>> Mời tham khảo thông tin và các tác phẩm liên quan của ông Nguyễn Trần Bạt tại Chungta.com
Hỏi: Chúng tôi được biết ông là Chủ tịch Tổng giám đốc của Invest Consult Group, một công ty tư vấn có tên tuổi và đồng thời cũng là một nhà nghiên. Hôm nay, chúng tôi muốn được trao đổi với ông về vấn đề Doanh nhân với mục tiêu xây dựng chân dung về các doanh nhân Việt Nam.
Trả lời: Xã hội chúng ta đang chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp trở thành một nền kinh tế có chất lượng thị trường. Các đường nét để có thể vẽ ra chân dung của các doanh nhân Việt Nam cũng mới hình thành, bởi vì suy ra cho cùng doanh nhân là những phần tử của bức tranh lớn hơn, đó là bức tranh kinh tế. Doanh nhân là những người lính trên trận địa kinh tế. Nền kinh tế của chúng ta mới là một nền kinh tế đang được phác thảo một cách mò mẫm, cho nên, chân dung của các nhà kinh doanh cũng mới chỉ là những phác thảo mà đôi chỗ còn thể hiện sự vội vã. Báo Tiền Phong là tờ báo của thanh niên cho, nên, sự phác thảo bất kỳ chân dung nào của báo Tiền phong đều có giá trị hướng dẫn đối với thế hệ trẻ của chúng ta. Chính vì vậy việc tô vẽ chân dung các doanh nhân Việt Nam trong trạng thái nó mới chỉ là phác thảo cần phải rất thận trọng, nếu không chúng ta sẽ hướng dẫn sai thế hệ trẻ. Tôi cho rằng, thay vì phác thảo ra một chân dung cụ thể, chúng ta hãy bàn luận với nhau thế nào là những nét cơ bản để tạo ra chân dung của một nhà kinh doanh và rộng hơn là thế nào là những nét cơ bản để phác thảo ra một nền kinh tế.
Trước hết, chúng ta cùng phân tích các đường nét cơ bản mà nhân loại vốn có để định danh, để phác thảo một cách tương đối tiêu chuẩn về các đối tượng được gọi là doanh nhân.
Có một thời kỳ rất dài, xã hội chúng ta coi thường doanh nhân, chỉ cho đến khi chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì chúng ta mới phát hiện ra giá trị xã hội hay đóng góp xã hội của doanh nhân. Đảng và Chính phủ có lẽ muốn khắc phục những sai lầm về mặt nhận thức đối với giới doanh nhân trong quá khứ nên đã cho họ truy lĩnh nhiều giá trị, nhiều lời khen mà trên thực tế họ chưa đáng có và thực ra cũng chưa nên có. Hình ảnh của doanh nhân Việt Nam sẽ hình thành và rõ nét dần cùng với hình ảnh nền kinh tế Việt Nam, cho nên chúng ta cùng xây dựng các đường nét phác thảo chứ không nên vẽ các ví dụ cụ thể để cố định hóa nhận thức của thế hệ trẻ về giới doanh nhân. Tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì có đến 70-80% các doanh nhân Việt Nam vẫn kiếm lợi dựa vào việc khai thác các mặt hạn chế của thể chế của chúng ta về kinh tế. Những kinh nghiệm mà những người rất thành đạt có chỉ là nhũng chủng loại rất hạn chế, trong đó phổ biến nhất là tận dụng các sơ hở của thể chế. Tận dụng sơ hở của thể chế không phải là một việc xấu, vì ở mọi nơi trên thế giới con người sinh ra đều tận dụng những sơ hở của thể chế nhưng ở xã hội chúng ta nó vô tình có những ý nghĩa xấu. Chúng ta chưa có được một thể chế tiêu chuẩn, do vậy mật độ những hành động lợi dụng thể chế là rất rộng. Thế hệ trẻ có thể quan sát thấy trên thực tế những mặt trái như vậy, và nên chúng ta tô vẽ hình ảnh của các doanh nhân Việt Nam mâu thuẫn với những hành động diễn ra hàng ngày của họ thì thế hệ trẻ sẽ không tin vào mô tả của chúng ta nữa. Vì thế chúng ta phải rất thận trọng.
