Khái niệm chung
Chứng khoán:
Là chứng chỉ xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ qua đầu tư chứng khoán và các chứng khoán khác theo quy định của pháp luật.
Thị trường chứng khoán (TTCK):
Là nơi giao dịch mua bán các chứng khoán trung và dài hạn, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, TTCK là một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Đối với nhà đầu tư, TTCK là một kênh đầu tư hấp dẫn, bên cạnh những lựa chọn khác như gửi tiền ngân hàng, mua vàng, ngoại tệ kinh doanh bất động sản... Thị trường chứng khoán gồm thị trường tập trung hoặc phi tập trung:
Thị trường chứng khoán tập trung là Sở giao dịch chứng khoán (Stock exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.
Thị trường chứng khoán phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thỏa thuận.
|
Thị trường chứng khoán nhiều khi được gọi trùng tên với sở giao dịch chứng khoán. Về thực chất, Sở giao dịch chứng khoán là một tổ chức (hay một công ty) có nhiệm vụ mang người mua và người bán chứng khoán và các chứng chỉ có giá đến với nhau và giúp họ thực hiện giao dịch. Các Sở giao dịch chứng khoán lớn trên thế giới được đặt tại các trung tâm kinh tế như Niu-oóc, Luân-đôn, Fran-phuốc, Duy-rích, Tô- ky-ô, Hồng Kông. Trong đó Sở giao dịch chứng khoán Niu-oóc là lớn nhất với giá trị tổng vốn hóa thị trường lên đến hơn 20 ngàn tỷ đô la, bao gồm cả 7 ngàn tỷ USD của những công ty ngoài nước Mỹ. Sở giao dịch chứng khoán được coi là bộ phận quan trọng của các nền kinh tế thị trường hiện đại. Các xu hướng trên thị trường chứng khoán được theo dõi bằng các chỉ số giá cổ phiếu. |
Cổ phiếu
Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phiếu được gọi là cổ đông của công ty, sẽ được phân chia phần lợi nhuận cũng như gánh chịu phần thua lỗ của công ty theo tỷ lệ cổ phần mà mình nắm giữ. Giá trị cổ phần của công ty được phản ánh thông qua giá cổ phiếu trên TTCK. Thông thường, giá cố phiếu sẽ đi lên khi công ty làm ăn phát đạt và ngược lại. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Các công ty cố phần thường phát hành 2 dạng cổ phiếu:
Cổ phiếu thường: Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; được quyền bầu cử ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty; đồng thời phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình.
Cổ phiếu ưu đãi: Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là loại hình đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử...v.v. Đây là loại chứng khoán lai tạp, vừa mang tính chất của một trái phiếu do có lợi tức cố định, vừa mang tính chất của cổ phiếu, do đó được xem là loại chứng khoán vốn.
|

