Nói đến tranh tết là người ta nghĩ đến tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Tranh Đông Hồ là tranh khắc gỗ in màu, còn tranh Hàng Trống là tranh chỉ in bản khắc đen trắng, còn lại là tô màu bằng tay.
Văn hóa Hán đề cao chữ hơn tranh. Tranh thường vẽ theo ý tứ của một bài thơ cổ, hoặc một câu thơ cổ. Ảnh hưởng của nó thấy hằn rõ trên các dòng tranh dân gian Việt Nam nói trên, tranh nào cũng có những dòng chữ Hán (tranh Hàng Trống), hoặc chữ nôm (tranh Đông Hồ) trình bày ý tứ nội dung ở các góc tranh khá cô đọng.
 |
|
Tranh dân gian Đông Hồ miêu tả trò chơi Bịt mắt bắt dê |
Nếu phương Tây họ vẽ tranh theo lối thấu thị, mô tả chân thật thiên nhiên và con người thì tranh dân gian của ta lại khác hẳn. Các cụ ta xưa vẽ tranh theo lối mượn hình gửi ý. Nghĩa là chỉ mượn hình vẽ để gửi gắm ý tưởng của mình chứ không có dụng ý vẽ tranh. Xét về bản chất thì hầu như đó là những tranh trừu tượng , mà không phải là tranh phản ánh thông thường. Hầu hết các tranh đều chứa đựng những triết lí nhân bản rất sâu sắc phản ánh ước vọng thầm kín của mọi người...
Có thể nói đó là sự sáng tạo khá đặc biệt của các nghệ nhân dân gian làm cho tranh trở nên giàu ý nghĩa nhân văn, bức tranh trở thành một nhà giáo dục.
Nếu không hiểu điều này thì sẽ rất dễ đánh giá tranh dân gian là chẳng có gì, là loại sản phẩm không có giá trị gì về nghệ thuật, chỉ cốt để vui cửa vui nhà!.
Xin phân tích và giới thiệu một số tranh dân gian điển hình để bạn đọc cùng suy ngẫm khi thưởng lãm
* Bộ tranh đôi: “nhân nghĩa- lễ tri” của làng tranh Đông Hồ, đây là bộ tranh hàm ý chúc tụng.
Tranh NHÂN NGHĨA ( chữ ở góc tranh) vẽ bé trai ôm cóc.

Con cóc trong dân gian là con vật nhỏ bé nhưng dũng cảm, nhân nghĩa và tinh khôn, biểu lộ trong cổ tích “con cóc là cậu ông Giời”. Cóc nhỏ bé nhưng đã tập hợp được muôn loài lên kiện trời đòi mưa. Kết thúc là thắng lợi và ông Giời phải làm mưa cho hạ giới và nhận cóc là cậu như người trong nhà. Nên bé trai ôm cóc chính là ôm cái chí khí của cóc, cái nhân nghĩa của cóc, cái gan dạ của cóc. Người ta mong đứa trẻ lớn lên có được các đức tính tốt đẹp đó cho xứng với một đấng nam nhi ở đời..
Các cụ ta xưa đã khéo vận dung câu chuyện cổ tích đưa vào bức tranh vừa phản ánh sự ước mong, vừa ẩn chứa nội dung giáo huấn.
Tranh LỄ TRI( chữ ở góc tranh) vẽ bé gái ôm Rùa

