đảm an ninh lương thực của đất nước, do đó việc nghiêm cấm xây dựng sân golf trên đất trồng lúa là cần thiết.

Tuy vậy, cũng tránh tình trạng từ cực đoan này sang cực đoan khác; sân golf có thể và nên được phép xây dựng đến mức hợp lý ở những vùng đồi thấp; xin đừng coi như là sự xa xỉ, mà để tạo lập môi trường sinh sống cho các nhà đầu tư quốc tế và cả những người Việt Nam có mức sống cao.

Kỳ III: Quản lý nhà nước về FDI phải phù hợp với thông lệ quốc tế

Chính phủ đã phân cấp toàn diện cho chính quyền tỉnh, thành phố đối với FDI, đó là chủ trương đúng đắn; tuy vậy, vấn đề gắn với chủ trương đó là tạo ra các điều kiện bảo đảm để nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước trong hoạt động FDI.

Hiện đang có nhiều dự án lớn không chỉ có tầm quan trọng đối với các địa phương, mà còn đối với cả nước, đòi hỏi phải được các chuyên gia đủ trình độ thẩm định dự án để bảo đảm lợi ích quốc gia trong việc thu hút FDI. Đáng tiếc là nhiều địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu như vậy, nhưng lại không mời các chuyên gia cuả trung ương làm tư vấn, hổ trợ. Sự dễ dãi trong việc thu hút và thẩm định những dự án lớn, nếu không sớm được khắc phục có thể gây ra hậu quả không đáng có.

Trong khi phân cấp cho địa phương, các Bộ cần chú ý đến cân đối ngành, liên ngành, vùng lãnh thổ, hướng dẫn các địa phương bảo đảm các cân đối đó của nền kinh tế quốc dân, để thực hiện được hệ thống mục tiêu tăng trưởng bền vững.

Nước ta đã hội nhập sâu rộng với thế giới, do vậy quản lý nhà nước đối với FDI phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính phủ đã có những chỉ đạo theo hướng này trong việc hình thành thể chế, áp dụng các quy định về hải quan, xuất nhập khẩu, các thủ tục hành chính. Tuy vậy, còn nhiều công việc cần được cải cách mạnh mẽ hơn.
Về môi trường, nhiều dự án phải có “Báo cáo đánh giá tác động môi trường” và được thẩm định của Bộ tài nguyên và môi trường. Nhìn qua thì có vẻ rất chặt chẽ để bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường.

Thực tế thì ngược lại, nhà đầu tư lo làm sao được thông qua Báo cáo đó, bởi vì họ nhận ra rằng, sau đó ít có thanh tra, giám sát tình trạng môi trường của các cơ quan nhà nước. Vụ Vinashin- Huyndai là một điển hình cho việc buông lỏng quản lý nhà nước về môi trường. Các nước khác dành trọng tâm vào thanh tra, giám sát thường xuyên các dự án FDI (cả đầu tư trong nước); nếu vi phạm bất kỳ tiêu chuẩn môi trường nào đếu được xử lý nghiêm minh, kể cả đình chỉ hoạt động.

Về nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng; nước ta đã từng đề ra đủ thứ quy định, về hình thức văn bản có vẻ rất chặt chẽ, nhưng trên thực tế chỉ cần nhà đầu tư biết cách “ làm luật” đều vượt qua dễ dàng. Các nước khác không đưa ra quy định kiểu như vậy; mà coi việc nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng là quyền của nhà đầu tư; cơ quan nhà nước giám sát, kiểm tra khi thiết bị đã được vận hành, nếu vi phạm tiêu chuẩn môi trường, không bảo đảm an toàn lao động thì buộc nhà đầu tư phải hiệu chỉnh, nếu vẫn không đạt được tiêu chuẩn nhà nước thì buộc phải đóng cửa.

Hiện nay, Tổng cục Thống kê và Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đang công bố hai con số của vốn đăng ký và vốn thực hiện FDI. Vốn đăng ký là vốn đầu tư ghi trên giấy phép của từng dự án, chỉ có ý nghĩa về thống kê để biểu thị xu hướng phát triển của FDI trong từng thời kỳ; hoàn toàn chưa có bất kỳ tác động nào đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước.

