F. Holderlin (1770-1843) được coi là một trong những nhà thơ trữ tình lớn nhất của Đức. Ông sinh tại vùng Swabia thuộc miền nam nước này. Ở tuổi 14, Holderlin đã bắt đầu làm thơ, những bài thơ này của ông được bạn bè và thầy cô giáo ở trường chuyền tay nhau đọc. Năm 1788, ông theo học tại trường Đại học Tuburgen. Ở đây ông đã học về Thần học và được cấp bằng cử nhân. Trong thời gian ấy, Holderlin đã kết bạn với nhà thơ, nhà soạn kịch Hiedrich Schelling (1770-1831) và triết gia Hegel. Họ là những người ủng hộ cuộc cách mạng Pháp (1789-1791).
Năm 1793, ông làm quen với Norbert von Hellinggrath, người đã cho công bố những bài thơ của ông.
Bước ngoặt trong cuộc đời Holderlin đến khi ông bị nghi ngờ có tình ý với một người đàn bà đã có chồng, mà ông đã gọi là “Diotina” trong một bài thơ của mình. Câu chuyện tình đầy trắc trở của họ bị ngăn cấm và kết thúc nhanh chóng. Nhưng sau đó có thời gian họ lại lén lút gặp nhau và thư từ qua lại. Lần cuối cùng hai người gặp lại nhau vào năm 1800. Sau này khi nghe tin người tình của mình qua đời, ông đã mắc bệnh trầm cảm, khủng hoảng tinh thần và thậm chí là mất trí.
Sau đó, Holderlin trở lại quê hương Swabia vào năm 1802. Khi này ông đã bị bệnh tâm thần phân liệt giai đoạn đầu. Đôi lúc tỉnh táo trở lại, Holderlin lại cố gắng dịch sách, soạn một số vở kịch. Đến năm1805, tinh thần của ông hoàn toàn suy sụp.
Trong suốt 36 năm cuối cùng của cuộc đời, Holderlin gần như luôn trong trạng thái mất trí. Ông sống với một gia đình người thợ mộc mến mộ thơ ông. Họ đã bố trí cho ông một căn phòng trên tầng thượng. Từ đây, Holderlin có thể nhìn thấy khung cảnh tuyệt đẹp của thung lũng Neckar. Do lâm bệnh nặng, ngày 07/06/1843, Holderlin đã qua đời.
Holderlin đã bắt đầu làm thơ từ khi còn là một thiếu niên, đã có những bài được xuất bản ở một số tạp chí nhỏ. Tuy nhiên tài năng của ông chưa được thừa nhận ngay, và sự nghiệp văn thơ cũng chỉ kéo dài ngắn ngủi khoảng 10 năm.
Thơ của Holderlin có sự pha trộn giữa cổ điển và lãng mạn, chúng giản dị mộc mạc, đối lập với cái chết và bóng tối, dung hòa với tình yêu, sự huyền bí của tự nhiên. Trong suốt thập niên cuối của thế kỷ XVIII, Holderlin đã hoàn thành tập thơ đầy cảm hứng sáng tạo, gồm nhiều bài thơ xuất sắc và đặc biệt là tác phẩm kinh điển “Hyperion” (1797-1799).
Sau khi Holderlin qua đời, thơ của ông biến mất một cách khó hiểu khỏi đời sống văn hóa trong thế kỷ XIX. Sau này chúng được tìm lại dần dần vào thế kỷ XX và được xuất bản trở lại cùng với những bản dịch mới.
Holderlin làm nhiều thể loại thơ. Đó là những bài thơ dài, những bản thánh ca, những bài thơ ngắn gọn nhưng cô đọng súc tích như thơ trào phúng, thơ đối, văn vần... Nhưng khi nói đến Holderlin, ngoài “Hyperion”, còn có 2 bài thơ trữ tình được xưng tụng là hay nhất, đó là “Brod und wein”, bài tưởng niệm Chúa Jesus và “Thần rượu nho Dionysus”.
Trong cách sử dụng cú pháp và thể loại thơ, Holderlin chịu một phần ảnh hưởng từ Friedrich Hegel (1724-1803), người cố gắng phát triển tiếng Đức lên cùng tầm với chữ Latin hay Hy Lạp cổ. Holderlin không những là một nhà thơ trữ tình vĩ đại nhất mà còn được coi là nhà tư tưởng lớn.
Holderlin cố súy chủ nghĩa anh hùng và mến mộ văn chương Hy Lạp cổ. Ông có cách hiểu rất riêng, rất độc đáo. Ông đồng cảm với quan điểm của người Hy lạp cổ về thần thánh chúa trời..., điều đó được thể hiện trong nhiều tác phẩm của ông đặc biệt là đoạn thơ tứ tuyệt cuối cùng của Hyperion.
Những tác phẩm của Holderlin cuồng nhiệt, mẫn cảm pha lẫn cách kể chuyện thủ thỉ của thể loại thần thoại. Có lẽ là do ông rất sùng kính văn hóa của người Hy Lạp cổ. Thơ của Holderlin hầu như đều ngắn. Cũng phải kể đến một tác phẩm theo thể loại bi kịch nhưng chưa hoàn thành: “Hyperion, order der Eremit in Griechenland” (1797-1799), vốn là một bản tình ca lãng mạn, thiết tha, sôi nổi, mãnh liệt kết hợp với chất trữ tình hoang dã trong thơ ca Hi Lạp cổ. Hyperion là câu chuyện về một thanh niên Hy Lạp đã tham gia vận động đồng bào của mình chống lại quân Turk hung bạo.
