“Chúng ta dù đã gia nhập WTO vẫn cứ giữ tầm nhìn của một anh trai làng”, ông Tuyển tự trào. Nhưng, trai làng mà không biết sợ, không tự ti thì cũng sẽ làm được chuyện lớn! Sau 4 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thành quả đạt được dù không nhỏ nhưng theo ông Trương Đình Tuyển, nhà đàm phán có công lớn đưa Việt Nam vào WTO, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự là “công dân toàn cầu” như lẽ ra phải thế. Hãy nghe những góp ý thẳng thắn, chân tình của ông dành cho doanh nghiệp và xem ông sẽ làm gì nếu là doanh nhân.
Việt Nam gia nhập WTO vừa tròn 4 năm, thành quả đạt được của 4 năm đó có được như mong đợi của ông?
Thay cho câu trả lời đã như mong đợi hay chưa, tôi xin nhận xét như thế này: Chúng ta đã tận dụng được cơ hội nhưng chưa triệt để, đã vượt qua một số thách thức nhưng vẫn chịu sức ép rất lớn và hiệu quả của chính sách vẫn là vấn đề cần lưu tâm.
Cụ thể đó là những cơ hội nào?
Cũng cần nói thêm rằng, Việt Nam nằm trong một tình huống khá đặc biệt là vừa gia nhập WTO 1 năm thì khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, nên rất khó phân định đâu là cơ hội và thách thức từ WTO, đâu là tác động của khủng hoảng.
Nhưng rõ ràng, năm 2007, ngay sau khi vào WTO, Việt Nam đã chứng kiến một làn sóng đầu tư nước ngoài mạnh mẽ. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm đó đạt tới 64 tỉ USD. Các nhà đầu tư nước ngoài tìm đến Việt Nam lúc đó đều là các tên tuổi lớn, có tiềm lực tài chính và năng lực công nghệ dồi dào như Intel, General Electric. Xuất khẩu năm 2007 cũng tăng cao. Đến năm 2008, 2009 thì tăng chậm, nhưng vẫn đạt mức dương. Đặc biệt, năm 2010 xuất khẩu đã lấy lại đà tăng trưởng, có khả năng tăng trên 24%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đặt ra. Đặc biệt là Việt Nam đã tận dụng cơ hội tạo vị thế trên mặt trận ngoại giao, nhất là năm 2010.
Và thách thức nào chúng ta chưa vượt qua được?
Phản ứng chính sách chưa hiệu quả. Điều này đã được nhắc đến khá nhiều, nhất là trước sự biến động của tỉ giá, giá vàng và lãi suất. Chúng ta chưa đưa ra tín hiệu rõ ràng để định hướng thị trường, làm cho doanh nghiệp không chọn được phương hướng hoạt động.
Ông vừa nói đến tính khó dự báo của chính sách, có thể nói là mối quan ngại lớn nhất của doanh nghiệp làm ăn tại Việt Nam. Theo ông, có thể khắc phục điều này như thế nào?
Thực tế, khả năng dự báo trong bối cảnh thế giới biến động như hiện nay là rất khó. Ngay cả các tổ chức giàu kinh nghiệm về dự báo như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng thay đổi dự báo liên tục, nên việc chúng ta dự báo chưa chính xác cũng dễ hiểu. Đặc biệt, thế giới đang chứng kiến sự mâu thuẫn sâu sắc trong chính sách kinh tế của các nước: cùng một thời điểm nhưng một bên thì bơm tiền để kích thích tăng trưởng (như Mỹ), bên kia lại thắt chặt tiền tệ để giảm nợ công (khu vực đồng euro).
Các nhà làm chính sách của chúng ta, không có cách nào khác, là phải luôn cập nhật thông tin và đưa ra tín hiệu rõ ràng để doanh nghiệp nắm bắt được.
Còn ở cấp độ doanh nghiệp, ông đánh giá thế nào về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam?
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động của 2 yếu tố. Thứ nhất là năng lực cạnh tranh vĩ mô, cũng gồm 2 phần, nói nôm na là phần cứng và phần mềm. Phần cứng là cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc và dịch vụ công. Phần mềm là chính sách vĩ mô.
Thứ hai là năng lực cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp. Điều này thể hiện qua 4 tiêu chuẩn là chất lượng nguồn nhân lực, tiềm lực vốn, tiềm lực công nghệ và năng suất lao động. Nhìn qua các tiêu chí này thì có thể thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam còn khá yếu, nhất là về năng suất lao động. Có một thống kê chỉ ra rằng năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam chỉ bằng 4,2% của Mỹ.