Vốn thực hiện là vốn đã được nhà đầu tư chi để xây dựng nhà xưởng, vận hành bộ máy quản lý và vốn lưu động cho kinh doanh. Trong vốn thực hiện, khoảng 15% là vốn của bên Việt Nam, chỉ có 85% là của các nhà đầu tư quốc tế; đó là con số được thống kê là vốn FDI của mỗi nước.

Đáng tiếc đã có sự hiểu nhầm về vốn FDI. Có ông Bộ trưởng lý giải về nguyên nhân nhập siêu năm 2007 là do vốn đăng ký FDI tăng gấp đôi năm trước, lên 21 tỷ USD(!). Thực tế vốn thực hiện FDI năm 2007 đạt 8,03 tỷ USD, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước ta chỉ có 6,7 tỷ USD. Không nên lấy con số 21 tỷ USD vốn đăng ký chưa thực hiện để gán cho nó trách nhiệm gây ra nhập siêu.

Việc tổng hợp tình hình hoạt động FDI trong toàn quốc đang gặp khó khăn và thiếu chính xác do nhiều địa phương và ban quản lý khu công nghiệp không báo cáo kịp thời và thường xuyên với Cục Đầu tư nước ngoài.
Đã đến lúc, nước ta nên làm theo thông lệ quốc tế, chỉ công bố con số vốn thực hiện do các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước ta từng quý, từng năm thông qua hai nguồn chủ yếu là ngân hàng và hải quan.

Ngân hàng là kênh chuyển ngoại tệ từ nước ngoài vào nước ta; hải quan là kênh nhập khẩu thiết bị, máy móc, vật tư để triển khai dự án. Cần có quy định của Chính phủ về việc các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam và Tổng cục hải quan có nhiệm vụ báo cáo định kỳ số liệu thống kê vốn thực hiện FDI cho Tổng cục Thống kê và Cục Đầu tư nước ngoài. Không nên quá chú trọng vốn đăng ký, bởi vì chỉ là tiềm năng; càng không thể lấy vốn đăng ký để phân tích hoạt động kinh tế.

Trong điều kiện Chính phủ coi mục tiêu kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ trung tâm trong năm nay và có thể cả của năm 2009, đầu tư từ ngân sách nhà nước và của doanh nghiệp nhà nước được cắt giảm đáng kể; đầu tư tư nhân mà phần lớn là của doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp khó khăn do lãi suất tín dụng quá cao, thì làn sóng FDI thứ hai là sự bổ sung quan trọng cho tăng trưởng trong trung hạn và dài han.

Hy vọng năm nay vốn FDI thực hiện đạt được khoảng 12-14 tỷ USD, bằng 1,5-1,7 lần năm 2007 thì có thể bù đắp được con số vốn đầu tư trong nước bị sụt giảm, góp phần sớm ổn đinh tình hình kinh tế, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng trong những năm tiếp theo.


Thành tựu là mặt chủ đạo

Nếu lấy ngày 29/12/1987, ngày Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam làm cột mốc trong việc mở cửa để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thì đã hơn 20 năm nước ta trải qua các giai đoạn thăng trầm, có đủ thực tế để nhận thức và hành động đúng trong việc đề ra chính sách, định hướng, cũng như đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, các vấn đề đặt ra cần giải quyết đối với hoạt động FDI.

Sau làn sóng FDI thứ nhất từ năm 1991 đến năm 1997, hiện đang diễn ra làn sóng FDI thứ hai được bắt đầu từ năm 2005, sau khi nước ta trải qua giai đoạn suy thoái FDI kéo dài từ năm 1998 đến năm 2002 và được hồi phục vào năm 2003 và năm 2004. Làn sóng mới được đặc trưng bởi những yếu tố sau.

-Thứ nhất, nhiều nhà đầu tư đã được cấp phép và chuẩn bị thực hiện những dự án lớn trong các ngành kinh tế quan trọng. Nếu như ở làn sóng FDI thứ nhất, bình quân vốn đầu tư/dự án là 8 triệu USD, thì 7 tháng đầu năm 2008 là 68 triệu USD/dự án. Đã có những dự án lập kỷ lục về vốn đầu tư như dự án Khu liên hợp gang thép và cảng biển của Tập đoàn Formosa (Đài Loan) tại Hà tĩnh, giai đoạn 1 dự kiến hoàn thành vào năm 2010, có vốn đầu tư 7,879 tỷ USD; nếu tính cả giai đoạn 2 lên đến 15 tỷ USD.

