Nội dung chính của tọa đàm - giao lưu trực tuyến diễn ra trên VnEconomy về ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Bắt đầu từ 14 giờ và kết thúc khi đã gần 18 giờ ngày 16/10, vượt quá thời gian dự kiến, cuộc tọa đàm - giao lưu trực tuyến tập trung nhận định về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - hiện đang lan rộng trên toàn cầu - đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và một số lĩnh vực cụ thể, đặc biệt trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu và hoạt động tài chính… Đồng thời, những đề xuất về giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng đối với kinh tế trong nước cũng là một nội dung quan trọng.
Khách mời của chúng tôi là các chuyên gia đầu ngành, các nhà nghiên cứu độc lập đang hoạt động trong và ngoài nước, có mặt tại các "đầu cầu" trực tuyến tại Hà Nội, Tp.HCM, Mỹ và Australia:
- Ông Đào Nguyên Cát, Giáo sư kinh tế, Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam;
- Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia;
- Ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia;
- Ông Bùi Kiến Thành, Chuyên gia tài chính độc lập;
- Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc phụ trách nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright;
- Ông Huỳnh Thế Du, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, hiện đang có mặt tại Mỹ;
- Ông Mạc Quang Huy, Chuyên gia tài chính độc lập, hiện đang có mặt tại Australia;
 |
 |
 |
 |
|
Ông Đào Nguyên Cát |
Ông Trương Đình Tuyển |
Ông Cao Sỹ Kiêm |
Ông Bùi Kiến Thành |
 |
 |
 |
|
Ông Vũ Thành Tự Anh |
Ông Huỳnh Thế Du |
Ông Mạc Quang Huy |
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu những nội dung chính của cuộc tọa đàm - giao lưu trực tuyến này:
Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ tới Việt Nam
Nhiều bạn đọc:
Đến thời điểm này cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và ảnh hưởng của nó vẫn đang diễn biến phức tạp. Các chuyên gia nhận định thế nào về tác động của nó đối với Việt Nam, xét ở phương diện vĩ mô?
Ông Bùi Kiến Thành:
Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng, tôi đã phác họa qua trong một bài báo gần đây trên VnEconomy (http://vneconomy.vn/20081006102144637P0C6/kinh-te-viet-nam-co-vuot-qua-con-bao-tai-chinh-my.htm).
Bắt đầu từ khủng hoảng các hợp đồng cho vay bất động sản thế chấp, tổng số khoảng 12 ngàn tỷ USD, trong đó 3 đến 4 ngàn tỷ USD là dưới chuẩn, khó đòi. Những người không có khả năng trả nợ cũng được cho vay.
Những hợp đồng đó được chuyên gia tài chính Phố Wall gom lại và phát hành chứng khoán phái sinh, được bảo đảm bởi những hợp đồng cho vay thế chấp này để bán ra trên khắp các thị trường quốc tế.
Khi các chứng khoán này mất giá thảm hại, thị trường không có người mua, nên các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các tổ chức tài chính nắm hàng ngàn tỷ USD chứng khoán đó không bán được, mất khả năng thanh khoản, và mất khả năng thanh toán, đi đến gục ngã hoặc phá sản.
Chính phủ Mỹ đã đưa ra các gói giải pháp để mua những tài sản nhiễm độc đó, nay đổi hướng một phần 250 tỷ USD (trong gói 700 tỷ USD) mua cổ phần của các ngân hàng...
Điều này không chỉ có ở Mỹ mà các thị trường tài chính nhiều nước châu âu cũng bắt chước Mỹ phát hành các trái phiếu phái sinh tương tự, tổng số chứng khoán phái sinh này hiện nay trên toàn thế giới chưa thể ước lượng được, vì vậy tác động của nó trên toàn thế giới cũng chưa thể đo lường hết được.
Nhiều ngân hàng vì mất khả năng thanh khoản đã co lại, rút lại tín dụng, điều này đã khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận thị trường vốn và bị ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất kinh doanh.
Về phía Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp thì cũng có giới hạn vì Việt Nam chưa tham gia nhiều vào thị trường tài chính thế giới và không tham gia mua bán chứng khoán phái sinh này.
Nhưng khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng cho vay giữa các ngân hàng (Libor và Sibor, tức London Inter Bank offer rate, Singapore Inter Bank Offer rate, thường được dùng làm lãi suất cơ sở để cho các xí nghiệp và ngân hàng Việt Nam vay).
Ngoài ra đầu tư trực tiếp (FDI) của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng vì FDI vào Việt Nam phần lớn là vốn vay chứ không phải vốn tự có, nên nếu các nhà đầu tư không dàn xếp được khoản vay sẽ khó giải ngân được.
Đối với thị trường chứng khoán, có khả năng nhà đầu tư nước ngoài phải thu hồi nguồn vốn và bán chứng khoán. Điều này tác động đến dự trữ ngoại hối và giá cả trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư nước ngoài bán ra nhiều hơn mua vào sẽ làm giảm giá chứng khoán của Việt Nam.
Gián tiếp, thì hoạt động nhập khẩu của các nước sẽ co lại, vì vậy ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam. Chúng ta xuất khẩu đến 60% GDP vì vậy chắc chắn sẽ ảnh hưởng.
Các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, công xuất thừa ra sẽ như thế nào? Thị trường lao động bị ảnh hưởng sẽ nảy sinh các vấn đề về xã hội...
Thời gian tới, các cơ quan của Nhà nước, hiệp hội cần ngồi lại với nhau để làm một nghiên cứu và đưa ra dự báo ảnh hưởng đến mức nào, lĩnh vực nào ảnh ưởng nhiều nhất để có biện pháp xử lý.