Sàn giao dịch chứng khoán Nasdaq - Mỹ |
Trái phiếu
Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, trái phiếu là một khoản vay giữa nhà đầu tư (người cho vay) với nhà phát hành (người đi vay). Nhà phát hành có thể là Chính phủ cần huy động vốn cho ngân sách hoặc công ty cần huy động vốn để đầu tư phát triển kinh doanh. Trái phiếu thường có kỳ hạn cố định. Khi đến hạn, nhà phát hành sẽ hoàn trả tiền gốc. Tiền lãi sẽ được trả định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm trong suốt kỳ hạn của trái phiếu. Trái phiếu niêm yết có thể được tự do mua bán trên TTCK.
Chỉ số chứng khoán
Chỉ số giá cổ phiếu là thông tin rất quan trọng đối với hoạt động của thị trường, đối với nhà đầu tư và đánh giá kinh tế bởi nó thể hiện tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán. Tất cả các thị trường chứng khoán đều xây dựng hệ thống chỉ số giá cổ phiếu cho riêng mình. Chỉ số giá cổ phiếu là thông tin thể hiện giá chứng khoán bình quân hiện tại so với giá bình quân thời kỳ gốc đã chọn.
Ví dụ chỉ số Đao-giôn, là chỉ số giá chứng khoán bình quân của thị trường chứng khoán Niu-Oóc, một thị trường lớn nhất thế giới hiện nay, là chỉ số giá chung của 65 chứng khoán đại diện, thuộc nhóm hàng đầu (Blue chip) trong các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Niu-Oóc.
Một số khái niệm khác
Cổ tức là số tiền hàng năm được trích từ lợi nhuận của công ty phát hành để trả cho mỗi cổ phiếu mà cổ đông đang nắm giữ.
Niêm yết chứng khoán là việc cho phép chứng khoán của các tổ chức phát hành có đủ tiêu chuẩn được giao dịch trên thị trường tập trung.
Công ty niêm yết là những công ty có đủ điều kiện đưa cổ phiếu ra giao dịch trên TTCK, là nguồn cung cấp hàng hóa chủ yếu trên TTCK.
Mệnh giá là số tiền ghi trên tờ cổ phiếu hay trái phiếu khi phát hành. Hiện nay ở Việt Nam quy định cổ phiếu có mệnh giá 10.000 đồng và trái phiếu có mệnh giá tối thiểu 100.000 đồng.
|
Có hai dạng mua bán chứng khoán:
Người đầu cơ chứng khoán (nhằm đạt lợi ích trước mắt bằng sự táo bạo của mình), họ chớp thời cơ mua bán chứng khoán người ta gọi là người chóng vào, chóng ra. Có hai loại đầu cơ:
Đầu cơ theo kiểu "bò” - tức là đầu cơ theo giá lên. Họ dự kiến giá sẽ tăng, nên ký hợp đồng mua chứng khoán theo giá hiện tại với điều kiện ra giao sau, thanh toán sau (mua khống) khi đến hẹn giao, sẽ bán ra với giá cao thu lãi.
Đầu cơ theo kiểu gấu" - tức đầu cơ theo giá xuống. Người đầu cơ dự đoán cổ phiếu sẽ xuống và họ ký hợp đồng bán trước với điều kiện giao hàng sau, tức là họ bán khống, bán trước cái mà mình chưa có. Đến hẹn giao, giá cổ phiếu xuống, họ mua chứng khoán vào để giao
Người đầu tư: Đó là đa số công chúng mua cổ phiếu với mục đích cùng đầu tư kinh doanh. |
Nguyên tắc hoạt động của TTCK
|

Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo- Nhật |
Nguyên tắc trung gian
Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán đều được thực hiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới. Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng. Ngoài ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trong việc đầu tư...
Nguyên tắc đấu giá
Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán. Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này. Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động.
Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai. Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trường. Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, người quản lý , cổ đông đa số. Các thông tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút được nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán.
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó, ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay mỗi nước chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất nước đều có thể tiếp cận thị trường thông qua các phòng giao dịch của công ty chúng khoán mở tới các điểm dân cư) . Một số nước rộng lớn còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lại thì đều nối mạng với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt.
Thành phần tham gia trên TTCK
Nhà phát hành
Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK; là người cung cấp chứng khoán - hàng hóa của TTCK. Nhà phát hành bao gồm:
Chỉnh phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và địa phương .
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ,... phục vụ cho hoạt động của họ.
Nhà đầu tư
Là những người thực sự mua bán chứng khoán trên TTCK.
Nhà đầu tư cá nhân: Là những người có vốn tạm thời nhàn rỗi tham gia mua bán trên TTCK nhằm mục đích kiếm lời.
Các nhà đầu tư có tổ chức: Thường có các bộ phận chức năng với nhiều chuyên gia nghiên cứu có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư thường xuyên với số lượng lớn.
Nhà môi giới - Công ty chứng khoán
Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quán lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Các tố Chức quản lý điều hành TTCK

Ủy ban chứng khoán
Được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK.
Sở giao dịch chứng khoán
Thực hiện và vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau, phục vụ các hoạt động trên Sở giao dịch chứng khoán.
Hiệp hội Các nhà kinh doanh chứng khoán
Là tổ chức của các công ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung.
Thị trường sơ cấp
Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
Thị trường thứ cấp
Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, các chứng khoán được chuyển dịch từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản (chuyển từ chứng khoán sang tiền) cho các chứng khoán đã phát hành.
TTCK có vai trò gì?
|
Giữa thế kỷ 16, một viên quan đạt thần tài chính Anh Thơ-mét Grét-ham sau khi thị sát Bỉ và Hà Lan, về Anh đã thiết lập một “Mậu dịch trường" tại Luân-đôn nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán Luân-đôn. Các “Mậu dịch trường” khác cũng lần lượt được thành lập tại các địa điểm khác. Am-xtéc-đam năm 1602, Luân- đôn 1698, Niu-oóc 1792. Tô-ky- ô 1878, Hồng Kông 1891, còn Việt Nam, mãi đến tháng 7 năm 2000 mới có Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.