-Thứ hai, nhiều tập đoàn đa quốc gia với tiềm lực kinh tế dồi dào đang và sẽ đầu tư vào các ngành và lĩnh vực được kỳ vọng tạo ra động lực tăng trưởng của đất nước. Dự án xây dựng Khu đô thị đại học tại TP.HCM có vốn đầu tư 3,5 tỷ USD của Công ty Berjaya Leisure (Malaysia); dự án liên doanh xây dựng Tổ hợp hóa dầu tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có vốn đầu tư 3,77 tỷ USD của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty hóa chất Việt Nam và Thai Plastic.

-Thứ ba, nhiều dự án vừa được cấp giấy phép đã làm lễ động thổ triển khai nhanh xây dựng công trình để đưa vào hoạt động trong vòng vài ba năm. Đặc trưng này vừa nói lên tiềm năng thực sự của các nhà đầu tư; họ đã có sẵn vốn tự có và sắp xếp xong vốn tín dụng trước khi có giấy phép; vừa thể hiện lòng tin của họ đối với triển vọng trung hạn của nền kinh tế nước ta, sẵn sàng bỏ vốn đầu tư vào một nước đang trong tình trạng lạm phát cao, bất ổn về thị trường tiền tệ, để đón đầu sau hai hoặc ba năm tình hình kinh tế trở lại ổn định, sẽ tăng trưởng nhanh với thị trường đầy tiềm năng.

Nên vui hay “vừa mừng vừa lo lắng không nguôi” như có người đã viết(?). Là một người đã có nhiều năm trực tiếp gắn bó với công tác quản lý và tư vấn về FDI, tôi cho rằng, thật đáng vui mừng khi nước ta là điểm đến đầy hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư tiềm năng của thế giới. Không dễ gì có được tình huống như vậy nếu dân tộc Việt Nam không chứng minh cho các nhà đầu tư quốc tế thấy được “sức sống mới” như cách nói của một chuyên mục VTV mà tôi ưa thích; nếu Chính phủ Việt Nam không bằng nhiều cải cách liên tục về thể chế, hành chính, tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi. Đã có không ít bài báo nước ngoài viết về lực hấp dẫn đối với FDI ở Việt Nam hiện nay, kể cả gọi nó là thanh nam châm FDI.

Người ta thường nói, giống như tấm huân chương, cái gì cũng có hai mặt, mặt phải của tấm huân chương rất đẹp, mặt trái thì sần sùi. Thu hút FDI cũng có mặt trái của nó. Đã có những lời cảnh báo của nhiều nhà nghiên cứu có tầm cỡ thế giới đối với các nước đang phát triển và chuyển đổi sang kinh tế thị trường như nước ta rằng, nếu Chính phủ không có những biện pháp phòng ngừa và đối phó khi mở cửa thị trường và thu hút vốn đầu tư quốc tế thì khó tránh khỏi nguy cơ tiềm ẩn mất ổn định kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa, nhất là lĩnh vực tài chính, tiền tệ.

Nhưng các chuyên gia quốc tế cũng khuyên các nước này nên coi trọng FDI, vì đó là nguồn vốn đầu tư mà phần lớn là của tư nhân, khá ổn định và có tính lan tỏa rộng khắp đối với đầu tư trong nước, nhất là đầu tư tư nhân. Nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp dân tộc hợp tác với các doanh nghiệp quốc tế, nếu các doanh nghiệp dân tộc có chiến lược phát triển đúng, chủ động tham gia từng bước vào chuỗi giá trị toàn cầu, để tiến tới hình thành những tập đoàn kinh tế lớn, các công ty xuyên quốc gia của đất nước thì FDI là nguồn vốn quốc tế có lợi cho các nước đang phát triển.

Thực tế hơn 20 năm thu hút FDI của nước ta cũng đã chứng minh rằng, chủ trương thu hút FDI với Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 đã được dư luận quốc tế lúc đó đánh giá là thông thoáng nhất trong khu vực, là chủ trương rất đúng của Đảng và Nhà nước. Tuy đã xảy ra những khiếm khuyết mang tính cá biệt trong hoạt động FDI, như gây ô nhiễm môi trường đến mức báo động đã được báo chí đề cập như trường hợp Hyundai - Vinashin tại Khánh Hòa; trốn thuế, lậu thuế, đình công, bãi công, nhiều dự án chậm hoặc không được triển khai…; nhưng thành tựu rất ấn tượng và là mặt chủ đạo của hoạt động FDI.