Một vấn đề nữa là nền kinh tế của chúng ta không chuyên nghiệp và hành vi cơ bản của giới doanh nhân Việt Nam cũng không chuyên nghiệp. Ví dụ không có công ty nào được kiểm toán một cách minh bạch không có công ty nào thể hiện mối quan hệ giữa người lao động và người chủ xí nghiệp một cách rành mạch. Thỉnh thoảng có những đối tượng làm tốt nhưng không phải tất cả đều làm tốt. Giới doanh nghiệp quan hệ với giới cầm quyền đôi lúc cũng không minh bạch, nhất là trong điều kiện hiện nay. Những việc ấy diễn ra hàng ngày ngoài đường và giới trẻ có thể quan sát được, cho nên nếu chúng ta mô tả các doanh nhân một cách quá đẹp, quá lý tưởng thì sẽ mâu thuẫn với thực tế hành động của họ, và việc đó sẽ tạo ra sự mất lòng tin đối với một tờ báo có một truyền thống lâu dài và có uy tín xã hội lớn như báo Tiền phong.
Hỏi: Vậy xin ông cho biết đôi nét về đội ngũ doanh nhâh Việt Nam hiện nay?
Trả lời: Doanh nhân là một lực lượng xã hội góp phần tạo ra các giá trị gia tăng của xã hội, bởi vì, bản chất của hoạt động kinh tế là tạo ra giá trị gia tăng. Xã hội bỏ ra một đồng vốn thông qua doanh nhân để tạo ra một đồng rưỡi, cho nên, doanh nhân mà không tạo ra được một đồng rưỡi giá trị thì không phải là doanh nhân tốt. Có rất nhiều người vội vàng gán cho doanh nhân các tiêu chuẩn bắt buộc phải có như cái Tâm thông qua việc làm từ thiện hoặc những việc phi lợi nhuận, nhưng tôi không nghĩ thế. Với tư cách là một nhà kinh tế, tôi cho rằng doanh nhân là một lực lượng xã hội làm gia tăng các giá trị kinh tế của xã hội bằng các biện pháp kinh doanh. Doanh nhân có thể là nhà sản xuất hay còn gọi là các nhà công nghiệp. Anh bỏ ra 10 đồng cho nguyên liệu và tiền lương thì anh phải tạo ra 15- 16 đồng. Loại doanh nhân thứ hai là các nhà thương mại, họ làm cho tất cả các sản phẩm xã hội được lưu chuyển một cách hiệu quả và linh hoạt trong đời sống thị trường, tức là hiện thực hóa các qui luật cung cầu. Loại doanh nhân thứ ba là những người cung cấp dịch vụ để cho hai loại hình trên hoạt động một cách hiệu quả, đó là doanh nhân dịch vụ. Doanh nhân dịch vụ là những người hỗ trợ quá trình sản xuất công nghiệp và thương mại một cách có lợi và phù hợp với đòi hỏi của các thể chế quản lý. Ngân hàng là một loại dịch vụ, kiểm toán là một dịch vụ, quản lý cũng là một loại dịch vụ. Công nghiệp, thương mại và dịch vụ là ba khối trong cấu trúc kinh doanh. Công ty của tôi thuộc nhóm thứ ba, nhóm dịch vụ.