Sở giao dịch chứng khoán Luân - đôn buổi sơ khai
|
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Tạo môi trương giúp Chính phủ thục hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
Những hành vi tiêu cực trên TTCK
TTCK có vai trò quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế nhưng nếu không được vận hành đúng quy luật và không có sự giám sát chặt chẽ của pháp luật thì sẽ có những tác động tiêu cực. Sau đây là một số hành vi tiêu cực khá phổ biến:
|

Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông |
Đầu cơ chứng khoán, lũng đoạn thị trường
Một số nhà đầu tư lớn kết cấu với nhau để mua hoặc bán chứng khoán với số lượng lớn gây nên cung hay cầu giả tạo làm giá cổ phiếu tăng hay giảm đột biến gây lũng đoạn thị trường.
Bán khống
Dùng để chỉ các nhà đầu tư bán chứng khoán mà họ chưa có quyền sở hữu. Đây là hành vi lũng đoạn nếu có cấu kết của nhiều người, với số lượng lớn tạo cung cầu giả tạo gây khủng hoảng thị trường.
Mua bán nội gián
Là hành vi lợi dụng quyền hành hay sự ưu tiên trong việc nắm giữ các thông tin nội bộ của một công ty có phát hành chứng khoán đế cố tình mua vào hay bán ra cổ phiếu của công ty đó.
Làm thiệt hại lợi ích nhà đầu tư
Làm trái lệnh đặt mua, bán của người đầu tư; Không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy định; Tự ý mua bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng.
Thông tin sai sự thật
Là hành vi với mục đích làm giá cổ phiếu của công ty khác sụt giảm hoặc của công ty mình tăng cao do phao tin đồn thất thiệt trên thị trường.
Một số chỉ số giá chứng khoán nổi tiếng trên thế giới
|

Sở giao dịch chứng khoán Singapore |
Các loại chỉ số của Mỹ
Chỉ số Dow Jones. Là chỉ số giá chứng khoán tính cho 65 chứng khoán tiêu biểu nhất của TTCK Niu-Oóc. Chỉ số Dow Jones bao hàm 3 chỉ số thuộc 3 nhóm ngành: công nghiệp DJIA (Dow Jones Industrial Average) , vận tải DJTA (Dow Jones Transportation Average) và dịch vụ DJUA (Dow Jones Utilities Average) . Đây cũng là chỉ số được quan tâm nhiều bới ảnh hưởng của TTCK Niu-Oóc ra ngoài là rất đáng kể.
Chỉ số NASDAQ Composite Index (NASDACI): là chỉ số tổng hợp của 4.700 công ty Mỹ và nước ngoài niêm yết trên TTCK NASAQ.
Dow Jones World Stock Index: Là chỉ số bình quân giá trị của 2.600 công ty trên thế giới, đại diện cho 80% giá trị TTCK quốc tế. Hiện tại nó bao gồm 25 nước thuộc Bắc Mỹ, Châu âu, Á và Thái Bình Dương.
NASDAQ 100 Index, được tính từ 1985 cho 100 công ty phi tài chính lớn nhất được niêm yết trên NASDAQ.
S&P 500 (Standar and Poors’). Đây là chỉ số giá bình quân giá trị, tổng hợp của 500 loại cổ phiếu được niêm yết trên NYSE, AMEX và NASDAQ.
Nhật Bản
Nikkei 225, là chỉ số tổng hợp của 225 cổ phiếu thuộc Sở giao dịch chứng khoán Tô-ky-ô
và 250 cổ phiếu thuộc Sở giao dịch Ô-sa-ka.
TOPIX, Chỉ số này được tính cho tất cả chứng khoán niêm yết quan trọng của TTCK Tô-ky-ô.
Anh
FT - 30, là chỉ số của 30 cổ phiếu công nghiệp hàng đầu của TTCK Luân-đôn.
FT-SE 100, là chỉ số giá của 100 cổ phiếu hàng đầu tại Sở giao dịch chứng khoán Luân-đôn.
Một số chỉ số khác
CAC (Pháp), tính cho 240 cố phiếu hàng đầu tại Sở giao dịch chứng khoán Pa-ri.
DAX (Đức), tính cho 30 cổ phiếu hàng đầu của Đức.
COSPI (Chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp Hàn Quốc), được dựa trên tổng giá trị thị trường tất cả các loại cổ phiếu được niêm yết.
Các cuộc khủng hoảng chứng khoán điển hình
|
Diễn biến khủng hoảng Đông Á
Thái Lan: Ngày 14/05 và 15/05 năm 1997, đồng bạt Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn. Ngày 30/06, thủ tướng Thái Lan Cha-va-lít Yung-chai-út tuyên bố sẽ không phá giá bạt, song rốt cục lại thả nổi bạt vào ngày 02/07. Đồng bạt ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1/1998, nó đã xuống đến mức 56 bạt mới đổi được 1 đô la Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997.
Philipin: sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, đồng pê-sô vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 pê-sô ăn một đô la xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng. chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Phi-lip-pin giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997. Nó kéo theo việc đồng pê-sô thêm mất giá.
Hồng Kông: Tháng 10/1997, đô la Hồng Kông bị tấn công đầu cơ. Đồng tiền này vốn được neo vào đô la Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hồng Kông lại cao hơn ở Mỹ. Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công. Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hồng Kông đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình. Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ. Từ ngày 20/10 đến 23/10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23%.
Hàn Quốc: Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn. Ngày 28/11/1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11/12 lại hạ tiếp xuống B2. Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá. Riêng trong ngày 07/11, thị trường chứng khoán Xê-un tụt 4%. Ngày 24/11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ. Trong khi đó, đồng uôn giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD. |
|