Tính từ đầu năm 1998 đến tháng 7 năm 2008, đã có 46,452 tỷ USD vốn từ nước ngoài đưa vào Việt Nam; tùy theo từng thời kỳ, chiếm tỷ trọng co dãn từ 16,2 đến 29,9% vốn đầu tư xã hội; đóng góp từ 16 đến 24,2% GDP; chiếm khoảng 45% kim ngạch xuất khẩu, tạo ra việc làm cho 1,38 triệu lao động trực tiếp (chưa kể hàng triệu lao động gián tiếp), tạo ra nhiều ngành, nghề mới, du nhập những công nghệ hiện đại, phương thức kinh doanh và quản lý tiên tiến; góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của nước ta.


Hai cách tiếp cận về FDI

Khi nghiên cứu về FDI quốc tế đối với những nước đang trong thời kỳ tiếp nhận từ nước ngoài là chủ yếu, còn đầu tư ra nước ngoài mới bắt đầu với quy mô nhỏ như nước ta, thì việc đặt ra vấn đề “Chiến lược FDI tất nhiên phải phù hợp và phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” cần được lưu ý đến đặc điểm của nguồn vốn quốc tế này.

Lý thuyết đầu tư quốc tế có rất nhiều, nhưng lợi nhuận cận biên là một căn cứ quan trọng để nhà đầu tư lựa chọn nước và dự án đầu tư. Họ có thể thực hiện dự án đã được lựa chọn nếu có sự gặp nhau - hài hòa giữa lợi ích của nhà đầu tư với lợi ích của nước nhận đầu tư. Không ai ép buộc được nhà đầu tư nếu họ không thu được lợi nhuận cần có. Do vậy, có hai cách tiếp cận vấn đề đối với việc thực hiện chiến lược kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia.

Cách thứ nhất, Chính phủ xét thấy dự án đầu tư không phù hợp với Chiến lược đó về địa bàn, ngành và lĩnh vực thì từ chối tiếp nhận FDI.

Cách thứ hai, Chính phủ với tư cách là người điều hành kinh tế vĩ mô, áp dụng những biện pháp khuyến khích đầu tư trong nước, sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện những dự án thuộc ngành, lĩnh vực và địa bàn mà hiện tại chưa hấp dẫn đối với FDI, chấp nhận dự án do nhà đầu tư nước ngoài đề nghị để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững; tất nhiên có chọn lọc chứ không phải bằng mọi giá. Phần lớn các nước đang phát triển áp dụng cách thứ hai, vì có lợi cho việc thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội trong điều kiện nguồn lực trong nước còn có hạn.

Hơn 20 năm vừa qua, nước ta cũng lựa chọn dự án FDI theo cách tiếp cận thứ hai. Ví dụ, miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực xã hội có tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc phi lợi nhuận thì Chính phủ phải đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, phát hành trái phiếu, vốn ODA và các nguồn vốn viện trợ khác; phải chấp nhận FDI ở các thành phố lớn, các tỉnh có điều kiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm; dù làm tăng thêm chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng.

Cũng có những lo ngại chính đáng về đầu tư khai thác tài nguyên, vì “không gì tai hại và thiệt thòi cho nền kinh tế và các thế hệ mai sau bằng việc xúc tài nguyên đi bán thô với giá rẻ…”. Nhưng cũng cần thấy được chủ trương đúng đắn của Chính phủ đối với một vài loại tài nguyên, điển hình là dầu khí, không những trước đây, mà hiện tại vẫn tiếp tục ký các hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí với các nhà đầu tư quốc tế, bởi trên thực tế điều đó là cần thiết để Petro Việt Nam tiếp cận nhanh hơn công nghệ thăm dò, khai thác của các tập đoàn hùng mạnh của thế giới.

Trên thực tế, FDI ngành dầu khí đã đóng góp đáng kể cho xuất khẩu, thu ngân sách, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý. Có lẽ vấn đề đối với lĩnh vực dầu khí nằm ở chỗ khác. Nước ta đã có hơn hai thập kỷ xuất khẩu dầu thô, nhưng chưa có công nghiệp lọc và hóa dầu nên giá trị gia tăng của ngành này khá thấp, phần lớn nguyên liệu được sản xuất từ dầu mỏ vẩn phải nhập khẩu; mà đáng ra nếu thực hiện đúng Chiến lược phát triển đất nước thì nhà máy lọc dầu đầu tiên đã đi vào vận hành từ năm 1998, sau đó vài ba năm đã có khu có khu công nghiệp hóa dầu chí ít cũng cung ứng được một nửa nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp.