Tác phẩm Hyperion đã được xuất bản thành hai phần năm 1797 và năm 1799. Holderlin cũng đã soạn 3 vở kịch thuật lại truyền thuyết Epdoeles nhưng chưa hoàn thành. Holderlin còn công bố một bản dịch thơ Hy Lạp cùng với vài bài phê bình nhỏ.
Sinh thời, Holderlin là một nhà thơ chưa có tên tuổi, ông không còn được sống đến ngày thấy những đứa con tinh thần của mình được ra mắt rộng rãi. Những tác phẩm của ông có lúc đã bị lãng quên và trôi dạt. Chỉ đến đầu thế kỷ XIX chúng mới được tìm lại.
Thơ của Holderlin có ảnh hưởng đặc biệt đến mọi người, kể cả những thế hệ sau này. Triết gia nổi tiếng người đức Martin Heideger (1889-1976) đã có bài ca ngợi ông (1936) và được tác giả W. Brock (1949) dịch sang cuốn Existence and Being. Người ta còn nhấn mạnh rằng, ngay cả Nietzche cũng đã chú ý, nghiên cứu đề cập khá nhiều đến Holderlin, nhưng rất tiếc bản thảo đó đã không còn sau cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Năm 1943, người ta đã tổ chức lễ tưởng niệm ông ở Third Reich. Cũng thời gian ấy, tập hợp những tác phẩm của Holderlin đã được xuất bản đồng loạt thành 4 tập phổ biến rộng rãi đến người đọc.
Khúc ca định mệnh của Hyperion (đoạn kết)
Thần khí thiêng liêng, Người vươn tới nơi con
Trong ánh hào quang buông xuống chốn trần gian êm đềm
Thánh thần ngời sáng, dịu nhẹ như làn gió.
Người lướt quanh tựa bàn tay người thiếu nữ gẩy đàn
Trong giấc nồng say sưa, hồn vẫn du dương thầm kín
Từ Người, luồng khí thần tiên mạnh mẽ
Mộc mạc yên bình, trinh bạch
Như chồi lộc mới hé.
Và đôi mắt thánh thần tìm kiếm nơi vĩnh hằng trong vắt
Nơi yên nghỉ chứ không phải nơi để chịu đựng.
Cả sự mù quáng, suy tàn của loài người
Từ giờ này sang giờ kia
Như nước vỗ từ vách đá này tới vách đá kia,
Năm tiếp năm không dứt…
Xuôi đến nơi xa tít chẳng ai hay.
Trong nhiều bài thơ của mình, Holderlin đã cho rằng mình mãi là người hoài hương, luôn hướng đến bản nguyên thần thánh. Tính cách ấy như là một sự báo trước về thiên hướng trữ tình lãng mạn. Nhưng Holderlin đã nâng cảm xúc cá nhân vào một bối cảnh lớn hơn và cố gắng đưa mạch thơ của mình thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những cái ủy mị, sướt mướt không rõ ràng.
“Không ai có thể hiểu thấu chúa trời”, Holderlin đã viết như thế trong bài thơ “Patmos” của ông. Vì vậy, thay vì đi tìm kiếm sự có mặt của Chúa trời, nhà thơ gián tiếp thông qua tự nhiên để tìm dấu thánh. Ông cảm nhận được sông, núi, cánh đồng, vườn tược, và cả những người anh hùng lịch sử… cùng với những tiếng vọng của chúng. Điều đó giúp con người thực hiện được khát khao nắm bắt, hiểu thấu sự có mặt của thần thánh. Holderlin hướng tất cả sự chú ý vào những sự vật đơn lẻ, cô độc nhưng lại có ảnh hưởng rất mạnh đến con người. Việc tìm kiếm sự có mặt của Chúa là rất nguy hiểm, các linh hồn có thể dẫn con người đến sự tự hủy diệt. Lúc đó, Holderlin đã dường như run rẩy không chấp nhận Chúa trời.
Nhưng với sự run rẩy thần thánh ấy, Holderlin đã nhận ra bản chất “tự nhiên thuộc về Chúa trời”. Chúng ta cần biết về nó để dự đoán tương lai sẽ xảy ra của loài người. Chính vì thế ta thường thấy thiên nhiên trong thơ của ông có sự phân biệt rất riêng, ông cho rằng mùa đông đại diện cho những thứ già cỗi và cái chết, thế nhưng chúng sẽ dễ dàng bị xua tan nếu ở đâu đó có sự hiện của mùa xuân Chúa trời.
Bên trong trần gian
Thế gian rủ xuống
Mặt hồ tràn đầy sắc vàng
Những trái lê và những đóa hồng dại
Đôi thiên nga xinh đẹp, say mê với những nụ hôn
Chìm lặn trong nước thần tiên.
Nhưng khi mùa đông đến
Nơi ấy ta sẽ thấy
Hoa, ánh nắng mặt trời
Hay bóng tối trần gian?
Chỉ có một ta biết được
Những vách tường vẫn ở đó
Lặng thinh và hờ hững
Chỉ có chong chóng rít lên từng hồi trong gió
Số lượt đọc:
9
-
Cập nhật lần cuối:
06/12/2007 03:01:45 PM |