Sở giao dịch CK Philippin - Thái Lan - Thâm Quyến(TQ) |
Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933
Tâm điểm của cuộc Đại suy thoái là sự kiện sụp đổ của thị trường chứng khoán phố Uôn vào ngày 29-10-1929, hay còn gọi là "ngày Thứ Ba đen tối", một trong những cuộc sụp đổ có sức tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử nước Mỹ. Sau vụ sụp đổ này giá cổ phiếu giảm liên tục trong suốt một tháng ròng, phục hồi lại chút ít rồi tiếp tục rớt thảm hại. Ngày 8- 7 - 1932 chỉ số Dow Jones đóng cửa ở mức 41.22 điểm, gần tương đương với mức khởi điểm năm 1896, mất giá đến 89% so với đỉnh cao của nó. Thị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc âu và Nhật Bản cũng đã bị lây lan và khủng hoảng theo.
“Thứ Hai đen tối”
Ngày 19 tháng 10 năm 1987 đã đi vào lịch sử nước Mỹ - ngày hoang mang cực độ của ngành tài chính Mỹ. Chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 508,32 điểm, tương ứng 22,6 % - mức giảm kỷ lục trong lịch sử thị trường chứng khoán. Hậu quả của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi nước Mỹ, mà còn mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Vào cuối tháng 10, các thị trường đều ghi nhận sự sụt giảm ghê gớm: Úc - 4l,8%; Canada - 22,5%; Hồng Kông - 45,8%; Anh - 26,4%. Ảnh hưởng của cuộc suy thoái đã phá vỡ thị trường tài chính, thậm chí gây ra khủng hoảng đối với ngành bảo hiểm và tiết kiệm - cho vay ở Mỹ.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại Châu Á tháng 7- 1997
Bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rỏi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á". Inđônêxia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này. Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philíppin cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình. Còn Trung Quốc, Đài Loan, Singapo và Việt Nam không bị ảnh hưởng mấy.
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Bra-xin và Mỹ.
Chứng khoán tại Việt Nam
|