Tiêu chuẩn của các loại hình trong ba nhóm này là khác nhau. Nhà công nghiệp được đánh giá dựa trên cơ sở đo được lợi ích đầu ra của các quá trình công nghiệp. Việc nắm bắt được các vấn đề khoa học, các vấn để thực tế trong đời sống và các chính sách để có thể đưa ra các dự án công nghiệp có chất lượng phù hợp với qui luật tự nhiên của đời sống và phù hợp với các chính sách của chính phủ chính là bản lĩnh của nhà công nghiệp. Còn người hoạt động thương mại thì phải biết mua sản phẩm nào, bán sản phẩm nào. Anh bán sản phẩm đến những thị trường lớn, những thị trường bên ngoài Việt Nam thì hiệu quả của quá trình kinh doanh phải lớn hơn. Như vậy việc đo đạc hình ảnh cũng như chất lượng của các nhà kinh doanh thương mại sẽ khác so với của nhà sản xuất. Còn đối với các doanh nhân dịch vụ thì phải đo bằng tính chuyên nghiệp. Cho đến phút này giới truyền thông của chúng ta vẫn mô phỏng các nhà kinh doanh một cách chung chung và trộn lẫn tiêu chuẩn của cả ba nhóm này với nhau. Chưa có một cơ quan truyền thông nào ý thức đầy đủ được rằng đây là ba nhóm người khác nhau trong cộng đồng doanh nhân Việt Nam và cả cộng đồng doanh nhân thế giới. Đôi khi chúng ta tiếp xúc với các nhà công nghiệp, chúng ta thấy họ nghiêm túc, họ nói đến đầu ra, đến vào, đến năng suất, đến lao động, họ phải quản lý rất nhiều việc liên hệ trực tiếp đến việc tiêu tiền và sử dụng con người. Nên chỉ có cách nhìn tương đối vật lý và đơn giản thì chúng ta sẽ thấy các nhà công nghiệp rõ hơn. Có một thời gian dài Đảng và Nhà nước chỉ nhìn thấy nhà công nghiệp và không gọi nhà công nghiệp là nhà kinh doanh, hay nói cách khác là đối lập nhà công nghiệp và nhà kinh doanh về mặt phẩm chất con người, đây là một sự nhầm lẫn. Có một thời kỳ từ khi chúng ta thành lập nước cộng hòa đến năm 1986, chúng ta không thừa nhận nhà kinh doanh là những người hoạt động thương mại. Nhà nước nắm độc quyền về cả nội thương, ngoại thương, do đó trong xã hội không có nhà thương mại và nền kinh tế của chúng ta trở thành nền kinh tế phân phối một chiều. Vì vậy, tất cả các sản phẩm công nghiệp làm ra không được sử dụng một cách có hiệu quả và không bán được. Sự xuất hiện của lớp người thứ hai là các nhà thương mại đã khắc phục một trong những nhược điểm cốt tử của nền kinh tế kế hoạch, tức là các nhà thương mại đã biến nền sản xuất Việt Nam thành một nền sản xuất có chất lượng thị trường. Khi có hai đối tượng này thì chúng ta tưởng đã đủ rồi, vì có người sản xuất và có người bán hàng, nhưng không phải. Cả người sản xuất và người bán hàng đều phải được chuyên nghiệp hóa, cho nên mới xuất hiện nhóm thứ ba là các nhà doanh nhân dịch vụ, chuyên cung cấp các dịch vụ để làm cho cả khu vực công nghiệp lẫn thương mại trở nên chuyên nghiệp. Vai trò của nhóm cung cấp dịch vụ là nâng cao khả năng chuyên nghiệp hóa của nền kinh tế.
Hỏi: Ông có thể phác thảo đôi nét về doanh nhân trong tùng nhóm mà ông đã đề cập?