Ông Huỳnh Thế Du:
Theo tôi, với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra sẽ không có nhiều tác động trực tiếp đến hệ thống tài chính Việt Nam, nhưng nền kinh tế có khả năng sẽ bị ảnh hưởng lớn.
Vấn đề thứ nhất, do hệ thống tài chính Việt Nam dường như chưa hội nhập chung với hệ thống tài chính toàn cầu, chúng ta chỉ mới mở cửa tài khoản vốn vào mà hầu như chưa mở cửa dòng ra, do vậy lượng tiền Việt Nam đầu tư ra bên ngoài dường như không đáng kể và dòng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam chưa nhiều nên hệ thống tài chính của Việt nam sẽ không chịu nhiều tác động từ cuộc khủng hoảng này so với các nước có mức độ hội nhập tài chính sâu rộng.
Những tác động chính từ cuộc khủng hoảng hiện tại đối với hệ thống tài chính Việt Nam chủ yếu là yếu tố tâm lý. Thấy Dow Jones sụp thì VN-Index cũng xuống theo, trong khi hai thứ dường như không liên quan nhiều với nhau.
Đối với nền kinh tế, tôi nghĩ sẽ có ba khả năng có thể xảy ra.
Thứ nhất, thâm hụt thương mại gia tăng. Trong thời gian tới, kinh tế Mỹ nói riêng, kinh tế toàn cầu nói chung sẽ rơi vào tình trạng suy thoái, tốc độ tăng trưởng giảm sút.
Điều này sẽ dẫn đến hệ luỵ là cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm, trong khi cung đối với các mặt hàng nhập khẩu sẽ tăng do các nhà sản xuất bị giảm thị trường ở các nước phát triển sẽ tìm cách mở rộng các thị trường khác.
Như vậy, khả năng xuất khẩu bị giảm mạnh là rất cao trong khi nhập khẩu nếu có giảm cũng sẽ giảm ít hơn so với xuất khẩu. Điều này sẽ làm cho thâm hụt ngoại thương của Việt nam sẽ gia tăng, nhất là trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đã rất mở với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt quá 160% GDP.
Cũng có thể một số mặt hàng của Việt Nam thuộc loại hàng khiếm dụng có nghĩa là khi thu nhập giảm xuống thì cầu sẽ gia tăng. Tuy nhiên, có lẽ loại này không nhiều lắm.
Thứ hai, sụt giảm đầu tư do sự giảm sút của dòng vốn từ bên ngoài chảy vào. Nhìn vào số liệu qua khứ sẽ thấy dòng vốn từ bên ngoài gồm: vốn đầu tư trực tiếp, vốn đầu tư gián tiếp, vay nợ và kiều hối chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư của Việt Nam.
Với tình hình hiện tại, do chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn đầu tư chảy vào Việt Nam có khả năng sẽ giảm sút.
Thêm vào đó, hầu hết các dự án đầu tư nói chung, dự án FDI nói riêng, phần nợ vay thường chiếm một tỷ phần rất lớn trong tổng vốn đầu tư nên khi mà các tổ chức tài chính đang gặp khó khăn sẽ làm cho nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được ký kết hoặc không thể giải ngân.
Mặt khác, do phần còn lại của thế giới gặp khó khăn, thu nhập của người lao động sẽ giảm sút, cuộc sống khó khăn hơn nên lượng kiều hối chuyển về có khả năng sẽ giảm và hoạt động xuất khẩu bị giảm sút.
Thứ ba, tiêu dùng giảm sút. Khi sản xuất bị thu hẹp, một số người có khả năng mất việc làm, hay chí ít là thu nhập bị giảm sút cộng với dòng kiều hối chảy vào sụt giảm sẽ kéo theo sụt giảm trong tiêu dùng của các hộ gia đình.
Như vậy với khả năng giảm chi tiêu, đầu tư và xuất khẩu trong khi nhập khẩu tăng hoặc giảm chậm hơn sẽ tác động làm cho GDP sụt giảm và đương nhiên nhiều người có khả năng sẽ mất việc làm, hay chí ít thu nhập cũng rơi vào tình trạng bấp bênh.
Ông Vũ Thành Tự Anh:
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ không chỉ gây chấn động hệ thống tài chính Mỹ mà cơn “địa chấn tài chính” này đang lan rộng và đe dọa sự ổn định của nhiều quốc gia khác. Trong một thế giới toàn cầu hóa như ngày nay, sớm hay muộn thì cuộc khủng hoảng này sẽ tạo ra những “sang chấn” đáng kể đổi với nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
Theo tôi, các tác động cụ thể của cuộc khủng hoảng này có thể bao gồm:
(i) Nhu cầu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị thu hẹp (hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là sang thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản);
(ii) Nguồn tín dụng đang dần trở nên cạn kiệt của thế giới sẽ làm cho hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp suy giảm trên phạm vi toàn cầu, và Việt Nam không phải là một ngoại lệ;
(iii) Tác động tới khu vực ngân hàng có vẻ như khó nhận thấy hơn. Vì mức độ và trình độ liên kết của các ngân hàng thương mại Việt Nam đối với hệ thống tài chính quốc tế còn rất hạn chế nên chúng sẽ ít chịu tác động trực tiếp.
(iv) Thâm hụt tài khoản vãng có thể bị nới rộng. Đồng thời các dòng vốn đổ vào (FDI, FPI, kiều hối) lại ít đi sẽ làm cán cân thanh toán trở nên xấu đi.
v) Đối với khu vực doanh nghiệp, điều đáng lo ngại là tình trạng cạn kiệt tín dụng trên thế giới lại xảy ra đúng vào lúc tín dụng dành cho khu vực doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam đang khan hiếm và lãi suất vay vẫn đang được duy trì ở mức tương đối cao. Điều này có nghĩa là đối với các doanh nghiệp dân doanh của Việt Nam, con đường phía trước vẫn sẽ còn nhiều khó khăn.