Cảnh náo nhiệt tại sàn giao dịch CK Tp. HCM, Việt Nam |
Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSTC)
Được thành lập tháng 7 năm 2000, là một đơn vị trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và quản lý hệ thống giao dịch chứng khoán niêm yết của Việt Nam, đặt tại 45-47 Bến Chương Dương, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, các giao dịch bắt đầu từ ngày 28/07/2000. Chỉ số giá cổ phiếu trong một thời gian nhất định (phiên giao dịch, ngày giao dịch) của các công ty niêm yết tại trung tâm này được gọi là VN-Index (chỉ số giá của ngày giao dịch đầu tiên của trung tâm là 100 điểm).
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Số 2 Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội
TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động ngày 8-3-2005, ngày 14-07-2005 khai trương Sàn Giao dịch chứng khoán thứ cấp, đánh dấu một bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chỉ số của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội là HASTC- Index.
- Ngày đầu, có hai đơn vị được niêm yết: Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) và Công ty cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông (Sacom). Đến nay hai sàn Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã có 194 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 500 loại trái phiếu đang giao dịch . Trên 200.000 tài khoản đã được mở, trong đó có 4.400 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài, tăng 7 lần so với năm 2005 và 1,5 lần so với năm 2006. Có 206 tổ chức đầu tư nước ngoài đăng ký tham gia thị trường và lượng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ước đạt khoảng 5 tỷ USD.
Ban đầu, tổng sở hữu của người nước ngoài bị giới hạn 20% cổ phiếu (kế cả chứng chỉ quỹ đầu tư) và 40% trái phiếu. Tháng 7 năm 2003, nhằm nâng cao sức hấp dẫn của thị trường và thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng như tăng tính thanh khoản, Chính phủ đã nâng tỷ lệ sở hữu chứng khoán của nước ngoài lên 30% đối với cổ phiếu và hủy bỏ hoàn toàn tỷ lệ sở hữu hạn chế đối với trái phiếu. Cuối năm 2005, giới hạn sở hữu cố phiếu của người nước ngoài được tăng lên 49%, trừ đối với ngân hàng vẫn giữ là 30%. Để kiểm soát giới hạn này, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia giao dịch tại hai trung tâm giao dịch chứng khoán của Việt Nam phải đăng ký để được cấp một mã số giao dịch.
|

Vai trò của Nhà nước với thị trường CK |
Cuối năm 2006, có 35 công ty chứng khoán được cấp giấy phép. Trong số này, có 9 công ty được phép thực hiện tất cả năm nghiệp vụ chứng khoán: môi giới, lưu ký, tư vấn đầu tư và bảo lãnh phát hành, quản lý quỹ và tự doanh. Vốn điều lệ tối thiểu bắt buộc để công ty được phép thực hiện cả năm nghiệp vụ như vậy là 43 tỷ đồng. Theo Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2007, mức vốn điều lệ tối thiểu đó là 200 tỷ đồng; các công ty đã được cấp phép hoạt động trước đó được gia hạn một thời gian để tăng vốn cho đủ mức quy định.
- Cuối năm 2006, tổng giá trị vốn hóa thị trường của cả Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội là 14 tỷ USD, tương đương 22.7 % GDP của Việt Nam. Tính đến hết tháng 6 năm 2007, tổng giá trị vốn hoá của thị trường cổ phiếu niêm yết đã đạt trên 300 nghìn tỷ đồng , tương đương 20 tỷ USD, tương đương 31% GDP. Vốn hoá của thị trường trái phiếu đạt trên 80.000 tỷ đồng, bằng 8% GDP.
- Tất cả các chứng khoán niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Việt Nam là bằng đồng Việt Nam. Mệnh giá mỗi cổ phiếu (và chứng chỉ quỹ đầu tư) được quy định thống nhất là 10.000 đồng, đơn giá trái phiếu là 100.000 đồng.
- Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC), chính thức thành lập năm 1996, chịu trách nhiệm đối với việc phát triển thị trường vốn, cấp giấy phép niêm yết chứng khoán cho các công ty và giấy phép hoạt động cho các công ty chứng khoán, ban hành các quy định. Để được niêm yết, một công ty phải có lãi hai năm liên tục, có vốn điều lệ tối thiểu 5 tỷ đồng và có ít nhất 50 cổ đông ngoài công ty, nắm giữ ít nhất là 20% cổ phiếu. Các công ty liên doanh với nước ngoài về mặt kỹ thuật thì đủ tư cách niêm yết, nhưng để được niêm yết trên sàn, các công ty này phải được tổ chức lại thành công ty cổ phần. Các công ty muốn được niêm yết thì phải được một công ty kiểm toán độc lập, được chấp thuận thực hiện kiểm toán.
Nguồn:
Tạp chí Hồ Sơ Sự Kiện Số lượt đọc:
49
-
Cập nhật lần cuối:
07/12/2007 02:25:28 PM |