Trả lời: Thứ nhất là các nhà công nghiệp. Chúng ta có nửa thế kỷ xây dựng nền công nghiệp, từ công nghiệp nặng trước năm 1986 đến công nghiệp hàng tiêu dùng được phát triển từ sau năm 1986 đến nay, cho nên chúng ta có một lực lượng các nhà công nghiệp khá hùng hậu. Mối liên hệ giữa các nhà công nghiệp với các nhà công nghệ cũng đã bắt đầu hình thành tương đối rõ. Có thể nói, lực lượng các doanh nhân công nghiệp tương đối tốt và đã có tiềm năng. Chúng ta đã có các nhà công nghiệp quản lý những xí nghiệp vài ngàn công nhân. Đây là một ưu điểm. Tuy nhiên các nhà công nghiệp của chúng ta mặc dù có thể quản lý một xí nghiệp lớn, nhưng quản lý một cách chuyên nghiệp và tạo ra hiệu quả chuyên nghiệp thì chưa. Lực lượng này cần phải được hoàn thiện, nhưng không phải hoàn thiện bằng chính họ. Hoàn thiện bằng chính họ mới chỉ là một phần, phải hoàn thiện cả yếu tố mua bán và yếu tố dịch vụ thì mới tạo ra trạng thái chuyên nghiệp thực sự của các nhà công nghiệp. Chúng ta có rất nhiều ví dụ để nói về các nhà công nghiệp, ví dụ như Tổng Giám đốc Vinamilk, Tổng Giám đốc công ty Việt Tiến. Chúng ta có nhiều nhà công nghiệp quốc doanh, nhà công nghiệp tư nhân họ đều là những nhà công nghiệp tương đối tốt xét về khả năng có thể tiếp quản và quản lý điều hành một xí nghiệp công nghiệp, nhưng khả năng để điều hành một xí nghiệp bằng lợi ích, điều hành một cách chuyên nghiệp thì chưa. Tại sao lại như vậy? Bởi vì chúng ta vẫn tự làm thương mại, chúng ta chưa có các hãng phân phối lớn như Wal-martl, Carrefour, Marks and Spencer... Chúng ta không có các hãng bán lẻ làm hệ thống phân phối của chúng ta không được xác lập và xây dựng một cách chuyên nghiệm cho nên các nhà công nghiệp thường phải làm cả chức năng thương mại. Tất nhiên không ai cấm một nhà công nghiệp kiếm thêm công việc của nhà thương mại, nhưng sự kết hợp như vậy phản ánh trạng thái không chuyên nghiệp của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, phải nói rằng chúng ta đã có những nhà công nghiệp có những khả năng ban đầu rất tốt.
Cái khâu, cái hình ảnh mà chúng ta kém chính là thương mại. Chúng ta chưa có các nhà thương mại chuyên nghiệp, hay nói cách khác toàn bộ hệ thống phân phối của chúng ta là rất không chuyên nghiệp. Do đó, khi gia nhập WTO rất nhiều người lo sợ rằng các hãng phân phối lớn sẽ bóp chết các hãng bán lẻ. Đây là tâm lý cần phải cảnh giác, vì nó không đúng như thế. Chính các hãng phân phối chuyên nghiệp sẽ tạo ra tiền lệ để chúng ta ý thức về sự chuyên nghiệp hóa các hoạt động thương mại. Các anh biết rằng khi chúng ta bán hàng ra nước ngoài có rất nhiều vụ bị kiện cáo, rất nhiều vụ bị phạt đó là kết quả của tình trạng không chuyên nghiệp về thương mại. Chỉ có người làm thương mại chuyên nghiệp mới nắm được tiêu chuẩn của hàng hóa vào châu Âu đòi hỏi khác với hàng hóa vào Nhật Bản như thế nào, hay tiêu chuẩn hàng hóa vào Mỹ như thế nào. Còn các nhà sản xuất mà đi làm thương mại thì không ai đủ thì giờ để hiểu biết một cách chi li những vấn đề như vậy. Chúng ta mới có khoảng 15 năm hình thành các thói quen thương mại. Trước đây, việc phân phối hàng hóa thuộc độc quyền của nhà nước. Chúng ta có Tổng công ty Bách hóa Việt Nam và Tổng công ty Xuất nhập khẩu Việt Nam, hai tổng công ty ấy sinh ra để thỏa mãn việc xuất khẩu một lượng sản phẩm ít ỏi của Việt Nam. Những tổng công ty như vậy trong sự phát triển hiện nay không còn địa vị nữa, mà chúng ta thì chưa kịp hình thành đội ngũ các nhà thương mại chuyên nghiệp, cho nên phải nói rằng, khu vực thương mại của lực lượng các nhà kinh doanh Việt Nam là yếu. Còn bộ phận thứ ba là các nhà kinh doanh dịch vụ thì còn yếu hơn cả các nhà thương mại.
Hỏi: Ông có thể cho biết ý tưởng về việc thành lập công ty của ông?