Rất nhiều doanh nghiệp ngại cạnh tranh với Trung Quốc, thậm chí họ chọn cách né thị trường này. Ông nhận định thế nào về điều đó?
Thị trường mở rộng, việc ở cạnh Trung Quốc là thách thức rất lớn, nhưng mặt khác cũng tạo ra không ít cơ hội. Trung Quốc đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Việt Nam nên tận dụng điều này để đẩy mạnh xuất khẩu vào nước họ. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc năm nay tăng khá cao, có những mặt hàng tôi không nghĩ có thể cạnh tranh nhưng lại tăng cao, như hàng điện tử. Nguyên nhân là có những mặt hàng Trung Quốc không còn lợi thế cạnh tranh về giá nữa vì chi phí tiền lương tăng; họ phải chuyển dịch lên nấc thang mới với công nghệ cao hơn.
Còn cạnh tranh với Trung Quốc, cách tốt nhất là tạo ra sự khác biệt, không đi theo cách họ làm. Chẳng hạn, hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng rất cao, không hề bị hàng Trung Quốc lấn át, vì chúng ta đi theo chất lượng, không đi theo giá rẻ.
Trước đây, khi nói về thách thức của việc gia nhập WTO, ông thường nhấn mạnh phải giữ được hệ thống phân phối. Bây giờ nhìn lại ông thấy chúng ta có giữ được không?
Trong cạnh tranh, ai nắm được hệ thống phân phối thì nắm được thị trường. Hiện nay, doanh thu hàng hóa bán lẻ và tiêu dùng tăng rất cao, khoảng 25-26% và đóng góp 14-15% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Khi mở cửa hệ thống phân phối, chúng ta cũng đã nhìn nhận trước cơ hội và thách thức. Thách thức lớn nhất là doanh nghiệp trong nước phải đối đầu trực tiếp với các đối thủ nước ngoài giàu kinh nghiệm và mạnh về tài chính. Còn cơ hội là điều này tạo ra áp lực cạnh tranh, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư phát triển hệ thống phân phối. Tuy nhiên, phải nói rằng chúng ta đã chậm chân trong việc phát triển hệ thống phân phối, nên sức ép cạnh tranh đang ngày càng tăng lên.
Có phải chúng ta đã mở cửa thị trường phân phối quá sớm?
Tôi không cho là như vậy. Tại sao chúng ta mở cửa thị trường phân phối vào năm 2009? Đó là do điều kiện của Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ đã được thỏa thuận từ năm 1999. Nghĩa là, chúng ta đã có lộ trình 10 năm mới cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong lĩnh vực phân phối. Và tôi, với tư cách là người chỉ đạo đàm phán, đã nghĩ rằng 10 năm là đủ để chúng ta chuẩn bị. Thế nhưng, thực tế lại không như vậy. Trong 10 năm đó doanh nghiệp chưa ý thức được tầm quan trọng của hệ thống phân phối nên đã không đầu tư. Chính sách lại chưa hợp lý. Thời điểm đó, doanh nghiệp vay đầu tư sản xuất thì được hưởng lãi suất thấp vì chúng ta cho rằng sản xuất mới tạo ra giá trị, còn vay để đầu tư hệ thống phân phối thì phải chịu lãi suất cao.
Bây giờ Chính phủ không còn phân biệt vay sản xuất và vay thương mại, nên giữ được hệ thống phân phối hay không phụ thuộc vào năng lực doanh nghiệp. Tôi tin rằng trước áp lực cạnh tranh họ buộc phải đầu tư thôi, mặc dù bây giờ chi phí sẽ cao hơn trước. Và quan trọng là chính quyền địa phương phải đứng về phía doanh nghiệp, vì hiện nay có tình trạng nhiều địa phương từ chối doanh nghiệp trong nước để dành những vị trí đẹp cho nhà đầu tư nước ngoài.
Tình trạng này là có thật và vì thế có nhiều đánh giá rằng chúng ta sính ngoại. Mức độ mở cửa thị trường và mở cửa đầu tư của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực (Thái Lan, Trung Quốc…) khá nhiều dù họ gia nhập WTO sớm hơn.
Thực ra, việc các địa phương ưu ái cho nhà đầu tư nước ngoài cũng dễ hiểu, nhất là những nơi chưa thu hút được nhiều vốn. Vì đầu tư nước ngoài thường lớn nên sẽ nộp thuế nhiều hơn, lại tạo ra cơ sở khang trang hiện đại, làm thay đổi bộ mặt địa phương. Nhưng đó chỉ là tầm nhìn ngắn.
Nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam phải tự bơi, trong lúc mọi điều kiện dường như đều đang ủng hộ doanh nghiệp nước ngoài?
Không hẳn vậy. Khi cam kết gia nhập WTO, chúng ta có đưa ra một điều khoản gọi là “kiểm tra nhu cầu kinh tế” mà nhà phân phối nước ngoài khi muốn mở cơ sở thứ hai phải tuân thủ. Tuy nhiên, Bộ Công Thương đã chậm ban hành các quy định để áp dụng điều khoản này và thực tế cũng có ít nước áp dụng điều khoản này.
Cụ thể thì kiểm tra nhu cầu kinh tế là như thế nào?
Kiểm tra nhu cầu kinh tế quy định rằng nếu muốn mở thêm điểm phân phối thứ hai, nhà đầu tư nước ngoài phải đảm bảo 2 điều kiện.
Một là sự ổn định của hệ thống bán lẻ đã hình thành. Việc có thêm nhà đầu tư tham gia phân phối có thể gây ra những tác động như họ sẽ hút hết khách hàng, làm cho các hộ kinh doanh nhỏ bị giảm doanh thu, thậm chí thất nghiệp. Ở nước ta cách kinh doanh nhỏ lẻ này lại rất phổ biến, có tới hàng triệu hộ. Điều khoản này nói nôm na là khi doanh nghiệp nước ngoài mở thêm điểm phân phối thì tổng doanh thu bán lẻ tăng, làm thế nào để anh vào chỉ chiếm phần tăng đó thôi, chứ không lấn sang phần doanh thu sẵn có của doanh nghiệp trong nước.
Thứ hai là không làm ảnh hưởng đến quy hoạch và giao thông. Như vậy, việc cho lập hệ thống phân phối trong trung tâm thành phố, thậm chí là tại những vị trí đẹp, tại các giao lộ lớn như chúng ta đang làm là không hợp lý.
Nhưng ranh giới giữa kiểm soát hệ thống phân phối theo điều khoản này và khả năng bị quy kết bảo hộ là rất cao?
Nhiều người cho rằng đây là tư tưởng bảo hộ, nhưng không phải. Điều khoản này khi gia nhập WTO chúng ta phải đấu tranh mới giành được. Gần chúng ta nhất có Malaysia đã từng có thời gian không cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào phân phối. Họ làm được điều này là do đã vào WTO từ năm 1995, khi đó các điều khoản về thương mại và phân phối chưa chặt chẽ.
Việt Nam không có chủ trương “cài then đóng cửa”, vẫn mở cửa thị trường phân phối để tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước đầu tư và lớn mạnh. Vậy làm thế nào để bảo vệ hệ thống phân phối? Chúng ta có thể cho rất nhiều hãng phân phối nước ngoài vào, nhưng mỗi hãng chỉ được mở một số cơ sở bán lẻ nhất định và nhất là hạn chế kinh doanh theo chuỗi, vì thế mạnh của phân phối nằm ở dạng chuỗi.
Vậy bao giờ điều khoản này mới được áp dụng?
Bộ Công Thương đang tích cực làm điều này, soạn dự thảo nghị định về quản lý dịch vụ bán lẻ, trong đó có quy định kiểm tra nhu cầu kinh tế. Dự kiến chậm nhất là trong 6 tháng đầu năm 2011 Bộ sẽ trình Chính phủ.
Theo ông, doanh nghiệp phải làm gì để cạnh tranh trong phân phối?
Họ phải nằm lòng rằng, muốn tăng doanh thu thì phải mở rộng phân phối. Ngay như ngân hàng, từ khi khái niệm “ngân hàng bán lẻ” bắt đầu phát triển ở Việt Nam thì số lượng chi nhánh ngân hàng cũng tăng nhanh chóng. Hễ nói đến bán lẻ là nói đến mở rộng hệ thống phân phối.
Đặc biệt là doanh nghiệp phải liên kết lại. Tính liên kết của doanh nghiệp Việt Nam rất yếu. Tôi lý giải điều này là do tư tưởng tiểu nông có dấu ấn quá mạnh trong người Việt Nam. Chúng ta dù đã gia nhập WTO vẫn cứ giữ tầm nhìn của một anh trai làng, không thích giao du, kết bạn với bên ngoài.