Ông Mạc Quang Huy:
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là tác động mang tính hai chiều, song chủ yếu là tác động tiêu cực tới nền kinh tế toàn cầu cũng như của Việt Nam. Do sự hội nhập ngày càng sâu và rộng của nền kinh tế Việt Nam vào thế giới nên Việt Nam chịu những tác động nhất định, tuy không trực tiếp.
Ảnh hưởng lớn nhất đối với Việt Nam trước hết là về xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ và châu Âu (chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu). Khủng hoảng kinh tế hiện đang lan sang châu Á. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu sụt từ 5% năm 2007 xuống 3,9% năm 2008 và 3% năm 2009. Suy thoái kinh tế sẽ kéo theo nhu cầu tiêu thụ sụt giảm trên phạm vi toàn cầu.
Tác động thứ hai là đầu tư trực tiếp. Chi phí huy động vốn toàn cầu ngày càng tăng do biên độ tín dụng gia tăng. Chúng ta cần nhìn nhận sự khó khăn ở góc độ toàn cầu thay vì các quốc gia đầu tư vào Việt Nam, do bản thân các công ty mẹ là các tập đoàn đa quốc gia với hoạt động toàn cầu. Hơn nữa do nhu cầu tiêu thụ sụt giảm nên việc giải ngân FDI sẽ chậm lại đáng kể.
Tác động thứ ba là đầu tư gián tiếp. Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian tới sẽ rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an toàn (flight to quality). Việc bán tháo chứng khoán khỏi thị trường Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất không cao do tính thanh khoản và quy mô của thị trường.
Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới. Việc huy động vốn thông qua thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên cao.
Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch chênh lệch lãi suất (carry trade) nhằm hưởng chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền trong khi tỷ giá ổn định. Các giao dịch này thường mang tính đầu cơ ngắn hạn cao.
Với lãi suất toàn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá neo VND vào USD của Việt Nam trong khi lãi suất VND vẫn ở mức cao, có thể dòng vốn này sẽ chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh lệch. Trong những trường hợp thoái vốn, dòng vốn này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VND.
Tác động thứ tư là việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng sẽ khó khăn và chi phí tăng cao. Chính phủ Việt Nam hiện có kế hoạch phát hành 1 tỷ USD và Vinashin có kế hoạch huy động 400 triệu USD trên thị trường quốc tế vào 2009. Tôi nghĩ có lẽ đây sẽ là một thử thách đáng kể.
Tác động thứ năm là về kiều hối với doanh số 8-10 tỷ USD/năm là một nguồn thu rất quan trọng của Việt Nam. Do một phần lớn nguồn kiều hối từ Mỹ nên chắc chắn nguồn này cũng giảm sút nhất định.
Các tác động trên kết hợp với khó khăn hiện tại trong nước sẽ tạo nên một tác động kép và làm cho tình hình thêm phức tạp.
Ông Cao Sỹ Kiêm:
Để xem xét ảnh hưởng của khủng hoảng ở Mỹ tới Việt Nam, cần xem xét mối quan hệ giữa kinh tế Việt Nam với thế giới, đặc biệt là với Mỹ.
Mối quan hệ này bao gồm quan hệ về tất cả các lĩnh vực khi hội nhập có liên quan tới Mỹ, trong đó hai lĩnh vực chính là xuất nhập khẩu và quan hệ về vốn.
Trong đó, ở mối quan hệ thứ nhất, Việt Nam chủ yếu xuất hàng nông sản sang Mỹ và nhập từ Mỹ các loại thiết bị, máy móc.
Ở mối quan hệ thứ hai, ta tiếp nhận vốn FDI và các luồng vốn gián tiếp do các quỹ đầu tư Mỹ đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tất cả các mối quan hệ này đều ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt thời kỳ kinh tế Việt Nam đã mở cửa, có quan hệ đan xen với Mỹ và cả thế giới.
Giải pháp nào cho giá xăng dầu Việt Nam?
Tien Hue (tienhuetran@yahoo.com):
Thưa ông Trương Đình Tuyển, khủng hoảng tài chính khiến nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm trong đó có xăng dầu sụt giảm và cũng có lợi cho người tiêu dùng (cá nhân và doanh nghiệp), do giá xăng dầu trên thế giới giảm mạnh. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam người tiêu dùng được hưởng mức giảm giá xăng dầu hết sức hạn chế. Theo ông, có giải pháp nào tốt hơn không để giải quyết mâu thuẫn về lợi ích này, nhất là giúp doanh nghiệp hạ chi phí đầu vào để tồn tại và tăng sức cạnh tranh?
Ông Trương Đình Tuyển:
Đúng là đang có thực tế là khi giá thế giới tăng, thì giá trong nước tăng lên, có đợt lên tới 4500 đồng/lít nhưng khi giá thế giới giảm thì mức giảm giá trong nước lại ít, không tương xứng với mức giảm giá thế giới.
Tình hình này gây thắc mắc trong người tiêu dùng và theo tôi biết, các đầu mối nhập khẩu cũng phải chịu sức ép rất lớn, họ cũng rất muốn thoát nhanh khỏi tình thế này.
Theo tôi tình hình này do những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, mặc dầu có nhiều đợt điều chỉnh giá nhưng vẫn rất chậm so với sự thay đổi trên thị trường thế giới. Mặt khác, các lần điều chỉnh dù có đợt khá cao nhưng vẫn không đủ mức nghĩa là các doanh nghiệp nhập khảu vẫn bị lỗ lớn.