Cũng có kiến nghị nên xem xét việc có quá nhiều dự án FDI về sân golf, khu đô thị, khu resort, khu công nghiệp, cảng biển, nhà máy lọc dầu…; không phù hợp với quy hoạch phát triển lâu dài của nước ta. Có lẽ tác giả của các kiến nghị như vậy cần nghiên cứu nghiêm túc hơn thực trạng các dự án trên đây ở nhiều địa phương, để có cách tiếp cận đúng đắn hơn. Trong phạm vi một bài báo tôi không thể đề cập đến từng ngành, lĩnh vực được, chỉ xin nói về sân golf thôi.

Thời gian vừa qua đã có tình trạng một số chính quyền địa phương cấp phép vô tội vạ việc xây dựng sân golf, cả ở trên đất trồng lúa rất có hiệu quả. Chính phủ đã kịp thời ngăn chặn tình trạng đó. Với xu hướng gia tăng giá lương thực trên thế giới thì nước ta cần tận dụng lợi thế của việc trồng và xuất khẩu lúa gạo, cũng như bảo đảm an ninh lương thực của đất nước, do đó việc nghiêm cấm xây dựng sân golf trên đất trồng lúa là cần thiết.

Tuy vậy, cũng tránh tình trạng từ cực đoan này sang cực đoan khác; sân golf có thể và nên được phép xây dựng đến mức hợp lý ở những vùng đồi thấp; xin đừng coi như là sự xa xỉ, mà để tạo lập môi trường sinh sống cho các nhà đầu tư quốc tế và cả những người Việt Nam có mức sống cao.


Quản lý nhà nước về FDI phải phù hợp với thông lệ quốc tế

Chính phủ đã phân cấp toàn diện cho chính quyền tỉnh, thành phố đối với FDI, đó là chủ trương đúng đắn; tuy vậy, vấn đề gắn với chủ trương đó là tạo ra các điều kiện bảo đảm để nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước trong hoạt động FDI.

Hiện đang có nhiều dự án lớn không chỉ có tầm quan trọng đối với các địa phương, mà còn đối với cả nước, đòi hỏi phải được các chuyên gia đủ trình độ thẩm định dự án để bảo đảm lợi ích quốc gia trong việc thu hút FDI. Đáng tiếc là nhiều địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu như vậy, nhưng lại không mời các chuyên gia cuả trung ương làm tư vấn, hổ trợ. Sự dễ dãi trong việc thu hút và thẩm định những dự án lớn, nếu không sớm được khắc phục có thể gây ra hậu quả không đáng có.

Trong khi phân cấp cho địa phương, các Bộ cần chú ý đến cân đối ngành, liên ngành, vùng lãnh thổ, hướng dẫn các địa phương bảo đảm các cân đối đó của nền kinh tế quốc dân, để thực hiện được hệ thống mục tiêu tăng trưởng bền vững.

Nước ta đã hội nhập sâu rộng với thế giới, do vậy quản lý nhà nước đối với FDI phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính phủ đã có những chỉ đạo theo hướng này trong việc hình thành thể chế, áp dụng các quy định về hải quan, xuất nhập khẩu, các thủ tục hành chính. Tuy vậy, còn nhiều công việc cần được cải cách mạnh mẽ hơn.
Về môi trường, nhiều dự án phải có “Báo cáo đánh giá tác động môi trường” và được thẩm định của Bộ tài nguyên và môi trường. Nhìn qua thì có vẻ rất chặt chẽ để bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường.

Thực tế thì ngược lại, nhà đầu tư lo làm sao được thông qua Báo cáo đó, bởi vì họ nhận ra rằng, sau đó ít có thanh tra, giám sát tình trạng môi trường của các cơ quan nhà nước. Vụ Vinashin- Huyndai là một điển hình cho việc buông lỏng quản lý nhà nước về môi trường. Các nước khác dành trọng tâm vào thanh tra, giám sát thường xuyên các dự án FDI (cả đầu tư trong nước); nếu vi phạm bất kỳ tiêu chuẩn môi trường nào đếu được xử lý nghiêm minh, kể cả đình chỉ hoạt động.