Giả sử ông là chủ doanh nghiệp, ông sẽ làm gì để cạnh tranh?
Trước hết, tôi muốn nói về những thuận lợi mà doanh nghiệp hiện nay đang có, so với trước kia. Thứ nhất, thể chế luật pháp ngày càng thông thoáng, cải cách thủ tục hành chính làm chi phí giao dịch giảm đáng kể. Thứ hai, thị trường đã được mở rộng. Tất nhiên vẫn còn nhiều thách thức, như chính sách còn chưa đồng bộ, chưa thực sự minh bạch, cơ sở hạ tầng vẫn là trở ngại.
Vậy tôi sẽ làm thế nào?
Đầu tiên là phải chọn chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường đúng. Cạnh tranh là đưa đến cho khách hàng một giá trị phù hợp với nhu cầu của họ và cách truyền đạt giá trị đó đến với họ, chứ không phải bán cái tốt. Vì cái tốt nhất thường đắt tiền và không phải ai cũng mua được.
Tiếp đó là phải đầu tư phát triển nguồn nhân lực và phát triển hệ thống phân phối, như tôi đã trình bày ở trên. Và cuối cùng, quan trọng nhất, là phải tạo ra sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh. Muốn làm được điều này, trước hết phải xác định rõ lợi thế cạnh tranh của mình là gì. Tôi xuất thân là dân kỹ thuật, nên sẽ lấy việc đầu tư vào sản xuất làm ví dụ. Khi đầu tư vào sản xuất, có 2 tiêu chí để lựa chọn. Nếu đầu tư vào sản phẩm mà công nghệ sản xuất thay đổi chậm, không thể tạo khác biệt bằng công nghệ, lại đi sau nên chi phí sẽ cao hơn, thì phải xác định lợi thế cạnh tranh của mình là gì (gần vùng nguyên liệu, chi phí nhân công thấp…) và bám theo đó mà làm. Chẳng hạn, công nghệ hóa dầu mấy chục năm nay vẫn là cracking nhiệt, xi măng vẫn là lò quay.
Nếu đầu tư vào công nghệ thay đổi nhanh, vòng đời sản phẩm thấp như hàng điện tử, thời trang… thì phải đi ngay vào cái hiện đại nhất, nếu không thì không thể cạnh tranh.
Nhiều đánh giá cho rằng bản lĩnh cá nhân của ông đóng góp không nhỏ vào thành công của việc kết thúc đàm phán, đặc biệt là sự tự tin trước những đối tác lớn. Điều đó do đâu mà có?
Khi đi đàm phán quả thật tôi rất tự tin, thậm chí tự hào về khả năng phản ứng của mình. Có 2 yếu tố làm nên sự tự tin này. Một là bản lĩnh cá nhân của một nhà đàm phán. Nó xuất phát từ yếu tố đầu tiên là mình nắm vững nguyên tắc, nắm luật chơi để kiên quyết bác bỏ những đòi hỏi bất hợp lý. Sau đó là sự nhạy bén để “đo” được đối tác muốn gì và xử lý theo hướng có lợi. Trên bàn đàm phán tôi không biết sợ, rất thẳng thắn và quyết đoán.
Tất nhiên sự tự tin của tôi cũng xuất phát từ nội lực của Việt Nam. Việt Nam là thị trường tương đối lớn, nên các nước cũng muốn Việt Nam gia nhập để khai thác.
Nhiều đối tác nước ngoài nhận định rằng, một trong cái thiếu của những doanh nghiệp Việt Nam là thiếu tự tin và điều này làm hạn chế khả năng cạnh tranh của họ. Ông có thể khuyến khích họ như thế nào?
Có 2 vấn đề của thời buổi hiện nay mà tôi rất mong doanh nghiệp Việt Nam luôn ghi nhớ.
Thứ nhất, “quy mô không bằng tốc độ”. Đừng tự ti vì mình nhỏ. Nếu anh nhỏ nhưng có chiến lược đúng thì sẽ phát triển nhanh.
Thứ hai, “tư duy mạnh hơn kinh nghiệm”. Cùng với tư duy, tôi muốn nhấn mạnh đến ý tưởng. Phải có ý tưởng táo bạo, thậm chí là lãng mạn một chút và dám chấp nhận mạo hiểm. Có những ý tưởng kinh doanh ban đầu bị cho là ảo tưởng, nhưng qua một thời gian rất ngắn đã thành công. Số lượt đọc:
173
-
Cập nhật lần cuối:
28/01/2011 02:30:23 PM |