Nếu chúng ta tính bình quân gia quyền giá nhập khẩu cong với các khoản phải nộp và chi phí kinh doanh rồi so với bình quân gia quyền gia bán trong nước trong cùng thời gian đủ dài cho đến thời điểm này thì bình quân gia quyền giá bán trong nước vẫn thấp hơn giá ngập khẩu cọng với các khoản phải nộp và chi phí kinh doanh.
Nghĩa là người tiêu dùng vẫn còn mua với gia thấp hơn giá thành thục tế (lưu ý là tôi nói giá bình quan gia quyền trong một thời gian đủ dài cho đến nay). Trong khi nhà nước tuyên bố không bù lỗ mặt hàng xăng nhưng lại bắt doanh nghiệp bán theo giá bị lỗ thì phải có cơ chế để doanh nghiệp bù lại khoản lỗ đó. Cơ chế đó là cho phép doanh nghiệp trích ra 1.000 đồng/lít tiền lãi để hình thành quỹ bù lỗ.
Thứ hai, hiện tại doanh nghiệp vẫn đang bán hàng tồn kho nhập vào thời điểm giá thế giới tăng cao, trong đó có lượng tồn kho dự trữ lưu thông bắt buộc theo quy chế kinh doanh xăng dầu bằng 20 ngày cung ứng bình quân của mỗi đầu mối.( quy định này là cần thiết nếu không, sẽ có nguy cơ đứt nguồn vì mất cân đối cung cầu trên thị trường thế giới rất khó nhập khẩu).
Nếu càng giảm giá thì số lỗ do hàng tồn kho này càng lớn. Thời gian này kéo dài đến đâu phụ thuộc vào lượng tồn kho và thời gian giải phóng số tồn kho này nhưng chắc chắn nhiều hơn 20 ngày.
Thứ ba, hầu hết các nước đều đánh thuế nhập khẩu xăng dầu, coi thuế nhập khẩu là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Do giá thế giới tăng cao, nhà nước đã phải giảm thuế tất cả các mặt hàng xăng dầu xuống 0% trong một thời gian dài, nay nhà nước cũng tính toán đưa thuế vào để bảo đảm các nhu cầu chi, khi nguồn thu từ dầu thô xuất khẩu bị giảm do giá giảm.
Nhưng khi nào tăng và tăng bao nhiêu doanh nghiệp không biết được nên cũng không thể chủ động giảm giá. Đây là ba lý do mà giá trong nước không giảm tương ứng với mức giảm của giá thế giới.
Tôi gọi đây là thời kỳ quá độ. Vấn đề đặt ra là phải công khai thông tin về chi phí kinh doanh và giá thành, xác định rõ thời gian bán hết lượng tồn kho là bao nhiêu (cũng là thời gian quá độ).
Và Bộ Tài chính là cơ quan có đủ tư cách để làm việc này. Theo như tôi được biết thì Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiểm toán Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam.
Ngành xuất khẩu của nước ta...
Vũ Thế Tuân (tuanvuthe9@gmail.com):
Xin được hỏi ngành xuất khẩu nào của nước ta sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất và dự báo xuất khẩu của ta trong năm 2009 như thế nào?
Ông Trương Đình Tuyển:
Mặt hàng nào giá trị cao sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn.
Với Việt Nam những mặt hàng này không nhiều, có thể là đồ trang trí nội thất, sau đó là hàng điện tử nhưng nếu chúng ta mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác mà ở đó thu nhập dân cư khá cao, ảnh hưởng của khủng hoảng không lớn thì có thể hạn chế được sự suy giảm xuất khẩu.
Năm 2009 chúng ta sẽ có hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật mà hai nước vừa kết thúc đàm phán. Đây là cơ hội mới cho hàng xuất khẩu Việt nam vì được hưởng thuế suất ưu đãi theo hiệp định. Các doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội này.
Ngoài ra cần mạnh dạn xuất khẩu sang các thị trường mới như các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, tăng cường công tác xúc tiến thương mại, các doanh nghiệp cần phấn đấu hạ giá thành.
Tuy có nhiều khó khăn, nhưng tôi nghĩ năm nay chúng ta vẫn có thể tăng tổng kim ngạch xuất khẩu lên khoảng 18%, như Bộ Công Thương đã báo cáo Chính phủ.
Tác động từ biện pháp bơm tiền của Mỹ và châu Âu
Nguyễn (thenghiep_va@yahoo.com):
Với các biện pháp bơm tiền ra để cứu hệ thống tài chính của Mỹ và châu Âu trong những ngày gần đây, theo các chuyên gia sẽ ảnh hưởng thế nào tới tỷ giá USD/VND, cũng như tỷ giá giữa VND với một số ngoại tệ mạnh khác?
Ông Vũ Thành Tự Anh:
Xu thế chung là đồng Đô la Mỹ sẽ yếu đi, và nếu Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá như hiện nay, đồng thời lạm phát giá vẫn duy trì ở mức 25-27% như hiện nay thì tỷ giá thực của VND so với USD sẽ tăng.
Điều này nhìn chung cũng đúng cho các ngoại tệ của các nước chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính Mỹ, tất nhiên là với các mức độ khác nhau. Việc tăng tỷ giá thực này, đến lượt mình, sẽ làm suy giảm sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, và đó cũng là một nguyên nhân quan trọng làm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới có thể bị giảm sút.
Điều này nhìn chung cũng đúng cho các ngoại tệ của các nước chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính Mỹ, tất nhiên là với các mức độ khác nhau. Việc tăng tỷ giá thực này, đến lượt nó, sẽ làm suy giảm sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, và đó cũng là một nguyên nhân quan trọng làm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới có thể bị giảm sút.
Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến Việt Nam
Nguyen The Anh (theanhcamel@gmail.com):
Xin các chuyên gia nhận định ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến tình hình nhập siêu của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2009 như thế nào?