Về nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng; nước ta đã từng đề ra đủ thứ quy định, về hình thức văn bản có vẻ rất chặt chẽ, nhưng trên thực tế chỉ cần nhà đầu tư biết cách “ làm luật” đều vượt qua dễ dàng. Các nước khác không đưa ra quy định kiểu như vậy; mà coi việc nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng là quyền của nhà đầu tư; cơ quan nhà nước giám sát, kiểm tra khi thiết bị đã được vận hành, nếu vi phạm tiêu chuẩn môi trường, không bảo đảm an toàn lao động thì buộc nhà đầu tư phải hiệu chỉnh, nếu vẫn không đạt được tiêu chuẩn nhà nước thì buộc phải đóng cửa.

Hiện nay, Tổng cục Thống kê và Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đang công bố hai con số của vốn đăng ký và vốn thực hiện FDI. Vốn đăng ký là vốn đầu tư ghi trên giấy phép của từng dự án, chỉ có ý nghĩa về thống kê để biểu thị xu hướng phát triển của FDI trong từng thời kỳ; hoàn toàn chưa có bất kỳ tác động nào đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước.

Vốn thực hiện là vốn đã được nhà đầu tư chi để xây dựng nhà xưởng, vận hành bộ máy quản lý và vốn lưu động cho kinh doanh. Trong vốn thực hiện, khoảng 15% là vốn của bên Việt Nam, chỉ có 85% là của các nhà đầu tư quốc tế; đó là con số được thống kê là vốn FDI của mỗi nước.

Đáng tiếc đã có sự hiểu nhầm về vốn FDI. Có ông Bộ trưởng lý giải về nguyên nhân nhập siêu năm 2007 là do vốn đăng ký FDI tăng gấp đôi năm trước, lên 21 tỷ USD(!). Thực tế vốn thực hiện FDI năm 2007 đạt 8,03 tỷ USD, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước ta chỉ có 6,7 tỷ USD. Không nên lấy con số 21 tỷ USD vốn đăng ký chưa thực hiện để gán cho nó trách nhiệm gây ra nhập siêu.

Việc tổng hợp tình hình hoạt động FDI trong toàn quốc đang gặp khó khăn và thiếu chính xác do nhiều địa phương và ban quản lý khu công nghiệp không báo cáo kịp thời và thường xuyên với Cục Đầu tư nước ngoài.
Đã đến lúc, nước ta nên làm theo thông lệ quốc tế, chỉ công bố con số vốn thực hiện do các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước ta từng quý, từng năm thông qua hai nguồn chủ yếu là ngân hàng và hải quan.

Ngân hàng là kênh chuyển ngoại tệ từ nước ngoài vào nước ta; hải quan là kênh nhập khẩu thiết bị, máy móc, vật tư để triển khai dự án. Cần có quy định của Chính phủ về việc các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam và Tổng cục hải quan có nhiệm vụ báo cáo định kỳ số liệu thống kê vốn thực hiện FDI cho Tổng cục Thống kê và Cục Đầu tư nước ngoài. Không nên quá chú trọng vốn đăng ký, bởi vì chỉ là tiềm năng; càng không thể lấy vốn đăng ký để phân tích hoạt động kinh tế.

Trong điều kiện Chính phủ coi mục tiêu kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ trung tâm trong năm nay và có thể cả của năm 2009, đầu tư từ ngân sách nhà nước và của doanh nghiệp nhà nước được cắt giảm đáng kể; đầu tư tư nhân mà phần lớn là của doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp khó khăn do lãi suất tín dụng quá cao, thì làn sóng FDI thứ hai là sự bổ sung quan trọng cho tăng trưởng trong trung hạn và dài han.

Hy vọng năm nay vốn FDI thực hiện đạt được khoảng 12-14 tỷ USD, bằng 1,5-1,7 lần năm 2007 thì có thể bù đắp được con số vốn đầu tư trong nước bị sụt giảm, góp phần sớm ổn đinh tình hình kinh tế, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng trong những năm tiếp theo.

Số lượt đọc:  310  -  Cập nhật lần cuối:  13/10/2008 02:28:35 PM
Ý kiến của bạn:
     Trang chủ       Giới thiệu       Hỗ trợ       Liên hệ