Trả lời: Sau năm 1975 tôi đã bắt đầu nhìn thấy các vấn đề của nền kinh tế Việt Nam. Sau cải tạo tư sản ở miền bắc, cải tạo tư sản ở miền Nam, tôi biết chắc rằng nền kinh tế của chúng ta sẽ có vấn đề. Năm 1979 khi người Trung Quốc đánh Việt Nam là tôi hiểu rằng chắc chắn phe XHCN sẽ có những vấn đề. Năm 1983 khi Mikhail Gorbachev tổ chức cải tổ ở Liên Xô thì tôi biết chắc chắn là Liên Xô có vấn đề. Đến năm 1985, tôi kết luận rằng dứt khoát phe XHCN sẽ sụp đổ và khi chúng ta mất đi chỗ dựa kinh tế vào phe XHCN thì chúng ta sẽ khó khăn. Các anh biết rằng vào năm 1985 chúng ta lạm phát mấy nghìn phần trăm và số lượng người đói trên lãnh thổ Việt Nam vào những năm 1980-1985 lớn khủng khiếp. Nhìn các hiện tượng ấy, một người chịu để tâm suy nghĩ sẽ thấy ngay là dứt khoát có vấn đề.
Tôi đã nghiên cứu Việt Nam rất kỹ và đi đến kết luận rằng, mất Liên Xô, mất Đông Âu, mất khối SEV thì Việt Nam phải mở cửa. Vào những năm 1978, tôi phát hiện ra sự mở cửa của Trung Quốc trước khi Trung Quốc mở cửa thật. Tôi đã nhìn thấy chiến dịch ngoại giao bóng bàn diễn ra vào những năm 1968 của người Mỹ với Trung Quốc. Tôi thấy rằng người Trung Quốc đã bắt đầu lái con tàu quan hệ sang phương Tây và chắc chắn là người Việt Nam sẽ nhìn thấy.
Tôi cũng thấy rằng, khi chúng ta mở cửa sẽ có hai cộng đồng người gặp nhau, người Việt Nam chúng ta thì chưa biết gì về ngoại thương, về ngân hàng… còn những người nước ngoài thì biết tất cả nhưng chưa biết gì về một xã hội đặc biệt như xã hội Việt Nam. Hai cộng đồng người ấy gặp nhau sẽ cần người phiên dịch. Tôi đóng vai trò người phiên dịch và tôi kiếm tiền bằng việc phiên dịch sự khác biệt giữa hai hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, giữa phương Tây phát triển và Việt Nam đang đi tìm con đường phát triển. Đến bây giờ vai trò ấý vẫn chưa hết, tuy nhiên sự phiên dịch tập trung vào những đối tượng tinh tế hơn, phức tạp hơn và những khía cạnh phong phú hơn.
Hỏi: ông đã gặp những khó khăn gì khi làm nghề này?
Trả lời: Xã hội chúng ta là xã hội sùng bái công nghiệp, vì thế tất cả các đối tượng phi công nghiệp đều bị ngờ vực và tôi bị ngờ vực là đương nhiên. Tôi có nghĩa vụ phải giải thích với xã hội, giải thích với các nhà lãnh đạo là cái mà chúng tôi làm cũng là cái mà xã hội cần. Năm 1989, chúng tôi kết hợp với thành ủy thành phố Hồ Chí Minh tổ chức một cuộc hội thảo về xây dựng thị trường tài chính và thị trường chứng khoán Việt Nam. Tôi đã bị gọi lên để chất vấn và chịu kỷ luật từ phía Chính phủ về việc truyền bá những khái niệm nhạy cảm vào Việt Nam. Sau này Đảng và Chính phủ đã đánh giá lại và không có những kỳ thị đối với chúng tôi nữa.