Ông Trương Đình Tuyển:
Do khủng hoảng tài chinh đang lan rộng ra trên quy mô toàn cầu, kinh tế thế giới đang phải đối đầu với nguy cơ suy thoái.
Tình hình này sẽ tác động tiêu cực đến kinh tế nước ta. Một trong các lĩnh vực bị ảnh hưởng là hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng lại tuỳ thuộc vào tính chất của từng mặt hàng; mặt hàng có giá trị lớn ảnh hưởng nhiều hơn, mặt hàng ít tiền, lại thường dùng hàng ngày ảnh hưởng ít hơn.
Về mức nhập siêu, tôi nghĩ không ảnh hưởng nhiều. Vì xuất khẩu giảm thì nhập khẩu cũng giảm do chúng ta đã phải nhập khẩu 70-80% nguyên liệu để làm hàng xuất khẩu, suy thoái kinh tế cũng làm cho giá nhiều loại nguyên liệu giảm mạnh, hiện chúng ta đang chứng kiến sự giảm giá dầu mỏ, các sản phẩm hoá dầu, phôi thép và thép xây dựng, các thiết bị công nghệ cũng sẽ bị giảm mạnh…
Mặt khác năm 2009 chúng ta vẫn tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát, lãi suất ngân hàng, dù có được điều chỉnh vẫn ở mức cao, đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước vẫn phải được kiểm soát chặt chẽ.
Do đó, tôi tin rằng tỷ lệ nhập siêu năm 2009 sẽ được kiềm chế ở tỷ lệ so với kim ngạch xuất khẩu thấp hơn năm 2008.
Cơ hội của Việt Nam trong khủng hoảng tài chính
Lê Đức Thắng (thang_leduc68@yahoo.com):
Việt Nam có thể có hay không những cơ hội tốt để phát triển kinh tế do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ mang lại bên cạnh những tác động tiêu cực của nó. Và nếu có thì chúng ta phải làm gì để nắm bắt những cơ hội trên?
Ông Cao Sỹ Kiêm:
Tôi nghĩ, qua cuộc khủng hoảng này chúng ta có thể có những cơ hội sau:
Một, cơ hội trong thu hút vốn đầu tư. Dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung vào những nơi có môi trường chính trị và kinh doanh ổn định, Việt Nam đang có những lợi thế trong hai nhân tố này.
Hai, cơ hội trong tăng xuất khẩu, theo nghĩa tăng mạnh hoạt động xuất khẩu các mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh.
Ba, chọn lọc nhập khẩu. Tranh thủ nhập khẩu các mặt hàng, công nghệ hiện mà các nước phát triển phải bán đi do kinh tế đi xuống.
Tất nhiên, Việt Nam cũng phải tiếp tục theo dõi sát tình hình trong và ngoài nước để xử lý linh hoạt và ứng xử hợp lý.
Tình hình chính sách tiền tề hiện nay của Việt Nam
Một số bạn đọc:
Thưa ông Huỳnh Thế Du và ông Vũ Thành Tự Anh, tôi được biết các ông là những chuyên gia tham gia các báo cáo về tình hình kinh tế Việt Nam dưới danh nghĩa Trường Đại học Harvard thực hiện theo đơn đặt hàng của Chính phủ Việt Nam. Tôi muốn biết khi thực hiện báo cáo này, các số liệu mà cơ quan chức năng cung cấp cho các ông có thực sự đủ độ tin cậy? Ông đánh giá thế nào về điều hành chính sách tiền tệ hiện nay của Ngân hàng Nhà nước?
Ông Vũ Thành Tự Anh:
Đúng là Chương trình Việt Nam (tại trường Harvard Kennedy) và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (trường Fulbright) gần đây có đưa ra một số báo cáo về nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là các vấn đề kinh tế vĩ mô và có tính cơ cấu.
Trong những nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, cả bên trong và bên ngoài. Khi sử dụng số liệu thống kê, chúng tôi luôn có một số nguyên tắc nhất định.
Thứ nhất, chúng tôi chủ yếu chỉ sử dụng các nguồn dữ liệu chính thức, được công bố rộng rãi. Trên thực tế, chỉ trừ một số trường hợp hy hữu khi số liệu thống kê chính thức không tồn tại (chẳng hạn như về giá bất động sản ở khu vực Nam Sài Gòn trong 2 năm trở lại đây) thì chúng tôi mới tự tiến hành điều tra.
Thứ hai, chúng tôi luôn tìm cách đối chiếu các nguồn dữ liệu khác nhau để từ đó có thể sử dụng các nguồn dữ liệu có sự nhất quán nội tại cao. Và tất nhiên, trong một số trường hợp, chúng tôi có cơ sở để cho rằng số liệu chính thức do các cơ quan nhà nước công bố chưa chính xác. Trong những trường hợp này, chúng tôi sẽ trình bày cẩn thận cách chúng tôi thu thập, xử lý dữ liệu và đưa ra sự khác biệt trong ước tính của mình so với số liệu chính thức.
Về câu hỏi thứ hai của bạn về cách điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Theo tôi, trong đa số trường hợp, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước vẫn đi sau thị trường, và trên thực tế, chịu nhiều sức ép của thị trường, và do vậy có thể không nhất quán. Một ví dụ khá điển hình là việc yêu cầu 41 tổ chức tín dụng mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc và áp đặt lãi suất trần (tức là đi ngược lại tiến trình tự do hóa lãi suất).
Tôi vẫn giữ ý kiến trước đây của mình rằng mặc dù Ngân hàng Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước những quyết định chính sách của mình cũng như hệ quả của chúng đối với nền kinh tế, tuy nhiên trong điều kiện Ngân hàng Nhà nước không được độc lập (về mặt tài chính, nhân sự, và chính sách) thì rất khó có thể điều hành chính sách tiền tệ một cách chuyên nghiệp và hiệu quả.