Rùa là con vật sốg lâu nằm trong tứ linh( bốn con vật linh thiêng) Long-Li -Qui-Phương, là biểu tượng cao quí bền vững ngàn năm. Lễ là lễ nghĩa, Tri là hiểu biết đó là hai báu vật tinh thần mà mỗi người cần phải có. Hình tượng bé ôm rùa là hình tượng gìn giữ một giá trị tường tồn : lễ-tri.
Nhưng tại sao lễ-tri lại đặt vào hình tượng bé gái?
Trong cuộc sống, người mẹ có vai trò rất lớn trong việc nuôi dạy con cái. Có cái lí của nó khi trong nhân gian có câu “phúc đức tại mẫu”, người mẹ là người giữ gìn và truyền dạy cho con báu vật tinh thần trên. Mẹ là cội nguồn. Cái cội nguồn đó không bao giờ cạn vì chức năng sinh nở vốn là thiên chức của họ.
Bức tranh không chỉ phản ánh lòng mong mỏi điều tốt đẹp cho con cái mình, mà nó còn khẳng địnhvị trí của lễ- tri. Một xã hội có lễ tri thì có sự bền vững, sinh sôi và phát triển, đó chính là sự trường tồn.
Tranh ĐẠI CÁT ( ĐÔng Hồ), vẽ gà trống
Phía trên có trang trí hoa cúc, phía dưới là gà trống ( kê- cúc), biểu hiện cao sang. Đại cát là thể loại tranh chúc tụng. Gà trống là con vật có năm đức tính quí mà người đàn ông cần có : Mào đỏ, như mũ cánh chuồn, biểu tượng thành đạt tượng trưng cho VĂN. Đôi cựa như đôi kiếm sắc, tượng trưng cho VÕ. Gặp đối thủ chiến đấu đến cùng là DŨNG. Kiếm được mồi gọi bầy đàn đến chia sẻ, là NHÂN. Năm canh, gáy đúng thời khắc gọi là TÍN. Treo tranh này là thể hiện lòng tự tin, được tặng tranh này là điều vui mừng vì có bạn tri kỉ.
Tranh “ Tố Nữ”( Hàng Trống), vẽ bốn cô gái.

Bộ tranh này nổi tiếng về vẻ đẹp mượt mà thanh cao của các tố nữ, vừa sinh động , vừa duyên dáng. Các nàng mắt phượng mày ngài, cổ cao ba ngấn, tóc bỏ đuôi gà, một vẻ đẹp tiêu chuẩn của thiếu nữ một thời.
Trước đây người ta tưởng bức tranh chỉ nhằm giới thiệu vẻ đẹp tố nữ. Nghệ nhân chỉ mượn các đạo cụ biểu diễn để tạo dáng cho các nàng thêm sinh động.
Nhưng ta hãy cùng nhau xem kĩ :Bốn tố nữ đang ở tư thế hòa tấu. Các cô không cao bằng nhau: Cô đánh đàn cao nhất, rồi đến cô thổi sáo thấp hơn, cô cầm sênh thấp chút nữa. Và cuối cùng là cô cầm quạt.
Trong bốn đạo cụ này, thì tiếng đàn cho âm sắc cao nhất, rồi đến tiếng sáo, thứ đến tiếng lách cách của sênh và nhẹ nhất là tiếng phất gió của quạt. Đây là điểm mấu chốt của lối vẽ tranh mượn hình gửi ý. Các nghệ nhân đã lấy chiều cao số học biểu lộ cung bậc cao thấp của âm thanh để ca ngợi vẻ đẹp âm thanh của các đạo cụ. Cho nên Tố nữ thực sự là bức tranh siêu thực, vẻ đẹp không nằm ở chỗ tả người. Ý tưởng của nghệ nhân làm tranh tứ bình tố nữ tố nữ nằm ở chỗ sâu kín đó.
Tranh ĐÁM CƯỚI CHUỘT ( Đông Hồ)

Đám cưới chuột là bức tranh nổi tiếng được nhiều người biết đến với ý nghĩa là tranh đả kích thói tham nhũng của bọn quan lại, kẻ mạnh bắt nạt kẻ yếu. Chuột đón dâu muốn được yên thân thì phải đem cá, chim bồ câu rồi tấu nhạc tiến dâng. Bề nổi của tranh là như vậy.
Nhưng mèo cầm gì phải ăn bồ câu với cá, nó có thể chén luôn chuột là thứ nó thích hơn. Vậy mà ở đây chú miu lại ngồi vui vẻ nhận quà biếu, để yên cho chuột rước dâu. Ta thấy nghệ nhân đã chọn mối quan hệ mèo – chuột là mối quan hệ đối kháng để trình bày cách giải quyết mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình để cùng nhau tồn tại.
Vậy nên người ta có thể nghĩ đây không đơn thuần là tranh đả kích, mà là tranh mô tả về tập quán ứng xử giữa kẻ trên người dưới của thời phong kiến. Ngày nay sự biến tướng của tập quán ấy trở nên tràn lan và đám cưới chuột vẫn là câu chuyện có tính thời. Lũ chuột đục khoét, và bề trên bảo kê. Đương nhiên lũ chuột phải cống nạp để việc kiếm chác của chúng được che chở. chúng ta gọi đó là hối lộ và tham nhũng.
Tranh đám cưới chuột là bức tranh đa nghĩa.
Nguồn:
Nhà quản lý Số lượt đọc:
6254
-
Cập nhật lần cuối:
15/01/2009 10:56:21 AM |