Tôi cho rằng, tất cả những người muốn làm một cái gì đó đều phải sáng tạo. Sáng tạo là gì? Là nhìn thấy trước những nhu cầu của xã hội để làm. Nhìn thấy trước nhu cầu của xã hội là bản năng quan trọng nhất của nhà kinh doanh. Bất kỳ nhà kinh doanh nào không nhìn thấy, không tưởng tượng nổi nhu cầu của xã hội thì không trở thành nhà kinh doanh lớn được. Ví dụ, làm sao Bill Gates ngồi một góc ở nước Mỹ mà có thể nghĩ rằng những sản phẩm của mình có thể làm thay đổi thế giới. Làm sao ông ta có thể bỏ tiền ra làm những hệ điều hành mà nó trở thành không chỉ công cụ kỹ thuật mà còn là công cụ xã hội, thậm chí là công cụ chính trị của tất cả các chính phủ hiện đại trên thế giới. Một nhà kinh doanh tốt là phải phỏng đoán, dự báo được nhu cầu của đời sống và cung ứng những sản phẩm phù hợp với nhu cầu ở những chặng khác nhau của sự phát triển. Ví dụ, trong xã hội như xã hội của chúng ta thì nghề của chúng tôi chia thành hai nhánh. Một nhánh đi sâu vào việc xây dựng các dịch vụ chuyên nghiệp như văn phòng luật sư, công ty kiểm toán… Còn nhánh kia thì đi theo hướng móc ngoặc, xây dựng các mối quan hệ giữa các nhà chính trị với giới doanh nhân và kiếm tiền trên cơ sở khai thác những mối quan hệ ấy. Tôi không đi theo cả hai hướng ấy. Đi theo hướng xây dựng ngay các tổ chức chuyên nghiệp thì không phù hợp với thực tế Việt Nam, vì chỉ mới 3- 4 năm gần đây các công ty Việt Nam mới bắt đầu ý thức được vai trò của luật sư. Xã hội Việt Nam mới thức tỉnh về vai trò của các dịch vụ chuyên nghiệp trong những năm gần đây. Chúng ta xây dựng thị trường chứng khoán nhưng không có sự tham gia của kiểm toán. Các công ty kiểm toán hoạt động một cách hình thức, không có một bản báo cáo tài chính nào có đủ chất lượng quốc tế hay đủ tiêu chuẩn để phục vụ tính minh bạch của thị trường. Vì bản chất của thị trường chứng khoán là bán những chứng chỉ có giá mà không ai xác nhận giá trị của các chứng chỉ thì tức là không chuyên nghiệp. Cho đến bây giờ, chúng ta cứ băn khoăn là thị trường của chúng ta nóng hay lạnh nhưng chúng ta có làm gì đâu mà nó nóng hay lạnh, chúng ta cứ in ra là bán. Có cả những người in cổ phiếu giả để bán. Đáng ra trước khi làm chúng ta phải biết rằng, để tạo ra một cái chợ thì trước hết phải định nghĩa loại hàng nào được mang vào chợ bán. Chúng ta không làm việc ấy, xã hội chúng ta chưa chuyên nghiệp.
Tôi xin nhắc lại là các nhà kinh doanh cần phải biết rõ xã hội cần gì, thị trường cần gì và phải hình dung rất rõ thời cuộc. Tôi là người như vậy. Tôi không đi theo hướng chuyên nghiệp ngay, tôi cũng không chọn hướng móc ngoặc quyền lực, vì móc ngoặc quyền lực sẽ đốt cháy năng lực chuyên môn. Nhưng đi theo năng lực chuyên môn một cách quá lý thuyết sẽ không phù hợp với đòi hỏi thực tế của xã hội. Vậy đi như thế nào để kết hợp được các đặc điểm, để phản ánh được đặc điểm của xã hội và thị trường Việt Nam? Tôi đi ở giữa hai chiều ấy. Tôi không móc ngoặc để hỗ trợ tham nhũng, tôi cũng không ảo tưởng để tạo ra trạng thái chuyên nghiệp cứng nhắc đối với một xã hội đang ở mức chưa chuyên nghiệp. Làm thế nào để diễn đạt các dịch vụ hiện đại dưới dạng một ngôn ngữ phù hợp với trình độ sử dụng, với nhu cầu đang phát triển dần lên của xã hội Việt Nam chính là chính sách phù hợp nhất để phát triển loại hình dịch vụ ở Việt Nam.
Nguồn:
Đối thoại với tương lai - NXB Hội Nhà Văn Số lượt đọc:
1218
-
Cập nhật lần cuối:
06/04/2010 02:52:06 PM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|