Cũng cần nói thêm rằng, việc điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam không chỉ được giao cho Ngân hàng Nhà nước mà Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia cũng đóng vai trò hết sức quan trọng.
Ông Huỳnh Thế Du:
Về phần dữ liệu, anh Tự Anh đã đề cập. Tôi xin trao đổi trước câu hỏi về chính sách tiền tệ.
Nếu so với thời điểm đầu năm hay trước đó thì dường như Ngân hàng Nhà nước đã có sự linh hoạt và uyển chuyển hơn trong việc điều hoà dòng chảy của tiền đồng và đã có những can thiệp cần thiết trên thị trường ngoại hối.
Tuy nhiên, có một điểm tôi vẫn đang cảm thấy băn khoăn mà như anh Tự Anh đã nêu là vấn đề tỷ giá.
Đồng ý là trong thời gian qua dòng ngoại tệ đổ vào nhiều cộng với việc chính sách tiền tệ thắt chặt làm cho tiền đồng có xu hướng tăng giá, nhưng xét về mức độ lạm phát khác nhau giữa tiền đồng và đồng đô-la thì với tỷ giá như hiện nay, tiền đồng đã tăng giá rất mạnh. Điều này tác động rất lớn đến hoạt động xuất khẩu, hoạt động mà khả năng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian tới.
Do vậy, trong bối cảnh hiện tại, theo tôi, Ngân hàng Nhà nước nên tìm cách giải bài toán tỷ giá để giảm khó khăn cho các đơn vị xuất khẩu. Đây là bài toán khó, nhưng nếu không giải nó thì hoạt động ngoại thương nói riêng, khả năng cạnh tranh cũng như kinh tế Việt Nam nói chung sẽ ở vào vị thế rất bất lợi.
Tác động cụ thể của khủng hoảng
Huyền Nhung (dohuyennhung76@yahoo.com):
Xét cụ thể về tác động của cuộc khủng hoảng này, theo các chuyên gia, những lĩnh vực nào cần lưu ý, chúng ta có thể “mất” ở những khả năng nào?
Ông Mạc Quang Huy:
Như tôi đã phân tích ở trên, các tác động tới Việt Nam mang tính gián tiếp chứ không dẫn đến đổ vỡ mang tính hệ thống.
Theo xác nhận của Ngân hàng Nhà nước, nguồn dự trữ ngoại tệ của Việt Nam được gửi tại các ngân hàng an toàn. Các doanh nghiệp Việt Nam chưa đầu tư nhiều ra quốc tế. Với việc các quốc gia bảo lãnh hệ thống ngân hàng thì chúng ta cũng không lo các khoản tiền gửi liên ngân hàng tại thị trường quốc tế.
Tuy nhiên tác động của khủng hoảng quốc tế trong khi tình hình trong nước còn khó khăn thì chúng ta cũng phải hết sức thận trọng.
Theo quan điểm cá nhân tôi, Việt Nam cần ưu tiên nguồn lực để giải quyết các vấn đề của riêng Việt Nam, đó là vấn đề lạm phát và nguy cơ bùng phát nợ xấu ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu đang ở giai đoạn nào?
Một số bạn đọc:
Theo các chuyên gia đánh giá thì cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang ở giai đoạn nào của tiến trình khủng hoảng?
Ông Huỳnh Thế Du:
Đây là một câu hỏi rất khó trả lời vì nó giống như một cơ thể đang bị bệnh hiểm nghèo chưa có tiền lệ nên các thầy thuốc vừa chuẩn đoán vừa kê đơn.
Nếu đoán đúng bệnh và kê đúng đơn thuốc thì khả năng sẽ dứt bệnh, nếu không thì sẽ trầm trọng hơn. Trên thực tế, có những phương thuốc được cho là mạnh nhưng lại không có tác dụng, cũng có phương thuốc thoạt đầu có vẻ tác dụng nhưng sau một vài ngày đã lờn.
Ví dụ cách thức giải cứu các ngân hàng do chính phủ Anh khởi xướng đã có tác động mạnh vào ngày thứ Hai, nhưng đến thứ Ba thì thị trường chựng lại và đến hôm nay khi mà các số liệu kinh tế Mỹ được công bố lộ ra nguy cơ suy thoái đã làm cho chỉ số chứng khoán Hoa Kỳ nói riêng, chứng khoán toàn cầu xuống dốc.
Nói chung tình hình hiện tại đang ở trong giai đoạn thử thách, rất khó nói là nó đã đến đỉnh điểm hay chưa. Trong thời gian tới sẽ như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách tiếp theo của các nước, lòng tin của thị trường cũng như những số liệu, những con số sẽ được đưa ra.
Ông Mạc Quang Huy:
Cám ơn bạn nhưng đây thực sự là một câu hỏi khó. Theo quan điểm cá nhân, tôi tin rằng cuộc khủng hoảng đã đi được một nửa quãng đường cần thiết, và đang đi tiếp quãng đường còn lại.
Sau khi xảy ra sụt giảm mạnh thị trường bất động sản tại Mỹ dẫn đến sự sụt giảm chứng khoán, chúng ta vừa chứng kiến giai đoạn căng thẳng nhất của cuộc khủng hoảng khi các nhà đầu tư bị thua lỗ lớn, biên độ tín dụng tăng cao, thị trường tín dụng gần như đóng băng tạo ra sự đổ vỡ nhiều định chế tài chính trên phạm vi toàn cầu.
Sau khi thị trường tài chính điều chỉnh giảm về vùng đáy thì sẽ là tác động suy thoái kinh tế. Suy thoái kinh tế có thể dẫn đến thất nghiệp, nợ xấu và tác động ngược lại thị trường tài chính tại từng thời điểm trong chu kỳ phục hồi. Do đó tôi cho rằng chu kỳ phục hồi diễn ra cũng có những điểm nhạy cảm.
Do nguồn vốn cạn kiệt, chi phí huy động vốn cao và sức cầu suy giảm toàn cầu nên sẽ mất nhiều năm để nền kinh tế khôi phục. Các chính phủ hiện đang làm hết sức mình để tạo niềm tin đối với thị trường và giữ hệ thống tài chính khỏi sụp đổ.
Trong giai đoạn tới có thể là chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm kích thích nền kinh tế phục hồi. Khi giá nhà đất và chứng khoán đến giảm đến một mức nào đó thì sẽ có sức cầu đón mua.
Thị trường nhà đất phục hồi sẽ kích thích nhu cầu đầu tư, điều này sẽ làm giá trị các chứng khoán hình thành từ chứng khoán hóa bất động sản cũng tăng theo. Hiện tại các tài sản này được coi là tài sản xấu (distressed assets).
Do thị trường chứng khoán luôn đi trước nền kinh tế khoảng 6 tháng, nên sự phục hồi của nền kinh tế sẽ dẫn đến sự phục hồi của thị trường chứng khoán.
Tôi tin rằng chúng ta đang trải qua những thời khắc nguy kịch nhất và chúng ta sẽ phải đi tiếp quãng đường còn lại. Đó là cái giá phải trả cho bất kỳ cuộc khủng hoảng nào.
Ảnh hưởng của việc Ngân hàng Việt rú tiền về từ ngân hàng nước ngoài
Ngoc Anh:
Xin hỏi ông Cao Sĩ Kiêm. Vừa rồi qua báo chí tôi có biết được rằng hiện đã có một số ngân hàng Việt Nam rút tiền gửi tại các ngân hàng nước ngoài về. Từng là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ông có thể giải thích kỹ thêm về tiền gửi này ở dạng nào, rút về như vậy có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động ngân hàng?
Ông Cao Sỹ Kiêm:
Việc chuyển đổi cơ cấu các đồng tiền ở nước ngoài, gửi tiền ở các ngân hàng nước ngoài hay rút tiền gửi đó về nước là nghiệp vụ bình thường trong kinh doanh của các ngân hàng.
Việc một số ngân hàng rút tiền gửi ở nước ngoài về để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh trong nước cũng như chuyển sang các ngân hàng khác ở các khu vực khác an toàn hơn cũng là bình thường.
Việc rút và chuyển tiền này không ảnh hưởng gì tới hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam. Hơn thế nữa, việc này đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng này được an toàn và hiệu quả hơn.
Ảnh hưởng của việc chênh lệch lãi suất tiền gửi
Vũ Khánh Bình (khoabui1973@yahoo.com):
Do chênh lệch lãi suất tiền gửi USD trên thế giới và Việt Nam, nên có thể sẽ có làn sóng người nước ngoài vay tiền từ Mỹ đem sang Việt Nam gửi tiết kiệm để hưởng chênh lệch lãi suất khoảng 4%/năm. Việt Nam hưởng lợi gì và thiệt hại gì từ việc này? Các ngân hàng 100% vốn nưóc ngoài với lợi thế có lượng USD lãi suất thấp sẽ tác động thế nào tới thị trường tài chính Việt Nam? Áp lực lên tỷ giá VND/USD bị ảnh hưởng ra sao?
Ông Huỳnh Thế Du:
Thực ra không phải đến giờ này mà trong một thời gian qua khe hở giữa lãi suất tiền đồng so với ngoại tệ trong nước, ngoại tệ trong nước so với ngoại tệ nước ngoài đã xảy ra, nhưng tôi cho rằng dòng vốn chảy vào Việt Nam để hưởng chênh lệch lãi suất không nhiều, ngay cả ở những thời điểm kinh tế Việt Nam rất ổn định.
Điều này không xảy ra là do cũng giống như các nước đang phát triển hay thị trường mới nổi khác, các nhà đầu tư lo ngại những rủi ro có thể xảy ra đối với nền kinh tế.
Thứ nhất, ngay cả đối với các nhà đầu tư trong nước, cho dù tỷ giá giữa VND và USD đã được giữ ổn định trong nhiều năm nhưng dường như cũng chưa đủ thuyết phục để những người có ngoại tệ chuyển sang tiền đồng vì họ lo ngại khả năng đồng tiền bị mất giá. Thực ra tâm lý này xảy ra đối với hầu hết các nước chứ không riêng gì Việt Nam.
Thứ hai, lãi suất ở Mỹ chỉ vài ba phần trăm trong khi lãi suất USD ở Việt Nam gấp vài ba lần nhưng các nhà đầu tư bên ngoài cũng không đổ nhiều tiền vào Việt Nam vì kinh nghiệm của họ cho thấy khi có vấn đề gì xảy ra các nước đang phát triển thường áp dụng những biện pháp hành chính mạnh làm họ không được rút tiền ra nên họ lo ngại.
Với những gì đang xảy ra, theo dự báo dòng vốn chảy vào các nước đang phát triển, các thị trường đang lên mà trong đó có Việt Nam sẽ giảm do khẩu vị về rủi ro của các nhà đầu tư đã giảm đi rất nhiều và họ có xu hướng đầu tư vào những loại tài sản có tính an toàn cao hơn thay vì phiêu lưu mạo hiểm như trước đây.
Do vậy, ở vấn đề này, tôi cảm thấy lo ngại sự giảm sút của dòng vốn chảy vào nhiều hơn. Nếu điều này xảy ra cộng với chính sách tỷ giá gần như cố định hiện này vẫn được duy trì thì sức ép đối với đồng tiền trong nước sẽ gia tăng.
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nhiều bạn đọc:
Nhìn lại sự ứng phó của Chính phủ Mỹ và những quốc gia lớn trên thế giới, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm nào cho Việt Nam?
Ông Bùi Kiến Thành:
Trong một thời gian dài, các cơ quan giám sát tài chính của Mỹ đã không quan tâm đến việc giám sát các công ty tài chính của Phố Wall.
Ví dụ như đánh giá hệ số tín nhiệm (Credit Rating) các sản phẩm phái sinh này là có vấn đề, trong khi đó các nhà đầu tư dựa trên hệ số tín nhiệm của sản phẩm này để quyết định đầu tư.
Cơ quan giám định đã không làm hết chức năng của mình để tìm hiểu thực sự các sản phẩm làm tài sản thế chấp cho các trái phiếu phát hành.
Thứ hai, các định chế tài chính Phố Wall phát hành ra các trái phiếu phái sinh nhưng lại không kiểm tra và đánh giá các hợp đồng cho vay thế chấp dùng làm tài sản bảo đảm có đủ tiêu chuẩn chất lượng hay không.
Tại đầu nguồn, các tổ chức tài chính cho vay thế chấp bất động sản đã bất chấp người vay không có khả năng thanh toán mà vẫn tạo điều kiện cho vay.
Các hợp đồng cho vay này đã hỗ trợ cho thị trường bất động sản Mỹ phát triển rất mạnh trong suốt 10 năm, nhưng điều này thì rất nguy hại cho nền kinh tế Mỹ và toàn cầu.
Việt Nam nên rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng này để thận trọng hơn trong các họat động tài chính, đặc biệt là cho vay kinh doanh bất động sản ở Việt Nam.
Bài học quan trọng nhất là các cơ quan quản lý nhà nước phải giám định chặt chẽ hoạt động của các định chế tài chính, tránh "ngủ gục" trên "tay lái" của mình.
Chính phủ Mỹ đang rất lo ngại về việc mất thanh khoản của thị trường tài chính và sự co hẹp của thị trường tín dụng là một yếu tố đưa đến suy trầm và suy thoái kinh tế Mỹ. Vì vậy, Việt Nam cần xem lại chính sách tiền tệ, thắt chặt tín dụng đang được triển khai và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế Việt Nam, và sự sống còn của các xí nghiệp lớn, nhỏ.
Ông Mạc Quang Huy:
Những gì diễn ra trong thời gian qua cho thấy bài học về khủng hoảng niềm tin. Để ngăn chặn khủng hoảng niềm tin, cần có các hành động quyết đoán, triệt để, kịp thời và thống nhất trên cơ sở minh bạch thông tin.
Như chúng ta thấy khi Hạ nghị viện Mỹ từ chối phê chuẩn gói cứu trợ 700 tỷ USD đã tạo ra làn sóng bán tháo cổ phiếu. Việc phê chuẩn sau đó cũng như việc cắt giảm lãi suất toàn cầu đã không ngăn chặn được làn sóng bán tháo.
Chỉ đến đầu tuần qua khi các chính phủ nhiều nước đứng ra cam kết đảm bảo thanh toán hệ thống ngân hàng và cam kết bơm nguồn vốn lớn vào thị trường thì niềm tin mới quay trở lại.
Việt Nam cũng đã học được các bài học trên từ cuộc khủng hoảng trong nước diễn ra hồi tháng 6. Mặc dù lúc đầu dường như khá lúng túng, song Việt Nam đã giải quyết khủng hoảng một cách sắc nét, được thế giới đánh giá cao.
Nhóm giải pháp toàn diện chống lạm phát được đưa ra cùng các thông tin minh bạch như dự trữ ngoại hối đã giúp khôi phục niềm tin. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn cần thực hiện triệt để các giải pháp đưa ra như việc minh bạch hóa các kết quả cắt giảm dự án công.
Hơn nữa do sự hội nhập của nền kinh tế toàn cầu, các giải pháp chống khủng hoảng ngày nay đòi hỏi sự thống nhất giữa các quốc gia. Sự nỗ lực của các quốc gia trên phạm vi toàn cầu trong đợt khủng hoảng vừa qua là một ví dụ minh chứng.
Thiết nghĩ ở cấp quốc gia, Việt Nam cũng cần xây dựng các chiến lược xử lý khủng hoảng trên cơ sở phân tích tình huống nhằm chuẩn bị tốt hơn cho tương lai.
Ông Huỳnh Thế Du:
Theo tôi, trong tình huống này, bài học lớn nhất có thể rút ra là tại sao nước Mỹ nói riêng và các nước phát triển nói chung lại để cuộc khủng hoảng tồi tệ như vậy lại có thể xảy ra.
Nhiều người cho rằng, trong thời gian tới các quy định hay luật lệ chế tài hoạt động của các tổ chức tài chính ở Hoa Kỳ cũng như nhiều nước khác sẽ chặt chẽ là hà khắc hơn.
Trong câu chuyện này, đối với Việt Nam nói riêng các nước nói chung, theo tôi, bài học từ việc cứu thị trường khỏi sụp đổ là không nhiều, vì khi đám cháy xảy ra việc cần làm duy nhất là dập tắt lửa trước đã.
Vấn đề ở đây là cần theo dõi chặt chẽ sự vận hành khó lường hay sự biến ảo của thị trường để có những uốn nắn hợp lý. Thị trường luôn có những thất bại của nó, nếu để nó hoàn toàn tự do sẽ gây ra những tác động tiêu cực, nhưng nếu can thiệp vào nó một cách thô bạo thì hậu quả cũng không kém phần nghiêm trọng.
Số lượt đọc:
5940
-
Cập nhật lần cuối:
21/11/2008 02:09:19 PM |